Hiển thị các bài đăng có nhãn Da màu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Da màu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 2 tháng 1, 2010

việt nam khai quốc: lời mở đầu (the birth of vietnam: author’s foreword)

Nguồn : Da Màu
Keith Weller Taylor
Chuyển ngữ: đinh từ bích thúy nhuận sắc

LTS: Học giả Keith Taylor hiện là giáo sư Khoa Khảo Cứu Á Châu (Asian Studies) ở đại học Cornell, New York. Ông thông thạo tiếng Việt và là cựu chiến binh đã sang đánh trận ở Việt Nam vào đầu thập niên 1970. Quyển The Birth of Việt Nam (Việt Nam Khai Quốc) được thành hình từ luận án tiến sĩ của ông (hoàn tất năm 1976 tại đại học Michigan), dựa trên những khảo cứu của rất nhiều tài liệu Trung Hoa, Nhật Bản, và Việt Nam, cùng những bằng chứng từ những địa thế được khai quật vào giữa thế kỷ 20. Ông sắp ra mắt quyển A Concise History of Vietnam (Lịch Sử Việt Nam Tóm Lược (Cambridge University Press). Gần đây, ông đã xuất bản tuyển tập biên khảo/nhận định Monde du Viet Nam (với Frédéric Mantienne) để tỏ lòng thành đối với Giáo sư Nguyễn Thế Anh (Paris: Les Indes Savantes, 2008).

Bác Nguyễn Lê Vỹ, thân hữu của Da Màu, đã mua bản quyền tiếng Việt của quyển Việt Nam Khai Quốc từ vị dịch giả hiện không muốn để tên trên bản dịch. Sau khi được sự chấp thuận của học giả Keith Taylor trong việc phổ biến bản dịch trên mạng, bác Nguyễn Lê Vỹ đã trao tặng Da Màu toàn bộ bản quyền tiếng Việt. Da Màu xin trân trọng cảm ơn bác Nguyễn Lê Vỹ.

Những chương trong quyển Việt Nam Khai Quốc sẽ được biên tập và lần lượt đăng tải trong mục học thuật của Da Màu.




Share/Save/Bookmark

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2009

lời tựa cho thân phận ma trơi của Nguyễn Thụy Long

Nguồn : Da Màu
Uyên Thao

red than phan ma troi

Năm 1987, sau khi ra khỏi tù và hết hạn quản chế, tôi bắt đầu gặp lại một số bạn cũ, phần đông do tình cờ. Và người chủ động tìm tới trong đó có Nguyễn Thụy Long. Long tới nhà tôi vào dịp cuối năm để cho tôi một chiếc bánh chưng vì biết loại thực phẩm này nằm ngoài tầm tay tôi. Long cũng là người đã tìm gặp vợ con tôi khi anh ra khỏi tù và đã viết vào trong tù cho tôi mấy chữ. “Cứ yên tâm về vợ con mày. Tao đã tới nhà và rất mến phục bà xã mày”.
Long viết mấy chữ đó trên bao thuốc Đà lạt gửi cho tôi qua một người quen đi thăm nuôi chồng.
Sau khi tới cho tôi chiếc bánh chưng, Long biến mất.

Thỉnh thoảng nghe vài người nhắc tới cảnh lặn đận của Long, tôi cũng chẳng lưu tâm, vì bản thân tôi đã dư loại chuyện này. Một thằng cháu phát biểu khi gặp lại tôi: “Những người như chú không thể bắt kịp xã hội hiện nay. Lúc này đừng nói chuyện lương tâm mà phải tìm ra cách cắn xé người khác, nếu còn muốn mở mặt với đời”. Tháng 4.75, thằng bé tròn mười bốn tuổi và khi nói với tôi câu đói nó đã là một kẻ từng trải có mười hai năm đối mặt tới cuộc sống của quê hương.

Rồi tôi lại gặp Long.

Sau nhiều năm trôi nổi mưu sinh, tôi trụ lại với một việc tương đối gần gũi sinh hoạt chữ nghĩa. Cái vốn ngoại ngữ lôm côm chữ còn chữ mất của tôi vẫn có người muốn dùng nên tôi được mướn dịch những bài báo ngoại quốc về cách trang điểm phấn son của nữ giới, cách xào nấu các món ăn, cách giao tế sao cho vừa lòng thiên hạ. Công xá không nhiều nhưng đủ giúp gia đình tôi tránh khỏi cảnh cơm ăn cách nhật như mấy năm đầu tôi ra khỏi tù. Việc làm này tự giúp tôi tiến thêm một bước là ngồi gõ máy thuê, tạo dịp cho bạn bè lui tới. Hai người thường gặp tôi là Thế Phong và Thanh Thương Hoàng, dù tôi đổi chỗ ở như cóc nhảy. Thanh Thương Hoàng tỏ ra ngán ngẩm cho cái thân phận “Làm đầy tớ thiên hạ” của tôi như anh vẫn nói nên thỉnh thoảng ghé qua dắt tôi đi chích một mũi thuốc xổ, hoặc mua cho vợ tôi một con gà, một miệng thịt để cũng có chất bồi dưỡng. Thế Phong có lẽ ngậm ngùi trước cảnh mỗi buổi sáng tôi chỉ có một chén cháo trắng hoặc một chén cơm nguội nên lâu lâu lại bất ngờ xuất hiện thật sớm dắt tôi đi ăn phở.

Rồi một hôm, Long xuất hiện cùng Thế Phong. Anh đưa ra một xấp giấy, nói:
- Đánh giúp tao. Công xá bao nhiêu, tao thanh toán đủ.

Mấy ngày sau, Long trở lại một mình, lầm lì trao cho tôi một tập bản thảo. Anh ngồi xuống ghế nhấc cặp kính ra lau bằng mấy ngón tay. Trong khoảnh khắc đó, tôi nhớ lại hơn mười năm trước, khi chúng tôi ở chung trên tù. Những ngày nghỉ lao động, tôi thường ngồi bên bàn cờ từ sàng sớm và gần như lần nào cũng vậy, tôi chưa chơi xong một văn, Long đã lù lù hiện ra hết hàm, nói cực ngủn:
- Đi mày!

Thuở đó Long có cái tên “Long mù” và được đám tù trẻ gọi là chú, là bố. Tới giờ này, tôi chưa tìm ra lý do khiến đám trẻ xưng hô với Long như vậy trong khi tất cả đều gọi tôi bằng anh, dù tôi hơn Long 5 tuổi. Long may mắn không rơi vào cùng đội với tôi là thỉnh thoảng vẫn được thăm nuôi nên ngày nghỉ có thể kéo tôi qua chỗ anh nhâm nhi vài hớp cà phê. Những dịp đó, Long thường rỉ rả với cách nói nhát gừng kể về những hoạt cảnh luôn hiện lên trong trí anh, lúc cửa phòng giam khóa lạii lào buổi chiều. “Hơn sáu chục thằng tù lăn kềnh trên những tâm ván sần sùi vỗ bụng lạch bạch đua nhau đánh rắm tùm lum”. Anh nhăn mặt nhắc tới con vẹt ở trạm xá “chỉ biết nói độc hai tiếng khắc phục” và chấm dứt câu chuyện bằng một lời chửi thề. Tôi thường ngồi im, nghĩ đến cảm giác Long có. Long nói chậm, đôi lúc tựa hồ run giọng, nhưng cặp mắt lờ đờ của anh loé sáng từng chập.

Lúc trao xấp bản thảo cho tôi, mắt anh cũng chợt loé sáng như vậy. Rồi vẫn bằng cái giọng nhát gừng, anh nói:
- Bây giờ tao thấy chỉ có mình mày thôi, chỉ mình mày là hiểu về tao hơn hết, nên tao muốn mày viết cho tao một bài giới thiệu tập truyện này. Muốn viết thế nào thì viết.

Đề tài của chúng tôi tức khắc rời khỏi chữ nghiã và như lệ thường tôi ngồi nghe Long nói. Anh kể những điều từng trải khi sống trong gian chuồng heo ở khu Tân Phú, rồi nhắc việc gặp một người bạn từ ngoại quốc về thấy cảnh sống của anh đã ngỏ lời muốn chăm sóc giúp đứa con nhỏ. Anh tả nỗi vui khi tưởng tượng đứa con trai được ăn no mặc ấm, được cắp sách sách tới trường, dù anh rất khổ sở vì phải xa nó. Thế rồi bất chợt anh chửi thề, mặt đổi sắc hầm hầm. Anh đưa cả hai cánh tay ra trước ngực như sắp lâm trận đâm đá, giọng trở nên khó nghe:
- Nếu là mày, tao chắc mày đã đấm vào mặt nó. Tao phải cố dằn, chỉ nhắc nó đừng bao giờ trở đi tìm tao nữa.
Thì ra sau phần mở đề bằng tình cũ nghĩa xưa, mấy hôm sau người bạn trở lại, đưa ra một tờ giấy viết sẵn bảo anh ký tên xác nhận tự nguyện cho con. Anh hậm hực kết luận:
- Nó chó má đến mức để trống tên người nhận nuôi đứa nhỏ. Nó đang làm cai trò buôn trẻ nít.

Tôi nghĩ Long còn may hơn tôi vì vẫn phát bẳn được. Từ lâu bạn bè thường chê tôi không nết xã giao, lúc nào cũng lầm lầm lì lì, lời lẽ nói ra như đấm vào mặt người nghe. Nhưng lúc đó tôi chỉ thấy mệt mỏi. Tôi không nổi cục được nữa. Mức độ chua xót và nhờm tởm đã biến tôi thành một kẻ dửng dưng.

Dù thế, trước mắt tôi vẫn bừng dậy hàng trăm mảnh đời hàng trăm khuôn mặt mà tôi từng gặp. Tôi nhớ lại ngày 1.5.75. tôi phải ráng sức nhấc bổng chiếc Honda để tránh lăn bánh qua xác một người lính Biệt Động Quân nằm úp ngang mặt đường trên cầu Thị Nghè trong lúc cả thành phố đỏ rực cờ! Một tuần sau đó, tôi bắt gặp một hình ảnh mới của thành phố Sài Gòn vừa đổi tên là những phụ nữ chùm khăn kín đầu, chân trần, quần xắn ngang đầu gối, rạp mình trên những chiếc xe ba gác chất đủ mọi thứ chổi cùn chiếu rách. Tại sao những phụ nữ kia lại gắn mình trên những chiếc yên ba gác? Họ đạp đi đâu làm gì? Tôi không biết, nhưng người nào cũng ướt đẫm mồ hôi.

Tôi chỉ trở lại Sài Gòn hơn mười năm sau nữa và hình ảnh đầu tiên của buổi tái hội là một người đàn ông cụt cả hai cành tay loay hoay len lỏi giữa bên xe mới lập gần cầu xa lộ. Tôi đang ngơ ngác nhìn quanh thì ông ta chìa phần cánh tay còn lại cho người đứng kề bên tôi. Ông ta bán vé số bằng cách buộc những tấm vé lên đầu cánh tay bị cụt ngang cùi chỏ. Tôi thắc mắc không hiểu ông ta thực hiện việc mua bán những tấm vé số cài trên mấy sợi thung quấn quanh khúc tay còn lại ra sao, vì cánh tay kia của ông ta cụt sát vai. Đang chờ để được thấy thì tôi bắt gặp ánh mắt lạnh như băng của người đọc mời mua đáp lại cái nhìn khẩn nài của ông ta. Phản ứng duy nhất của tôi là lật đật quay đi để tránh gây thất vọng cho ông ta, vì chắc chắn tôi sẽ là khách mời kế tiếp. Bộ quần áo phát cho những tên tù được thả chỉ đủ đổi lấy tấm vé xe đưa tôi về đây và tôi còn chưa tính xong khoảng đường cuốc bộ vào thành phố. Trong bóng tôi chập choạng lúc ngày tàn. Tôi bước đi với ý nghĩ hỗn loạn về cảnh sống của con người và về cái cách con người nhìn nhau. Sau hơn mười năm cách biệt tôi đã gặp lên Sài Gòn, nhưng là một Sài Gòn xa lạ, thảm não, lạnh lùng. Tôi thấy mình lạc lõng, bơ bơ là nổi da gà khi nghĩ tới ngày mai.

Cảm giác này bừng sống lại khi tôi đọc truyện Nguyễn Thụy Long. Bóng tối chụp xuống là tôi cứ lòng vòng giữa một vùng nhầy nhụa, hôi thối với tâm trạng căng thẳng. Không một tia sáng nhỏ loé lên không một điểm tựa cho tôi bám víu. Trong tối tăm ngột ngạt, tôi chỉ thấy ở khắp nơi những con người khô đét như cây khô, nổi bạt hai hố mắt với cái nhìn đờ đẫn vô hồn. Những con người này khi thì bám lấy nhau, khi lại nhào vào nhau như một bầy chó đói giành mồi trên lớp bùn đen quánh của con kinh len lách dưới những cây cầu thành phố, trên những đống rác ruồi nhặng bay như ong vỡ tổ ở các góc đường Trương Minh Giảng, Nguyễn Thiện Thuật và giữa những nghĩa địa đang bị đào xới lổn nhổn gạch non, nồng nặc xú uế. Tôi không xua nổi hình ảnh từng đám đông bu quanh những tấm ni lông đựng các đống xương nhám nhúa nặng mùi mới vét lên từ lòng mộ, dưới cái nắng như đổ lửa, mà quơ múa tay chân đe dọa lũ chó đói lởn vởn xung quanh vừa ồn ào trả giá một tấm bia, một chiếc túi nhựa bọc xác, một sợi dây lưng chưa mục của người chết. Đó cũng là thế giới văn chương của Nguyễn Thụy Long, thế giới văn chương không có gió mát, ào màu, không có những nụ cười e ấp. Ngay cả lời ca cất lên ở đây cũng chỉ là âm vang ai oán khơi nguồn cho những dòng nước mắt, những cảm giác nhức nhối.

Chính Nguyễn Thụy Long đã tâm sự là vẫn mong có những tác phẩm đem lại cảm giác nhẹ nhàng, thanh thoát cho người đọc, nhưng biết làm sao, khi văn chương không thể tách rời cuộc sống? Hơn một lần tôi nghe Long nói về điều này, rồi anh nhấc cặp kính ra, đưa mấy ngón tay lên mắt. Có thể anh chỉ làm cử chỉ ấy cho con mắt đỡ ngứa, nhưng tôi luôn nghĩ anh đang cố chặn một dòng nước mắt. Cuộc sống hàng ngày của Long, của tôi, của những người đang có mặt ở đây đã bó tay người cầm bút khi muốn vẽ một cảnh ấm áp, hiền hòa. Đối diện tới sự thảm khốc thì sự đọa đầy chỉ là sự tàn nhẫn vì háo hức “mở mặt với đời”. Từ những ổ phế liệu xác xụa hôi thối trong vùng Tân Phú, Bình Hưng Hòa tới những tòa nhà cao ngất giữa trung tâm thành phố luôn sáng lóa ánh đèn xanh đỏ tím vàng khó tìm thấy thứ gì khác, ngoài những trái tim quắt queo vì roi đòn của thực tế hoặc vì những mê loạn của bản thân.

Tôi lại nhớ vẻ mặt hãi hùng của một người tù K.3 vào dịp cả nước chào mừng một ngày kỷ niệm lớn. Người tù là một nhà sư được gọi bằng cái tên thật Nguyễn Tiên Khánh đã đưa cả hai tay lên che mặt không nhìn phần đồ ăn đặc biệt nhân dịp này, do trại giam tặng cho tù, vì ba miếng thịt heo kho lớn cỡ ngón tay cái. Vừa bưng mặt quay đi, Nguyễn Tiên Khánh vừa la thất thanh: Không, không ăn được! máu đó, máu đó!”

Tiếng kêu hốt hoảng của Nguyễn Tiên Khánh luôn vang lên trong đầu tôi hai chục năm nay khi tôi nghĩ đến thực tế xung quanh. Tôi không dập nổi ý nghĩ bên cạnh những con người đang cạn máu vì mọi lý do, là những kẻ say sưa uống máu đồng loại. Bằng mọi cách, trò uống máu diễn ra dưới trăm ngàn hình thức với nhịp độ tiếp nối không ngừng và quê hương chúng ta dường như càng lúc càng vắng bóng người. Trước mắt tôi hiện ra hình ảnh một thiếu phụ sang trọng đi bên chồng với nụ cười thỏa mãn và ánh mắt kiêu kỳ ngó xéo trên đầu một kẻ mạt rệp ngồi lọt giữa đống xương bò heo trâu chó nhớp nhúa chất cao như đụn rạ trên mặt nền xi măng nóng hầm hập ở một góc nhà kho bên chợ Cây Thị. Kẻ mạt rệp đó là tôi đang chùi rửa những lóng xương cho một cơ sở chế biến thức ăn gia súc để có bữa cơm trưa. Dán mắt vào những lóng xương nhầy nhụa hôi thối, tôi nhớ tới nét mặt kinh hoàng của vợ tôi khi kể lại cách vượt lên của một thiếu phụ. Chị ta đã dắt đứa con gái gần năm tuổi ra mé sông vắng dìm cho chết, thả xác trôi theo dòng để trở thành người phụ nữ “cô đơn” như lời chị ta mô tả với người đàn ông đang theo đuổi mình. Tôi thấy câu nói của thằng cháu chưa diễn tả được bao nhiêu, khi nghĩ tới những người biết rõ chuyện đó, kể cả những người nhìn tận mắt nhưng không có hành vi nào khác một thoáng hoảng hồn rồi lạt đật bỏ chạy, miệng ngậm chặt như bị xiên lình. Người ta đã quen với nếp sống hồn ai nấy giữ, xác ai nấy lo.

Tôi đang sống ở đâu là giữa bầy lũ nào đây?

Một hình ảnh khác bỗng nhiên lên. Đó là hình ảnh con chó xác xơ với khung sườn nổi u như nắm que củi, chạy xiêu vẹo quanh mấy ngọn đồi ngoài vòng rào trại tù, ráng sức chồm táp mấy con cào cào. Đám tù trong đội tôi đều biết con chó. Nhiều tay đã mơ có thể bỏ nó vào nồi. Riêng một tay tù trẻ sau nhiều ngày quan sát chợt lên tiếng chửi đổng:

- Mẹ kiếp, tới cái mức cứt cho chó ăn cũng không còn!
Đúng là con chó đói lắm, nhưng đã hơn một lần tôi bắt gặp nó nằm dài dãi gốc xoài bên đường, dạng háng cho hai con chó con rúc nhay nhay cái vú teo nhếch như giẻ rách. Nó không kiếm nổi “cứt để ăn” là nó chỉ là chó, nhưng nó không cắn xé con và vẫn cố nuôi con bằng cái thân xác héo tàn.

Tôi đang nghĩ gì đây?
Dường như tôi chẳng nghĩ gì mà chỉ tự nhiên gợi lên những hình ảnh nằm trong ký ức.

Nguyễn Thụy Long đã vẽ lại thế giới đó của chúng tôi với nguyên màu sắc cho thấy không ít kẻ đã bằng lòng xóa tiêu cái mức nhân tính còn sót lại, vì sự tồn tại của nó ở nơi đây chỉ có tác động cào xé tan nát thêm cơn tim đã tan nát trăm bề. Dễ gì sống với tim óc con người giữa bầy thú đói! Nhưng Long không chỉ vẽ lại mà vật vã vô vọng giữa thế giới đó. Qua từng dòng, từng chữ của Long, tôi luôn bắt gặp nét giễu cợt, lời lẽ bông lông bất cần mọi sự, những chập chờn ẩn hiện ở phía sau là nỗi đau xé ruột và tiếng than nghẹn uất.

Thằng lưu manh cố lột cái quần của con điếm đứng đường khách, thằng đàn ông què giò uốn bẻ chân tay đứa cơn sơ sinh cho thành dị dạng để tạo một “cục vàng” trong nghề ăn mày, tay cán bộ cách mạng nhiệt tình không chịu nổi một bà già còm cõi thờ tâm hình đứa con trai con là lính nguỵ đã chết từ lâu… trở thành cơn vật vã với thực tế và chữ nghĩa của Long, làm dấy lên những day dứt khó tả nổi về cuộc sống, về con người, nỗi day dứt do tuyệt trọng pha lẫn hờn oán, xót thương.

Tại sao Long phải vật vã đau đớn để dấy lên nỗi day dứt như vậy? Từ lâu, tôi thường nghĩ mỗi người có mặt trên đời đều gắn chặt vào một nghiệp dĩ. Long cũng thế thôi. Anh ra đời với điều kiện bẩm sinh không thể xa rời nghiệp dĩ văn chương. Cái không may của anh là phải sống trong thời kỳ con người bị bóp nghẹt, bị ngược đãi, bị biến dạng thành hoang thú. Ai còn ý thức mình đang là người mà thoát khỏi bị dằn vặt khi đối mặt với những mưu tính, những hành vi, những xu hướng tước đoạt mọi điều kiện tối thiểu để tồn tại của con người?

Có phải tôi đang biện bạch cho thái độ sáng tác của Long trước thói quen chẻ xác văn chương theo những ý nghĩ chủ quan?

Người ta sẽ soi mọi màu kính lên tác phẩm của Long để thấy là vàng, là đỏ, là trong, là đen. Người ta sẽ ban cho nó những cái tên hiện thực, tượng trưng hoặc gì gì đó để chứng tỏ trí tuệ của mình. Người ta sẽ xưng tụng nó là tiếng nói chính nghĩa, là văn chương phản kháng hoặc kết án nó là đồi trụy, phản động, đi ngược khuôn vàng thước ngọc của văn nghệ cách mạng để biểu dương ý chí đấu tranh hừng hực.

Tôi thấy những trò đó chẳng đáng gì trước thực tế mà cây bút thẳng tay Nguyễn Thụy Long ghi lại. Những trò đó cùng những con người đó cũng như tất cả những kẻ đang thét mưa gọi gió, những kẻ đang lăng xăng đồng hóa với chính nghĩa đều chẳng đáng gì trước cơn dãy dụa hiện nay của con người. Khi xã hội như cỗ xe đang tao xuống vực thẳm thì chẳng loại người nào, chẳng vấn đề nào trên xe lớn hơn một hạt bụi.

Chắc chắn Long chẳng cần biện bạch và cũng chẳng cần ai biện bạch giùm. Anh bị cột vào nghiệp văn chương và chỉ cố làm phần nào công việc của mình trong ý thức và trong cả nỗi đau về cái thân phận nạn nhân đang bị xô xuống đáy vực. Đúng như Long vẫn nói, dù tha thiết mong muốn, anh không thể viết khác. Vì văn chương không thể tách rời thực tế, vì thực tế bao giờ cũng là thực tế không thể đổi trắng thay đen bằng bất kể cách nào, bởi bất kể lý do nào.

Thêm nữa, chắc chắn anh cũng không nghĩ ngợi mảy may về màu sắc văn chương và không có một giây so đo về mức độ Việt Nam tính, thế giới tính hay giai cấp tính, cách mạng tính trong tác phẩm của mình. Điều đó chỉ cần thiết cho trò chơi chữ nghĩa vì những lý do nằm ngoài đòi hỏi của văn chương chứ chẳng ăn nhập gì tới việc sáng tác văn chương. Long đã viết bằng cảm xúc của một nạn nhân bị dập vùi, viết về những thân phận bị dập vùi và viết bằng ý tình chân thật của một con người chưa biến dạng. Có lẽ Long cũng chẳng mưu cầu điều gì ở tác phẩm của mình ngoài hy vọng khơi gợi một nỗi đồng cảm nơi tất cả những người còn là người đang có mặt trong cuộc sống, bất kể là ai và bất kể ở nơi đâu.

Riêng tôi, để chấm dứt những ý nghĩ lan man dấy lên khi đọc truyện của Long, tôi mong không bao giờ còn phải gặp những thân phận ma trơi, những bà mẹ sương sa, không bao giờ còn phải nghe Diêm Vương phán “mọi hình phạt lóc thịt lột da, chặt đầu, cắt cổ, đun nấu trong vạc dầu nơi địa ngục đều không sánh nổi với việc trả bị cáo về làm người trên trần thế.”

Sài Gòn tháng 6 – l999



Share/Save/Bookmark

Người xây lò

Nguồn : Da màu
Nguyễn Thụy Long

Tôi không nhớ ai là người giới thiệu cho tôi vào làm việc ở công ty thủy tinh. Hiện tôi là một công nhân viên thuộc công ty. Một công nhân viên không biên chế, nghĩa là một anh cu li, nếu nói theo thời thực dân tôi là một thằng cu li hạng bét. Có được việc làm thời mới giải phóng miền Nam là may mắn rồi, bao nhiêu người thất nghiệp, hoặc bị ngưng việc ngang, công việc làm không thích hợp hoặc chưa thể thích hợp được, vì chưa được học tập đường lối chính trị của nhà nước. Nhưng lao động là vinh quang, lang thang là chết đói, hay nói thì ở tù. Khẩu hiệu khuôn vàng thước ngọc đã đề ra như vậy, đừng có lôi thôi. Anh làm bất cứ nghề gì, miễn là có việc làm, lại được cơ quan nhà nước chứng nhận là công nhân viên, lương hướng dù không đáng bao nhiêu, nhưng cũng đáng kể đấy. Người không chê việc mà việc không chê người. Đừng có ỷ ôi lựa chọn, kiểu việc này thích hợp, kiểu việc kia không thích hợp. Mọi con người bình đẳng. Hình như hiến chương Liên Hiệp Quốc đã ghi, bác Hồ đã nói trong tuyên ngôn độc lập như vậy. Người ta sẽ tìm ra ngọc trong đá thôi. Anh có thể trả lời với nhà cầm quyền ở phường anh là người lao động có cơ sở chứng minh, không ăn bám ai cả, công an và mấy vị chức sắc ở phường để anh yên thân, anh không bị đòi lên Công An phường làm kiểm điểm vì tội chây lười lao động, hoặc anh bị tống đi làm thủy lợi đào kinh vét mương, tự anh lo lấy miếng ăn cho anh, đuổi khỏi nhà anh cho đi xây dựng vùng Kinh Tế Mới, một công việc được coi là ăn cơm nhà vác ngà voi. Không chấp hành thì anh phải trốn chui trốn nhũi ra chợ trời buôn gian bán lận. Tất cả đều là quốc doanh. Ắn tô phở phải mua phiếu, phải đứng xếp hàng chờ cả tiếng đồng hồ, đồng một loạt phở bò lèo tèo mấy tiếng thịt chín, nước lèo lạt thếch, đục ngầu ngầu, lại phải tự hầu lấy mình, bưng tô lấy đũa. Ôi còn đâu thuở ăn phở tái chín nạm gầu, nước béo hành trần, tương ớt rau giá ăn thả cửa. Thuở đó cách nay không lâu, nhưng cũng coi như lâu lắm rồi. Một kỷ niệm khi nghĩ đến khiến chảy nước mắt, nhưng chỉ nên khóc thầm thôi, anh khóc thật thì bị mang tội phản động đấy, liệu cái thần hồn. Tư tưởng anh lệch lạc anh có thể được đi học tập cải tạo mút mùa Lệ Thủy, khi nào anh học tập tốt nhà nước khoan hồng cho anh về sum họp với gia đình. Anh chọn cách sống nào thì chọn, tôi chọn làm thinh.

Lao động suốt tám tiếng đồng hồ một ngày, tôi đẩy hàng mấy chục xe thủy tinh vỡ bể vào nhà kho cho mấy chục nữ công nhân lựa chọn, mầu thứ nào ra thứ nấy. Tiếng bánh xe sắt ở chiếc xe cút kít tôi đẩy nghiến trên đường cót két như một điệp khúc buồn nản. Cán bộ chấm công đứng dọc đường đi miệng quang quác hối thúc, động viên:

"Khẩn trương, khẩn trương nên, không được nề mề, vượt chỉ tiêu nào…”

Anh ta chính là cai cu li, trên tay chỉ thiếu cái roi quất cu li túi bụi, nhưng đủ khiếp rồi, lời anh hót còn sót sa còn hơn roi vọt. Chớ ngu dại mà gọi anh là cai cu ly, mang họa đấy. Phải gọi anh là trưởng ban thi công cho ra vẻ cách mạng. Cũng đừng gọi anh ta là "đại ca" xách mé giang hồ kiểu Đơn Hùng Tín của người miền Nam. Tốt hơn hết là làm thinh, mặt mũi ngu độn một chút cho hợp thời. Ngu độn thôi chứ đừng làm mặt khổ. Không ai chấp nhận cái mặt khổ của anh, có cuốn sổ chấm công, giá một xu một xe đẩy đầy có ngọn. Cũng chẳng thiếu gì người vượt chỉ tiêu, được phong anh hùng lao động. Thèm một đĩa cơm bình dân đầu đường ghê, mà tôi không mua nổi. Cơm cũng phải bán "chui" ngoài cửa xí nghiệp. Ly cà phê bắp rang cháy cũng vậy. Cũng bán chui. Tôi không dám ăn uống thứ lương thực xa xỉ ấy. Bữa cơm trưa của tôi là mấy củ khoai lang sùng đắng nghen nghét và bình nước lạnh mang theo. Khoai mẹ tôi phải đứng xếp hàng mua ở tổ Hợp Tác Xã phường. Không có tên trong sổ lương thực, anh phải có tên trong hộ khẩu. Cái tên đó có thể bị gạch xóa đi bất cứ lúc nào, nếu anh bị ghét bỏ, phường không chịu quản lý con người anh nữa thì bỏ mẹ. Không khí hãi sợ trùm lên tất cả mọi người. Tôi ở tuổi 40 rồi, sức lao động cũng kém đi, chưa bao giờ tôi đạt chỉ tiêu qua những chuyến xe đẩy thủy tinh vỡ. Tôi là nhà văn tự gác bút, mấy anh bạn đồng hành đẩy xe với tôi, người là luật sư, dược sĩ, người là nhà giáo "mất dậy", thay phiên nhau đứng hạng bét, dù cố gắng thế nào cũng không đạt chỉ tiêu trên đề ra, chứ chẳng mong gì đạt chỉ tiêu hoặc vượt chỉ tiêu. Anh hùng lao động chỉ là điều mơ ước, khó còn hơn làm luận án thi tiến sĩ.

Con đường chúng tôi đi từ cổng vào đến nhà kho, lẩn thẩn mà tính ra cũng phải đẩy xe cả trăm cây số mỗi ngày. Thuở mới đổi tiền, từ tiền Ngụy sang tiền Cách Mạng, tỉ lệ một ăn mười. Đồng tiền không vàng bảo chứng cũng quí giá vô cùng. Tìm ra nó khó ngàn lần vào rừng ngậm ngải tìm trầm.

Giờ nghỉ giải lao buổi trưa chỉ có một tiếng đồng hồ vừa ăn vừa nghỉ. Bình nước ni lông tôi mang theo uống từ sáng đến giờ đã hết, tôi ra bể nước vục bình xuống múc. Cái bình chứa hơn phân nửa nước vẫn nổi lềnh bềnh trong bể. Tôi nghịch ngợm nhấn chìm xuống, thả tay ra, cái bình vẫn nổi lên như cái phao. Nghĩa là bình còn một phần không khí chứa bên trong thì cái bình vẫn nổi. Có một người đang đứng nhìn tôi nghịch ngợm, anh kỹ sư xây lò của công ty. Nghe đâu anh ta là người chế độ cũ, làm việc ở công ty này lâu năm, nay được cách mạng lưu dùng (lưu dùng chứ không phải lưu dụng). Hành động đùa nghịch của tôi giờ nghỉ nên sẽ không bị khiển trách hay phê bình. Anh đứng xem tôi nghịch ngợm, rồi nở nụ cười, buột miệng nói:

"Cám ơn nhà văn, anh đã cho tôi ý tưởng hay."

Tôi ngừng chơi, tròn xoe mắt nhìn anh, không nói được mà chỉ há hốc miệng. Một lát sau tôi mới lắp bắp chối:

"Không anh nhầm rồi tôi là… là cu li, không, công nhân viên."

Anh kỹ sư vẫn cười:

"Thôi đừng chối nữa, tôi biết mà, tên anh có trong kia, tôi không lạ gì anh, tôi từng là độc giả của anh. Tôi không phải công an, đừng lo. Anh ăn cơm chưa?"

Tôi hoàn hồn, lắc đầu:

"Không ăn được, mấy củ khoai sùng đắng nghét."

"Vậy tôi mời anh ra cổng ăn đĩa cơm bình dân chui với tôi, uống ly cà phê bắp rang."

Tôi toan từ chối, nhưng anh đã thân mật vỗ vai tôi:

"Đừng từ chối, tôi người Nam, thật tình đó."

Thế là tôi với anh cùng nhau ra cổng. Đĩa cơm chui rưới nước mắm ớt, đậu que xào loáng thoáng mỡ, "chạy qua" hàng thịt mà ngon lành làm sao. Xong bữa cơm anh lại mời tôi qua đường uống cà phê đen, đường tán cạo ra xúc được nửa thìa vừa đắng vừa thiếu ngọt, hút điếu thuốc rê vấn sẵn.

Anh kỹ sư chẳng thèm hỏi đến thân phận cùn mằn của tôi bây giờ ra sao, có lẽ anh cũng thừa biết rồi. Anh hỏi tôi:

"Mấy ngày hôm nay anh có thấy những phái đoàn đến thăm cơ sở của ta không?"

"Có, đi xe ô tô con, có vệ sĩ đi hộ vệ nữa."

Anh hớp một miếng cà phê đắng nghét, nhăn mặt:

"Cho thêm tí đường đi, đắng quá."

Cô hàng cà phê xúc cho thêm tí đường tán cạo, anh kỹ sư có vẻ hài lòng, không còn xin thêm chất ngọt nữa.

"Còn hơn là uống cà phê quốc doanh, đắng xin thêm tí đường mà sợ bỏ mẹ. Thằng bảo vệ nhìn mình chằm chằm như muốn ăn tươi nuốt sống. Đừng coi thường chúng nó, chúng có thế có quyền đấy, có ô dù che chắn."

Tôi đồng ý với anh, vì tôi từng thấy cảnh này. Anh kỹ sư như chợt nghĩ lại chuyện các phái đoàn đến công ty. Anh nói:

"Toàn những cấp lớn, phái đoàn bự."

"Họ tới chi vậy?"

"Tới vì việc xây lò nấu thủy tinh, xem bản vẽ thiết kế xây lò của tôi."

"Vậy hả, chính anh là người thiết kế xây lò?"

"Ờ chính tôi, tôi đã làm việc này nhiều năm, có tay nghề."

"Mừng cho anh."

Anh kỹ sư gắt lên:

"Mừng cái mẹ gì, tôi đang lo này."

"Lo gì?"

"Chuyện lắm thầy thối ma như thế nào tôi không biết sao. Đúng là lắm thầy thối ma, nhiều cha con khó lấy chồng. Ông nào cũng to cũng có quyền hết. Tôi giải thích, thậm chí lấy chuyên môn ra lý luận cũng không xong. Tôi mang tiếng là cãi lệnh cấp trên, chống đối lại ý kiến xây dựng của lãnh đạo. Tôi đành phải chiều theo ý kiến xây dựng của họ. Nhưng tôi yêu cầu họ ký tên vào sự sửa đổi ấy ngay dưới bản vẽ, vị nào cũng xin hoàn toàn chịu trách nhiệm. Tôi không thể làm ngần ấy cái cửa lò trong một cái lò. Tôi sẽ lấy ý kiến cuối cùng, ý kiến ấy mới có ở phái đoàn sáng nay. Tôi biết sẽ thất bại, sẽ không ổn nhưng cũng đành phải nghe theo thôi. Lò sẽ nổ tung hay xụp đổ vào ngày khánh thành, đốt lò. Khi đó chẳng ai chịu trách nhiệm hết ngoài thằng kỹ sư xây dựng lò là tôi. Vứt đi hàng bao nhiêu ngàn viên gạch chịu nóng, loại gạch đặc biệt phải mua của nước ngoài giá đến mười đồng mới đổi một viên chứ có ít đâu, chưa kể phải kê giá lên cao theo lệnh cấp trên.

Tôi há hốc miệng nghe anh kỹ sư tả oán. Tôi không có ý kiến gì, vì tôi dốt đặc cán mai về nghề xây lò. Tôi dụt dè hỏi anh kỹ sư:

"Anh đã có cách nào thoát khỏi ‘kiếp nạn’ này chưa?"

Anh mỉm cười gật đầu:

"Có rồi, mới trưa nay thôi, khi nhìn anh đổ nước vào bình."

Trời đất ơi, tôi có liên quan gì đến chuyện này, tôi thầm kêu lên như vậy. Nhưng anh không giải thích cho tôi, anh quay sang một chuyện khác:

"Tôi có một người bạn làm thợ máy không quân. Sau giải phóng anh chạy không kịp nên được lưu dùng, làm việc tại phi đoàn trực thăng, vẫn công việc sửa máy bay của anh ta xưa kia. Ai cũng nói anh được may mắn, có công việc làm, không phải đi học tập cải tạo. Một ngày kia, anh nhận thấy loạt bu gi của máy bay đã hết hạn xài, vì thứ đó cần được thay thế vì đã xài đến hằng ngàn giờ bay rồi, phải liệng đi thôi, thay thế cái mới. Kho tiếp liệu lại hết đồ, anh đành lên báo cáo với tân chỉ huy trưởng phi đoàn. Chỉ huy trưởng không giải quyết chuyện này mà chỉ ra lệnh vắn tắt: "Khắc phục! Anh cạo bu gi, mài lại vít lửa, báo cáo với tôi làm gì, rồi chờ Liên Xô viện trợ thì thay thế. Anh cứ thi hành lệnh của tôi, tôi chịu trách nhiệm. Anh không làm thì có người của chúng tôi làm, anh có thể xin nghỉ việc, không phải chỉ anh mới là người giỏi, tôi không thể bao che cho anh mãi được, cách mạng từng chế ra tên lửa bắn rơi được B52 của Mỹ, nữa là cái chuyện vặt này có gì quan trọng đâu". Hú hồn, anh ta làm đơn xin nghỉ việc liền, mới đây tôi gặp anh ta ngồi lề đường sửa xe gắn máy, xe đạp. Anh tha hồ cạo bu gi, phục hồi bu gi và mài vít lửa. Anh hiểu chứ, chiếc Honda đang chạy trên đường bỗng nhiên chết máy còn giắt bộ mang đi sửa được. Chứ cái máy bay đang bay bỗng nhiên bị tịt ngòi bu gi giữa trời khắc phục cái nỗi gì."

Dứt câu chuyện, anh kỹ sư cười hì hì:

"Tôi thì không có may mắn bằng người lính thợ bạn tôi, vì tôi không được phép làm đơn xin nghỉ việc. Mãi ngày hôm nay tôi mới tìm ra cách thoát thân, một sống một chết mà. Cùng tắc biến, biến tắc thông phải không anh. Sắp đến giờ lao động rồi, chúng ta vào thôi. Mai Chủ nhật rảnh mời anh sang nhà tôi chơi. Tôi ở Nhà Bè, tôi chỉ đường cho dễ tìm lắm. Thứ Hai này khởi công xây lò rồi.Tôi bận mất mấy ngày.

Tôi tìm nhà anh kỹ sư xây lò nấu thủy tinh ở Nhà Bè không khó, anh đã chỉ dẫn đường đi nước bước cho tôi cặn kẽ, cặn kẽ từng chi tiết, vả lại bấy giờ chưa đổi tên đường. Tôi cọt kẹt đạp chiếc xe đạp cũ rích sang nhà anh chơi. Anh đón tôi ngoài cửa nhà cười toe toét. Căn nhà của anh là một chiếc bè, thả nổi trên sông, neo ngay cạnh bờ, lối lên xuống là chiếc cầu gỗ vững chãi, nhưng cũng tiện lợi, có thể điều khiển được, rút cầu lên, chiếc cầu ở trên bè, bởi vì anh ta là một người khoa học, hình như chiếc bè ấy còn di chuyển được. Tôi nhìn thấy một cánh buồm cuốn lại, không biết còn máy móc gì khác không. Trước mắt tôi là một căn nhà gỗ đơn sơ nhưng khá vững chắc. Đời sống của con người này, một vợ và một con nhỏ có vẻ bụi đời. Nhưng thực ra chẳng bụi đời tí nào, khi vào hẳn căn nhà của anh tôi mới rõ. Một căn nhà đầy đủ tiện nghi, có máy phát điện riêng, cầu tiêu buồng tắm, bếp núc, kho chứa lương thực nước ngọt. Tôi dạo chơi thăm căn nhà anh một vòng, tôi rất hài lòng và ao ước có một căn nhà như thế, cây kiểng xung quanh nhà được trồng trong chậu sành, bè là những thân gỗ lớn, ghép lại bằng bù loong và dây xích sắt. Tôi hỏi anh:

"Sao anh lại có căn nhà này, mới đây hay từ lâu rồi?"

"Mới đây thôi, từ khi tôi bán căn nhà ở đường Trịnh Minh Thế."

"Tại sao anh phải bán căn nhà đó?"

"Nhà tôi rộng nên Cách Mạng xin vào ở chung, làm nhà tập thể, tôi không muốn sự chung chạ nào, cũng không thích tập thể, phiền lắm.

"Làm cách nào mà anh bán được căn nhà anh đang ở?"

"Một người cách mạng lớn cần một căn nhà cho phù hợp với địa vị của ông ta, tôi bán với giá bèo ấy mà, tiền bạc ấy tôi xây dựng cái bè này, làm nhà cây lên trên, vậy là cả gia đình tôi ở được. Tôi muốn di chuyển đi đâu cũng dễ, về quê chẳng hạn, cả gia đình tôi cho chạy về quê, chỉ cần nhổ neo giong buồm lên, cần thì máy đuôi tôm hỗ trợ. Miền nam mình thiếu gì sông ngòi. Cả gia đình tôi như con ốc, đi đâu mang theo cái nhà của mình, chắc ăn."

"Tại sao anh có sáng kiến ấy, nhà anh có hộ khẩu không?"

"Có chứ, hộ khẩu thành phố đàng hoàng. Sáng kiến làm căn nhà biết bơi này tôi cũng mượn ý qua một chuyện ngắn ‘Căn nhà biết đi’ đăng trên báo, cũng do chuyện đó tôi xin hộ khẩu tại căn nhà này, như nhân vật nào đó trong truyện ngắn xin hộ khẩu trên toa xe lửa bỏ hoang, vô tình toa xe lửa ấy của hỏa xa, bị kéo đi ra Nha Trang sửa chữa, thế là chủ hộ khẩu mất nhà. Trường hợp tôi thì không, tài sản này của tôi không thể mất được, vì chính tôi làm chủ hộ khẩu và chủ căn nhà. Thời buổi này gạo châu củi quế phải không, tôi vẫn sống đầy đủ đó anh, cần gạo thì tôi về nhà quê rồi lên, không lẽ người ta khám xét nhà tịch thu gạo, tịch thu đồ kho dự trữ ."

Tôi khen:

"Ý kiến anh rất hay, sống ngay trong thành phố mà anh tự do, không theo luật lệ nào hết, nhiều người ao ước như vậy mà không được đấy. Anh coi chừng bị kết tội là phản động."

"Ấy không, tôi vẫn đi họp tổ dân phố đều đặn, có điều lương thực tôi được phép mua nhường lại cho người khác thôi. Tôi là một công dân hợp pháp."

Anh kỹ sư cười với tôi:

"Hôm nay anh ở lại đây ăn với tôi một bữa cơm thịt cá, cơm trắng gạo Long An, cá tươi tôi mới lưới đêm qua, nhậu rượu đế Gò Đen, tráng miệng bằng xoài, thơm Bến Lức, để anh biết Nhà Bè là như thế nào. Miền Nam ta là xứ chim trời cá nước, đừng ép nhau quá. Tôi nguyên là gốc nông dân từ mấy đời nay, tôi không sợ đói, không cần lệ thuộc vào một thế lực nào hết. Cần lúa gạo thì trời cũng cho. Hẳn anh có nghe tại miền Nam này có loại lúa mọc tự nhiên, không phải do người gieo trồng mà trời cho. Hoàn cảnh khó khăn này tôi sẽ sống như thế đấy… Hoàn cảnh của tôi còn may mắn hơn Robinson Crusoé lạc trên đảo hoang. Tôi phải tồn tại."

Tôi tưởng chừng như đã lâu lắm mới được ăn một bữa cơm ngon như vậy. Đúng là tôi đã gặp một quái nhân, sống khắc phục trong mọi hoàn cảnh. Anh không hề than phiền về đời sống hiện tại.

Rượu vào lời ra, ly rượu đế nếp Gò Đen thơm ngon nhậu với gỏi soài xanh khô cá lóc bắt đáo để. Chẳng mấy chốc chúng tôi trở nên thân thiết, bóc ruột bóc gan ra với nhau, tinh thần tôi vốn dĩ nhiễm tinh thần người Nam Kỳ. Tôi nói với anh:

"Anh buồn gì nào, đời sống anh đầy đủ như thế này khối người thèm đấy, buồn thì anh về quê. Còn như tôi có quê đâu mà về, nay thống nhất rồi, quê tôi ở miền Bắc xa xôi, nay khác lắm rồi."

"Quê tôi ở miền Nam, nhưng bây giờ cũng vậy cả thôi, rập khuôn một mẫu mã, nhiều con người họ hàng bà con cũng đã thay đổi, không giống thời gian tôi sống và lớn lên. Họ phải sống theo thời như thế mới tồn tại được. Tôi buồn là vậy đó, tôi muốn đi khỏi đất nước này từ mấy tháng trước. Yêu quê hương thì có yêu chứ, nhưng cũng đành thôi. Tôi cứ nấn ná mãi cho đến lúc nhận lệnh xây cái lò, tưởng rằng mọi chuyện xuông xẻ, không ngờ?"

"Chính vậy, tôi có xây cái lò theo ý tôi được đâu, tức là theo kinh nghiệm chuyên môn mà tôi đã làm từ hai chục năm qua. Làm cái đếch gì cũng bị biên tập thì làm sao nổi, nó sẽ ra cái quái thai nào. Họ ngoan cố mà có giáp trụ phòng thân, tôi thì có gì, như anh vậy, anh có gì? Lần này thì tôi đi xa, mang cả vợ con đi. Tôi ở đây không toi mạng thì cũng tù mọt gông. Cũng vì công việc xây lò, tôi biết chắc chắn rằng cái lò của tôi thiết kế thế nào cũng tiêu vào ngày khánh thành. Vậy thì ‘tẩu vi thượng sách’. Dù có bao nhiêu chữ ký đi nữa, nhưng rồi khi có ‘sự cố’ xảy ra thì tôi người xây lò vẫn phải chịu sự ‘truy cứu trách nhiệm hình sự’. Biết vậy nên tôi phải tìm cách trốn đi bằng chính chiếc bè nhà tôi. Chuyện vượt biển không phải chuyện dễ, nhưng tôi phải liều thôi, tìm cái sống trong cái chết. Nói theo người miền Nam thì ‘nhất chín nhì bù’. Tôi đã lo liệu mọi thứ cho sự an toàn ‘chỉ mành treo chuông’ này, nhưng còn một thứ tôi ưu tư là lượng nước ngọt mang theo những ngày còn lênh đênh trên biển, sợ không đủ dùng. Ngày hôm qua, nhìn anh cho nước vào bình, anh nghịch ngợm, nhấn chìm mãi cái bình nước mà cái bình không đầy nước cứ nổi lên lềnh bềnh, tôi nẩy ra sáng kiến, chứa nước vào những thùng phuy, đổ vào mỗi thùng phuy chỉ 2/3 phuy thôi, gắn xuống đáy bè, khi nào dùng đến nước uống thì cứ việc bơm lên thôi, tôi an tâm ở chuyến ra đi này, dù rằng phiêu lưu đó, giao cả sinh mạng của mình và sinh mạng vợ con cho biển cả. Khi cần thì tôi chạy bằng máy, khi chạy bằng buồm, tôi hy vọng rằng tôi chỉ ra khỏi hải phận là thoát."

Anh kỹ sư có vẻ tin tưởng, anh nói với tôi rằng anh sẽ không có mặt vào ngày khai trương lò, dặn tôi tránh xa lò khi người ta đốt lò. Anh mơ mộng không, hay hoang tuởng trong một vụ thoát thân? Như gần dây có tin đồn có người đã thoát thân được bằng khinh khí cầu tự chế. Chuyện ấy có thật hay không, nhưng lời đồn đại thì um xùm trong thành phố, chốn chợ trời, có người tin và người không tin, nhưng lời đồn thì có đó.

*

Tôi không được chứng kiến và tham dự ngày khánh thành lò nấu thủy tinh, nên không được biết kết quả lành dữ ra sao, dù tôi rất muốn chứng kiến ngày trọng đại ấy. Tôi không có cái hân hạnh, vì chỉ một tuần lễ sau, tôi bị vồ ở chợ trời, do giao du với những phần tử phản động. Tôi lên trại học tập cải tạo, những năm tháng chán nản tôi cũng muốn quên đi, điều duy nhất tôi còn quan tâm là số phận anh kỹ sư và gia đình anh có thoát được không? Dù chuyện ấy rất phiêu như người thoát thân bằng khinh khí cầu, treo người trên cái giỏ cần xế, mặc cho gió đưa đi rồi hạ cánh xuống đâu cũng được, miễn là xa dời được quê hương yêu dấu. Như những người vượt biên bằng chiếc thuyền chỉ dài mười hai thước, mỏng manh như chiếc lá giữa đại dương, có thể bị sóng to gió lớn vùi lấp bất cứ lúc nào, không kể bọn côn đồ trên biển, bọn hải tặc Thái Lan mất nhân tính, đe dọa tính mạng, trinh tiết của phụ nữ. Người ta vẫn cứ ra đi, tâm niệm tất cả những người ấy đều giống nhau qua câu" tự do hay là chết". Đồng bào tôi đau khổ quá, như tôi vậy, bỗng nhiên mang thân tù tội, không biết ngày nào ra, dù rằng từ cái lồng nhỏ ra cái lồng lớn hơn.

Một ngày kia, trại học tập tôi đang ở tiếp nhật một đám tù mới từ trại nào đó chuyển tới. Tôi nhận ra một người quen, anh ba luật sư làm cu ly với tôi ở công ty sành sứ thủy tinh hồi nào. Việc đầu tiên tôi hỏi anh về số phận cái lò nấu thủy tinh, anh cho biết cái lò ấy vì xây không đúng qui cách nên nóng quá đã sụp rồi. Tác giả cái lò bị qui trách nhiệm là phá hoại và bị truy nã, vì anh ta đã trốn mất tiêu với gia đình, không biết anh ta đi đâu. Riêng tôi biết anh ta đã trốn ra biển, việc thoát được hay không, tôi không biết, vì nhiều năm sau không nghe một trường hợp thoát thân như thế.

Hai mươi lăm năm đã trôi qua, một phần tư cuộc đời.

Ấp Đông Ba, cuối năm 2001.


Share/Save/Bookmark

Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2009

Lynh Bacardi, truyện “Hậu sản” của một đất nước ung bướu

Nguồn : Da màu
Tác giả: Ban Mai
21.10.2006




Cách đây không lâu tình cờ đọc một mẩu tin trên báo mạng về việc “Ăn thai nhi” của các đại gia Trung Hoa, dân Hoa Lục mua thai nhi của sản phụ để hầm ăn cho “Tráng dương bổ thận”. Và ít lâu sau đó tôi lại đọc một tin ngắn về nghĩa trang “Đồng Nhi” tại Nha Trang, Việt Nam.

Thời đại bây giờ là thời đại gì vậy? Tôi cứ nghĩ là chuyện “viễn tưởng” người ta bày đặt để in báo giật gân.

Nhưng không.

Đọc “Truyện hậu sản của Lynh Bacardi” những hình ảnh trên tự nhiên lại quay về, nó có điều gì đó làm tôi liên tưởng.

Xin nói thẳng, đây là một truyện ngắn khó đọc, không lôi cuốn… nhưng lạ lùng, bí hiểm ẩn chứa nhiều hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng... như một cơn mê sảng.



“Hậu Sản” một câu chuyện kể về những sinh linh, những kiếp người không ra người, vật không ra vật… đó là những quái thai đang di động trên cõi đời, bị những thế lực vô hình, những lời thề đày ải như những nô lệ.

Câu chuyện bắt đầu từ một thị trấn núi non heo hút, nghèo nàn. Ở nơi đó bỗng sáng lên khi công viên Gà Hầm ra đời – khu đất ơn huệ của bà Mai tặng thị trấn. Bên trong công viên Gà Hầm là một cái hồ Mang Vàng đầy huyền bí. Trong cái thị trấn bé nhỏ đầy ma ám ấy là hình ảnh một gia đình quái gở kết hợp bởi Tôi (cô gái), Má, anh Cường, chị Nga, bé Bí, Hữu, con heo Nỉ . Người thị trấn có ông Cối già, ông thầy pháp đuổi tà ma và thằng bé bướu cổ. Tất cả đan quyện vào nhau nhưng không tạo thành một cốt truyện mà là những liên tưởng, những ám ảnh, những cơn mơ khủng khiếp… người đọc cảm thấy bức bối, ngột ngạt, như chính mình bị đày ải trong một không gian tù túng, lẩn quẩn, nhơ nhớp, bẩn thỉu, nghèo nàn, độc ác đến tàn khốc, một không gian sống đầy mộng mị kinh hoàng như sống trong địa ngục… đó là một thế giới địa ngục.

Tôi, nhân vật chính, được bà má nhặt được và nhận làm con nuôi từ khi vừa ra đời, là một cô gái tràn đầy sức sống, mang đầy đủ phẩm chất cao đẹp của một người đàn bà: nhân ái, hy sinh và đầy ân nghĩa. Mở đầu câu chuyện nhân vật Tôi (cô gái) đã sửa soạn ra đi sau 30 năm chung sống với má nuôi và sau khi cô đã thực hiện lời thề cho bà một đứa cháu nội (bé Bí). Tuy bà không bằng lòng lắm về đứa cháu không thể nối dõi vì là “con gái”, nhưng bà cũng ậm ừ cho qua chuyện và cố níu kéo cô con gái ở lại để chăm sóc con heo Nỉ sắp đẻ rồi hãy đi.

Bé Bí con của cô gái là kết quả của một cuộc giao phối giữa cô gái và anh Cường -con trai má nuôi - vì vợ anh Cường chị Nga không “sinh nở” được nên cô gái đẻ thay.

Thế nhưng khi cô gái ở lại chăm sóc con Nỉ đẻ xong chuẩn bị ra đi, thì cũng là lúc cô nghe tin vợ chồng anh Cường chị Nga và bé Bí cũng vừa bị chết do sụp hầm ở trại đào vàng.

Bé Bí chết, có nghĩa là người nối dõi chết. Một lần nữa cô gái bị buộc phải ở lại để thực hiện lời thề với má “cho má một đứa cháu nội nối dõi”. Cô gái bắt buộc phải giao cấu với Hữu – cũng là một người anh nuôi khác - nhưng Hữu là một quái thai, « chẳng có cái chân nào và tay thì chỉ còn một cái. Mà cái tay còn lại...chỉ là một cùi thịt...trơn nhẵn nhụi ngắn ngủn đến cùi chỏ của người bình thường. Và ngay chỗ cùi chỏ đó mọc ra duy nhất một cái ngón dài không chút đốt xương, rồi cuối cái ngón còn mọc một chùm lông lưa thưa có màu bàng bạc, lòng thòng như một cái đuôi lợn ». Thân xác Hữu đã không thành người, linh hồn Hữu càng không mang tính người. Hữu sống như loài vật tởm lợm, hôi hám, nát rượu, chỉ thích chui rúc trong bóng tối và sống như một vật ký sinh để mọi người phải phục dịch. Cô gái đã sống 30 năm trời cung phụng Hữu -một con người vô tích sự- nên căm ghét Hữu vô cùng. Má nuôi lại bắt giao cấu cùng Hữu để có con, cô gái lúc đầu ngạc nhiên đến “chết trân” nhưng rồi vì nặng ân tình với Má nên cô ưng thuận phục tùng. Một hành động mà chính Hữu cũng “ngạc nhiên đến kinh dị khi gã thấy tôi bước vào buồng không một mẩu vải trên người”. Hắn đã hãi hùng, né tránh… cô gái ghê tởm nhưng vẫn phải chủ động “khai phá”, đó là điều nằm mơ hắn cũng không ngờ. Để rồi cuối cùng sự khai phá đó làm hắn “khoái cảm đột ngột” đến điên cuồng, một sự bùng vỡ thống khoái không thể kiềm chế của hắn với những tiếng “tru rú vì sung sướng cho đến hết đêm hôm đó”.

Cô đã có một đứa con trai với hắn nhưng… con của cô đâu?

Cô như bị lạc vào mê hồn trận khi má nuôi khẳng định cô chưa hề có mang. Lẽ nào là cơn mê sao? Tình thật trong cơ thể mình, cô biết mình đã mang thai và sinh nở. Bởi cô còn cảm nhận sự đau buốt ở vùng dưới, “ bụng tôi đang nhẫy ra, lùng bùng chưa kịp săn lại. Vú tôi nhức lên với cả bầu sữa cuồn cuộn bên trong”. Không, không thể là mơ được.

Người đọc hoang mang, không biết cô gái thực sự có mang thai và đã sinh nở như cô nói không, sao Má lại khẳng định cô chưa từng có mang? Và những đứa bé bướu cổ cô gặp tại hồ Mang Vàng là con ai, nội của chúng là ai, chúng chờ đợi gì từ lời hứa của nội «nội nói- nửa-tiếng-sẽ-quay-lại’’ và nhịn đói chờ đợi nội cho đến chết? Tất cả truyện này là thực hay ảo?

Với một giọng văn ráo hoảnh, lạnh lùng, Lynh Bacardi thuật lại toàn bộ câu chuyện như là một thế giới đầy mộng mị, hoang tưởng, bệnh hoạn, độc ác, giả dối, thực ảo lẫn lộn, tạo cảm giác bức bối, dồn nén, ghê tởm, sợ hãi - một thế giới đen tối không lối thoát.

Vậy thực chất truyện ngắn “Hậu sản” là gì?

Có phải nó là một cơn mê dài không lối thoát.

Hay tất cả những hình ảnh, chi tiết trong thế giới ấy mang nhiều ý nghĩa tượng trưng?

Hồ Mang Vàng
một hình ảnh mơ ước của thiên đường, của một tương lai không tưởng.

: một hình ảnh tượng trưng cho quyền lực đương thời, một hạng người sống nhờ công trạng của quá khứ. (cứu sống nhân vật Tôi khi còn bé bên hồ Mang Vàng đem về nuôi, và từ đó xem nhân vật Tôi như một nô lệ, khống chế cuộc đời họ qua những lời thề). Hình ảnh của Má với cây gậy trong tay tượng trưng quyền lực và sự trì trệ, già nua. Với những chi tiết cần cù, duy ý chí hàng ngày cuốc bộ gần chục cây số đến bên hồ Mang Vàng để chơi trò ném sỏi «liệng những viên đá theo kỹ thuật nhuần nhuyễn...nhìn chúng lướt đi từng chặp như đang trượt nhanh trên những bực thang bằng sóng... các viên đá đều lướt trên mặt hồ đến năm lần rồi mới chìm sâu vào lòng nước ». Những hình ảnh ấy tượng trưng cho sự cố gắng - với những kế hoạch cụ thể - để đạt được mục đích tiến lên xã hội thiên đường của họ nhưng niềm tin mù quáng ấy cứ chìm nghỉm dưới đáy hồ không một tiếng vang.

Để đạt mục đích - giữ gìn nòi giống - Má đã lạnh lùng - bắt ép con gái nuôi giao cấu và có con cùng với cả hai người con trai của mình – đạp đổ mọi luân thường đạo lý, xem cô gái như một nô lệ sử dụng tùy nghi.

Má có phải là một thể chế, bằng mọi thủ đoạn duy trì sự tồn tại của mình trên sự hy sinh của dân tộc, sự mang ơn của quá khứ, và cả chính sự yếu đuối của người dân.

Hữu
: một sản phẩm quái thai là loại « người động vật », tởm lợm và hư hỏng. Một kẻ vô tích sự, lớp con cái ăn bám vào quyền lực của cha ông, gánh nặng của nhân dân. Cô gái đã ghê tởm sau 30 năm chung sống cung phụng. «Tôi đã điên cuồng, quẳng mạnh gã xuống giường như một con vật ghê sợ đã bám chặt lấy đời tôi. Một con ký sinh của Má, một người anh nuôi ghê tởm của tôi ». Loại « người vật » tật nguyền như vậy, dĩ nhiên gien di truyền - có lỗi từ trong hệ thống - làm sao có thể sản sinh ra một tương lai khỏe mạnh được – nếu có chăng cũng chỉ là những « thằng bé bướu cổ » chết yểu mà Má lén vất trong công viên Gà Hầm- ao ước « nối dõi » của Má chỉ là hoang tưởng.

Thằng bé bướu cổ
: tương lai của dân tộc lại là những sản phẩm bệnh hoạn, tật nguyền, chết yểu. Kết quả của sự kết hợp giữa quyền lực áp đặt với những niềm tin ảo tưởng. Hình ảnh thằng bé bảo thủ nhất quyết tuyệt thực chứ không chịu nhận cái bánh hiện thực trước mắt, mà chỉ tin vào cái bánh vẽ hão huyền để rồi cuối cùng chết đói. Cái bánh vẽ ấy là lời hứa của nội: ‘‘nội nói- nửa-tiếng-sẽ-quay-lại’’… rồi chờ đợi, chờ đợi…. đến 10 lần vết gạch ghi dấu …mãi đến ngày nay tương lai của những thằng bé bướu cổ cũng sẽ mãi chờ đợi… chờ đợi một điều không có thật.

Cái bướu cổ ấy chính là cục thịt thừa bệnh hoạn, niềm tin bệnh hoạn hay chính là một thể chế ký sinh trên tương lai của dân tộc?

Con heo Nỉ:
một loài động vật phổ biến ở nông thôn, con heo Nỉ ở đây tượng trưng cho tầng lớp nông dân nghèo. Một mình con Nỉ phải gánh trên vai cả đại gia đình, (hay nói rộng hơn người nông dân phải gánh trọn đất nước). Hình ảnh con Nỉ “nó đã cho ra đời cả thẩy 6 lứa con... Lứa nào cũng đông đúc và mạnh khỏe. Lứa thứ nhất dùng để sửa lại căn buồng cho Hữu, lứa thứ hai làm đám cưới cho anh Cường và chị Nga. Lứa thứ ba mua một khuôn ruộng, lứa thứ tư dành cho tôi đẻ bé Bí và các lứa còn lại cho anh Cường làm vốn ra riêng”. Con Nỉ đã bị tận dụng đến cùng cực, đến mức cuối cùng nó phải ăn chính con mình đẻ ra để tái tạo lại sức lực nuôi đại gia đình của cô gái. Hình ảnh con Nỉ ăn tươi con mình sau khi đẻ thật thê lương, nó là động vật nhưng khác ở đồng loại ở chỗ không có đuôi. Nó là « động vật người ». Nó chính là công cụ để mọi người bóc lột đến tận xương tủy, cuối cùng con Nỉ cùng chết vì kiệt sức, không có gì để ăn kể cả con mình đẻ ra. Người nông dân trong xã hội này cũng như vậy.

Hình ảnh ăn tươi đứa con sau khi đẻ còn làm chúng ta liên tưởng đến việc con người ăn vào tương lai của thế hệ mai sau.

Tôi (cô gái)
là hình ảnh của dân tộc, đầy sức sống, nặng ân tình, luôn biết ơn quá khứ vì vậy cũng dễ bị lợi dụng, dễ bị khống chế. Một dân tộc bị ám vì một lời thề, một niềm tin mù quáng, đi ngược lại tiến trình phát triển của nhân loại nên bị đày ải như một nô lệ. « Con thề sẽ trả ơn nuôi dưỡng của má bằng cách sanh cho má một đứa cháu nội. Nếu một lần sanh không xong, con sẽ sanh cho má lần khác cho đến khi nào đứa bé hiện diện trên đời rõ ràng là một con người, rõ ràng là một đứa cháu nội xinh xắn khôn ngoan của má. Nếu con không hoàn thành lời thề, Mang Vàng sẽ là nơi chôn vùi linh hồn con, sẽ là nơi con tạ lỗi cho công nuôi dưỡng của má ». Nhưng trớ trêu thay, lời thề của cô gái sẽ sinh « một đứa cháu nội xinh xắn khôn ngoan » mãi mãi không bao giờ trở thành hiện thực. Vì gien di truyền của Hữu có lỗi từ trong hệ thống nên chỉ sản sinh ra những quái thai. Cô gái lờ mờ hiểu có điều gì đó không bình thường, khi đứa bé sanh ra rồi lại biến mất, lại sanh ra, lại biến mất…

Sau 30 năm chung sống với Má, cô gái nhận chân được thân phận của mình: « Tôi nhận ra thân phận nô lệ của mình, khi biết nếu không có Má thì tôi chẳng được hiện hữu trên đời này để trở nên một nô lệ ». Thế nhưng, không dứt khoát trong hành động, yếu đuối trong suy nghĩ. Bao lần mong muốn ra đi, bao lần ao ước tự do cho riêng mình nhưng bao lần đều bị lời thề khống chế. Bất hạnh thay cho dân tộc nào đang như vậy?



“Hậu sản” là một câu chuyện kinh dị, sau hậu sản cô gái cứ tưởng mình sẽ được giải thoát, thế nhưng lời thề như một bóng ma nó đày ải con người, khống chế con người trùng trùng điệp điệp không thể nào thoát nổi. Cuộc sống kéo dài trong bế tắc, trong chờ đợi mỏi mòn.

Kết thúc truyện, một lần nữa cái vòng luẩn quẩn lại xuất hiện khi cô gái cảm thấy có một cái quẫy đạp trong bụng mình.

Tương lai nào đang tượng hình trong ấy?

1 Một bào thai « bướu cổ khác » để rồi lại chết yểu?

2 Một bào thai bụ bẫm, sáng ngời?

…. Tất cả vẫn còn là một dấu hỏi?

..... Tất cả tùy thuộc vào chính chúng ta – mỗi người đọc!

« Truyện hậu sản của Lynh Bacardi » không phải là một truyện đọc giải trí, hấp dẫn. Nó là một truyện ngắn bắt người đọc phải dụng công suy nghĩ và kén bạn đọc. Bằng những hình ảnh đầy tính ẩn dụ, Lynh Bacardi buộc người đọc phải liên tưởng đến nhiều lớp nghĩa. Với một bút pháp trần trụi, lạnh lùng, ngôn ngữ bạo liệt, có khi tác giả cố tình đẩy đến tận cùng những hình ảnh hãi hùng như cảnh giao hoan giữa cô gái và Hữu – một quái thai - làm cho người đọc kinh tởm đến buồn nôn. Có lẽ chưa có một cảnh giao hoan – chủ động tự ép mình hiếp dâm – dưới ánh mắt soi mói của người khác, tởm lợm đến như vậy trong văn chương Việt Nam. Tôi nghĩ rằng tác giả đã cố tình đưa ra hình ảnh kinh hoàng này để đẩy người đọc đến giới hạn tận cùng của sự chịu đựng. Nhằm làm cho người đọc thấy rõ sự độc ác khủng khiếp của Má và nỗi nhục nhã, ê chề của kiếp đời nô lệ phục tùng vô điều kiện của cô gái.

Thông điệp của truyện ngắn đưa ra một chiều kích lớn : Chừng nào trên thế giới, những thể chế độc tài còn tồn tại thì những người dân dưới ách cai trị của họ vẫn mãi là những nô lệ bị đày đọa đến tận cùng.

Dĩ nhiên, thể chế nào cũng muốn tồn tại truyền đời. Nhưng với một thể chế có hệ thống khuyết tật, đầy ảo tưởng thì sản phẩm của nó chỉ có thể là những xã hội bệnh hoạn. Tất yếu, hậu quả là sự gánh chịu của người dân.

Lynh Bacardi, một cây viết truyện ngắn mới, một lần nữa khẳng định tiếng nói phản kháng của giới trẻ. Tương tự như Đỗ Hoàng Diệu, cô đem những giá trị của dân tộc ra bàn cân mổ xẻ, tìm kiếm, lý giải những mặt trái của thể chế, của xã hội. Tiếng nói của cô chỉ là những bước đầu phản kháng nhưng qua truyện ngắn “Hậu sản” tôi tin rằng đây là một cây bút mạnh mẽ, đầy cá tính có triển vọng đột phá trong tương lai.

Văn học Việt Nam cần những tác giả can đảm nhìn vào bản chất của xã hội mình đang sống để làm nên dòng văn học thật của đất nước.


Ban Mai
10/2006

Share/Save/Bookmark

Hậu sản

Nguồn : Da màu
Tác giả: Lynh Bacardi
0.
Con định đi thật à?
Má vừa chống gậy bước vô buồng với hai túi xách trên vai, vừa hỏi tôi với vẻ chẳng cần tôi phải trả lời. Tôi chỉ mới nhìn má dò xét, mà chưa kịp hỏi gì thì má đã đem hai cái túi bỏ lên giường. Má để cây gậy nằm dưới đất, rồi lom khom ngồi xuống giường chậm rãi mở xuyệt- mơ- tuya lấy tất cả đồ đạc của tôi cất trở lại vào tủ.
Má làm gì vậy? Tôi lo lắng hỏi.
Con định đi thật à? Má lập lại câu lúc nãy nhưng vẫn không nhìn tôi, hai bàn tay nhăn nheo gầy đuộc đang lồng hai cái túi rỗng vào nhau.
Thì con vẫn tính đi lâu nay mà má!
Nhưng con đã sống với má gần ba chục năm rồi còn gì?
Thì do sống với má lâu như vậy nên con mới quyết định đi.
Con không sợ người đời cười con vong ơn sao?
Con không sợ, vì con đã trả ơn cho má rồi, con đã giữ lời hứa cho má đứa cháu nội rồi.
Nhưng nó là con gái, con gái thì có ích gì đâu con?
Má đừng lo xa quá, rồi má coi, bé Bí lớn lên sẽ cưng má còn hơn con nữa.
Con mà cưng má cái gì, con cưng má sao bỏ má đi?
Con biết má thương con, nhưng con không thể sống hoài với má. Chắc chắn con sẽ đi lấy chồng, sẽ sinh con cho chồng. Mà con không đi hôm nay thì con cũng sẽ đi vào lúc khác thôi!
Lúc khác thì lúc khác hãy tính!
Đừng mà má!
Má cúi mặt, im lặng hồi lâu rồi ngẩn lên nói với vẻ cương quyết:
Thôi con đi cũng được, nhưng không phải bây giờ, con thấy má đang bệnh không? Con nên ở lại ít ngày lo cho con Nỉ nó đẻ đã, xong rồi đi đâu thì đi!

1.

Tôi tin chắc thằng bé bướu cổ đã không chết, nếu huyện cho xây công viên ở ngay con đường mới trải nhựa của thị trấn, vì tôi biết mình sẽ theo dõi nó, và dành thời gian nài nỉ để nó ăn chút gì đó mỗi lần đi qua chợ. Hoặc tệ lắm tôi cũng tới ngay đó để xem mặt nó lần cuối, trước khi ông Cối già, cán bộ của thị trấn đến vác xác nó đi. Đằng này công viên lại nằm sâu trong con đường mòn nhỏ xíu, cách nhà tôi đến vài cây số, và đó là khu đất ơn huệ của bà Mai.
Ai cũng biết cái công viên thoáng đãng xinh đẹp này sẽ không thể ra đời, cũng như sẽ chẳng có sân chơi nào cho người trong thị trấn, nếu bà Mai không đột ngột chết vì căn bệnh ung thư cuống họng. Bà Mai là người sống trong vùng lâu năm, bà nổi tiếng giàu có và cũng nổi tiếng keo kiệt chẳng ai bằng. Khi còn sống bà chẳng cho ai thứ gì, kể cả quần áo hay xoong nồi cũ. Bà có thể bỏ cả ngày trời nhọc công đem chôn chúng xuống đất, nhưng nhất định không để ai rớ vô. Thỉnh thoảng thấy bà chống nạnh đứng ngay giữa đường chửi đổng, là người ta hiểu ngay bà lại vừa phát hiện ai đó đào mấy cái hố lên cuỗm mớ đồ đạc cũ kỹ. Vậy mà bỗng nhiên chỉ vài ngày trước khi chết, bà nổi hứng gọi ông Cối vào nhà, ký giấy cho thị trấn khu đất làm công viên, và còn cho thêm một số tiền để trải nhựa con đường từ công viên ra chợ. Điều lạ là chẳng biết bà Mai còn tiếc gì mà không tặng nốt cho thị trấn ngọn đồi tiếp giáp khu đất, lại nhất định dùng nó để làm nơi yên nghỉ vĩnh viễn trong khi bà còn rất nhiều đất đai ở khắp vùng.

Tuy con đường mòn dẫn vào công viên nhỏ hẹp, hoa mắc cỡ và cây tóc tiên mọc đầy hai bên đường, hơn nữa, mỗi mùa mưa đến đất đỏ bở ra tạo nên những vũng lầy đỏ loét, trơn nhão đến nỗi người ta chẳng muốn đi vào, nhưng khoảng đất của công viên thì lại rộng rãi, bằng phẳng và mát rượi. Má nói nó chẳng khác một căn nhà nở hậu, rồi má nhìn vào khung xương chậu của tôi, nói tiếp rằng nhà cửa, đất đai hay đàn bà hông nở đều có hậu vận tốt. Má cũng nhất quyết cho rằng nếu công viên không xây ở đây thì không thể xây ở đâu được nữa, đơn giản vì ở đây có cái hồ Mang Vàng thân thiết của má. Ngày được ông Cối cho biết sẽ xây công viên ngay cạnh Mang Vàng, má đã vui mừng đến độ không ngủ được cho đến khi nó hoàn tất. Tôi biết má vui vì từ nay má không phải ngồi dưới cái nắng gay gắt, hay dưới những cơn mưa dầm để vui chơi bên Mang Vàng nữa.

Má chống gậy cuốc bộ từ căn nhà nhỏ nằm heo hút trên ngọn đồi cuối thị trấn để đến với Mang Vàng vào mỗi buổi sáng. Ở đó, má say mê đến quên cả cơm trưa với trò liệng đá lia thia ưa thích. Má nheo cặp mắt nhỏ xíu như hai sợi chỉ nhưng sáng quắc vẻ tinh quái, nhắm hướng liệng những viên đá theo kỹ thuật nhuần nhuyễn, rồi đứng nhìn chúng lướt đi từng chập như đang trượt nhanh trên những bực thang bằng sóng, để lại cất tiếng cười hả hê khi thấy mình chơi vẫn còn giỏi. Thân thể già sọm với những đốm đồi mồi mọc hai bên má dầy đặc, và cái trò chơi con nít khiến má trông giống một đứa trẻ hiếu động ẩn mình trong lớp xác héo hon. Tôi nhớ mình vừa cầm ống nhổ cho má, vừa chứng kiến má liệng đá nhiều lần, những lần đó các viên đá đều lướt trên mặt hồ đến năm lần rồi mới chìm sâu vào lòng nước.
Má mê cháu nội cũng chẳng khác trò liệng đá, cũng may tôi đã cho má một đứa khá kháu khỉnh. Hôm đứa nhỏ chui ra khỏi thân thể tôi, má vừa đưa tay nâng nó ra vừa cười sung sướng đến chảy nước mắt. Rồi tôi nhận ra ánh mắt tinh quái của má chợt sa sầm, khi nhìn vào phần giữa hai chân của nó. “Chỉ là một đứa con gái!”, má vừa lẩm bẩm vừa nhìn quanh để tìm người chuyền đứa bé, rồi im lặng lo phần hậu sản cho tôi như thể đó là niềm vui chính yếu của má trong ngày tôi trở dạ.

Anh Cường không để ý thái độ đó, anh khom lưng xuống nhận đứa con từ tay má, miệng nở toe nụ cười hạnh phúc. Anh nhìn chị Nga đang đứng khóc thút thít sau lưng, nói, “Em coi, con của tụi mình xinh đẹp chưa nè!” Chị Nga mỉm nụ cười miễn cưỡng, ôm đứa bé vào lòng nhìn chăm chú vào gương mặt bé loắt choắt của nó, rồi lại nhìn tôi, rồi nhìn qua anh Cường. Hồi sau, tôi thấy đôi tay chị khẽ siết chặt lấy chiếc khăn bông dầy cộm có thân thể nhỏ bé trong đó, môi nhếch một nụ cười hạnh phúc kín đáo. Tôi cũng cười, thở mạnh ra như vừa trút được gánh nặng. Trong lúc tôi bắt đầu nghĩ đến việc xếp đặt mớ hành lý nhỏ nhoi của mình, tôi nghe anh Cường nói vào tai vợ, Đặt tên con là bé Bí nghe em?”

Tôi biết tin thằng bé bướu cổ chết khi vừa sanh bé Bí. Nó hay ngồi nơi chiếc ghế đá cuối cùng, đằng sau bụi hoa râm bụt sát chân ngọn đồi mỗi khi tôi đi đến công viên với má. Nó ngồi đung đưa chân vì chân nó chưa đủ dài để chạm đất, một tay chống xuống mặt ghế, một tay cầm đoạn cây khô vẽ vẽ vào không khí. Khi tôi đi ngang, nó nhìn tôi lom lom như để hình dung một hình ảnh quen quen trong đầu. Cái bướu to tướng dưới cổ nó có những màng thịt lồi lõm kỳ dị, chúng lan cả xuống phần ngực và chỗ thịt đó lại nối những bệt thịt dưới sát cằm làm thành những sợi dây thịt kéo ghị lại khiến đầu nó chừng như không thể ngước lên nổi, và vì thế gương mặt nó nhìn có vẻ đe doạ. Trong lúc làm bộ vỗ tay cổ vũ những viên đá của má trượt đi trên mặt hồ, thỉnh thoảng tôi quay nhìn về phía nó. Tôi luôn thấy cặp mắt của nó cố trợn lên nhìn dáo dác xung quanh như thể tìm ai, mà vào giờ đó khu công viên chỉ có má, tôi và nó, ngoài ra chẳng có bóng ma nào để cho nó tìm kiếm.
Cưng đang chờ ai hả? Tôi tò mò đến gần nó.
Dạ. Nó đáp cụt lủn.
Hình như ngày nào chị cũng thấy cưng ở đây?
Em ngồi đây mười ngày rồi. Nó trả lời sau khi nhìn xuống đếm những dấu gạch trên mặt đất. Tôi cũng nhìn theo, đếm được cả thảy đúng mười dấu gạch.
Cưng gạch những dấu này làm gì?
Chị ngu!
Tôi giật mình, thoáng nóng mặt khi nghe nó kết luận. Tôi ấp úng định bỏ đi, nhưng chẳng hiểu sao lại không thể, tôi không thể để thằng bé có ấn tượng xấu về mình như vậy. Tôi vừa cố tình nhìn nó thật kỹ như để ghi khắc gương mặt nó trong đầu, vừa luồn tay vào chiếc bao nilon lấy ra một cái bánh khoai mì nướng. Tôi hỏi,
Cưng có đói không?
Đói, nhưng em không ăn!

Tôi đã đến với nó thêm nhiều lần sau đó, nó vẫn vậy, trả lời thẳng thừng và nhất định từ chối miếng ăn. Thỉnh thoảng đi ngang qua nó, tôi liếc xuống những dấu gạch trên mặt đất, đếm nhanh được vài chục cái. Mặc dù còn nhỏ và ngồi một mình cả suốt ngày đêm trong công viên vắng ngắt, nhưng chẳng bao giờ tôi thấy nó tỏ ra sợ hãi. Dường như nỗi sợ cũng không có cơ hội hay thời gian, để chen vào sự trông ngóng mỏi mòn hiện ra trên gương mặt của nó. Tôi chỉ hiểu nguyên nhân khiến nó có mặt ở công viên, và cứ ngồi lỳ nơi chiếc ghế đá cuối cùng, sau bụi râm bụt trong một lần vô tình đi ngang qua và nghe nó lẩm bẩm với sắc mặt xám ngoét, buồn bã:
Nội sao chưa quay lại?!
Vậy ra cưng đang chờ nội à? Tôi đã dừng lại ngay khi nghe lỏm được.
Phải, nội nói nửa tiếng sẽ quay lại.
Tôi bỗng thấy vui mừng nhận ra giọng nói của nó có vẻ muốn tâm sự, tôi nhanh nhẩu,
Hay chị đưa cưng về nha?
Em không nhớ nhà, nhưng nội nói nửa tiếng sẽ quay lại.
Cưng cố nhớ xem sao? Tôi giật mình nhận ra mình đang muốn đào xới trí óc nó, cũng như đang cố chuốc lấy phiền hà.
Không! Nội- nói- nửa- tiếng- sẽ- quay- lại! Nó nói rõ từng tiếng một, xong, cúi mặt nhìn xuống những dấu gạch bên dưới ý muốn chấm dứt cuộc nói chuyện.
Đó cũng là lần cuối cùng tôi gặp nó trước khi người ta phát hiện cái xác co quắp của nó nằm dưới bụi râm bụt. Tôi chợt thấy giận hờn, bởi biết đó là cái chết đói của đứa trẻ đã từ chối bánh khoai mì nướng đến cả chục lần.

2.

Đây là nơi chui rúc của Hữu, một cái ổ hôi hám đến buồn mửa. Tôi vừa cố xếp cho nhanh mấy cái áo và quần đùi, vừa bịt mũi để tránh cái mùi khủng khiếp thường trực trong căn buồng riêng của gã. Gã vẫn đang há miệng ngủ với cái mền quấn quanh thân, nhìn vào người ta chỉ có thể tưởng đó là một bức tượng bằng thạch cao xấu xí chưa qua giai đoạn nặn tứ chi. Còn tôi đã nhìn thấy gã gần ba chục năm nay, vậy mà vẫn chẳng hiểu vì sao ông trời lại sinh ra một bị thịt vô tích sự đến vậy. Một sinh linh hôi hám, chẳng có cái chân nào và tay thì chỉ còn một cái. Mà cái tay còn lại cũng chẳng ra hồn vía, nó chỉ là một cùi thịt không đường nét, trơn nhẵn nhụi ngắn ngủn đến cùi chỏ của người bình thường. Và ngay chỗ cùi chỏ đó mọc ra duy nhất một cái ngón dài không chút đốt xương, rồi cuối cái ngón còn mọc một chùm lông lưa thưa có màu bàng bạc, lòng thòng như một cái đuôi lợn.

Lẽ ra tôi đã không ghét hay tởm Hữu đến như vậy, đó là ý trời, và gã phải gánh lấy cái ý ấy mà chẳng cần phải biết nguyên do, nhưng đó lại là một gã nát rượu, với những buổi ỉa đái ăn ngủ ngay tại chỗ sau khi ngồi lai rai cả ngày, nốc hết xị rượu này đến xị khác. Tôi mong gã sẽ bớt nhậu nhẹt, sẽ ra khỏi căn buồng u ám, sẽ sống sạch sẽ và nhất là mỗi lần muốn bài tiết biết kêu người giúp đỡ. Tôi có những mong muốn này chỉ để cho má đỡ khổ, tôi biết sau này tôi sẽ không ở với má nữa. Tôi sẽ không dọn dẹp cho gã như suốt gần ba chục năm nay nữa, tôi sẽ đi tìm cho mình một cuộc đời mới sau khi sắp xếp mọi thứ đâu vào đó cho má. Má sẽ sống dưới mái nhà này cùng anh Cường, chị Nga và bé Bí, họ sẽ hạnh phúc và điều đó làm tôi cảm thấy hài lòng với chính mình.

Nhưng đến lúc này tôi tin mình chẳng thể tác động gì được Hữu. Gã nhìn đời qua màu trắng đục của những bình rượu đế, qua những lỗ thủng và sự mục nát ngày mỗi tăng ở các bức vách cũ kỹ, và chắc chắn chưa bao giờ gã nhìn rõ mặt má dù má vẫn vào thăm và vỗ về gã mỗi ngày. Má cho rằng do lúc sanh gã má bị cảm cúm, hoặc cũng có thể do ba ngày xưa đi chiến trường bị nhiễm chất độc. Tôi chẳng quan tâm lý do nào, tôi chỉ ước Nỉ chuyển dạ sớm hơn bình thường để tôi chấm dứt càng sớm càng tốt việc hốt phân, lau nước đái, dọn những bãi ói chua lè bẩn thỉu, và giặt mền chiếu cho gã mỗi ngày.

Bây giờ thì gã đã ngủ dậy, mở mắt nhìn ngó quanh quất với hai cục ghèn ướt bám lem hai bên khoé. Dĩ nhiên gã chẳng bao giờ đánh răng hay rửa mặt, kể cả tắm cũng vậy. Những việc này là của má, má lo cho gã mỗi tuần một lần. Gã phát hiện tôi đang ngồi dưới đất nhăn nhó với mớ quần áo trong khi một tay bịt mũi. Gã nhếch mép cười chẳng nói gì, ngáp vài cái và hẩy thật mạnh để lấy trớn bật người dậy. Gã lết đến gần cái bàn kê sát mép giường, vục mặt vào tô cơm tôi đã để sẵn khi nãy. Trong lúc gã đang ăn, tôi đặt mớ đồ của gã lên mặt bàn kế bên tô cơm. Trước khi tôi kịp quay đi, đã nghe giọng gã kịp rề rề nhắc nhở,
Mày nói má mua bình rượu mới cho tao, bình kia sắp hết rồi!
Má chưa có tiền đâu!
Tao không biết, mày cứ nói với bả là được rồi.
Em không nói, nói ra má càng lo thêm.
Ê, hôm nay mày ngon ghê ta?
Bộ anh không nhịn nổi một ngày sao?

Trong khi tôi còn định nói thêm vài câu, thì gã chẳng nói gì mà khạc nhanh một bãi nước bọt lẫn đờm nhớt vào ngay cổ chân tôi. Tôi giật mình, vừa kinh sợ lẫn tức giận bỏ nhanh ra ngoài. Tiếng cười khùng khục như thể có cả đống nhớt dãi trong cuống họng gã đuổi theo đằng sau. Phun nước bọt là cách gã sỉ nhục tôi, gã vẫn luôn làm vậy mỗi khi thấy tôi có vẻ muốn kháng cự hay muốn trút hết mọi ức chế bao năm qua lên gã. Hoặc gã sẽ bày đặt bỏ ăn, chỉ uống nước, uống rượu suốt ngày và đái liên tục để má phải xót ruột la tôi, và bắt tôi vào buồng gã lau nước đái hoài huỷ. Tôi hiểu gã cũng ghét tôi, gã cũng thầm nguyền rủa tôi như tôi vẫn thầm nguyền rủa gã. Tôi cố dằn lòng để không bật khóc, sự giận dữ khiến tôi thường bủn rủn cả tay chân đến độ chẳng thể làm gì được, trong khi bây giờ tôi phải đi lo cho Nỉ, nấu cho nó mớ cá và băm vài đọt rau lang. Nỉ đang trong thời kỳ thai nghén nên rất cần được trông chừng và ăn đúng giờ.

Chuồng của Nỉ còn sạch hơn căn buồng của gã. Nhìn Nỉ ngước cái mặt mập ú lên nhìn tôi mừng rỡ vì biết sắp được cho ăn, tôi thấy lòng bình thản trở lại. Tôi lo cho Nỉ chu đáo, mong cho Nỉ mau đẻ vuông tròn để tôi sớm thoát khỏi nơi đây. Nỉ đã sống với tôi và má nhiều năm, nó đã cho ra đời cả thẩy sáu lứa con. Lứa nào cũng đông đúc và mạnh khoẻ. Lứa thứ nhất cách đây đã lâu lắm, má dành để sửa lại căn buồng cho Hữu. Lứa thứ hai má để làm đám cưới cho anh Cường và chị Nga. Lứa thứ ba má mua một khuôn ruộng ở gần chợ, nó bé xíu nhưng cũng cho lúa đủ để ăn và bán chút ít mỗi mùa. Lứa thứ tư má để dành cho tôi đẻ bé Bí, và các lứa còn lại má cho anh Cường làm vốn ra ở riêng.

Nếu không có Nỉ, chắc chắn chị Nga và anh Cường cũng không thể lấy nhau. Nhà chị Nga nghèo lại đông em, cha chị gả chị đi mà mừng hết lớn vì bớt được một miệng ăn. Chị về nhà chồng chẳng mang theo thứ gì, chỉ ít bộ đồ có điểm vài bông hoa lẻ loi bạc màu. Lúc anh Cường đưa chị về ra mắt, má đã ngán ngẩm nhìn thân hình gầy khô của chị. Má thương anh Cường lắm mới kêu bán bầy heo mười hai con của Nỉ để làm bữa tiệc cho anh vui. Ngày chị Nga biết tin mình không sinh đẻ được, chị khóc đến ngất xỉu trong tay anh Cường. Má rất giận dữ, lần đầu tiên sau mấy chục năm ở với má, tôi thấy cặp mắt sợi chỉ của má mở hé ra long lên đỏ sọc. Má muốn anh Cường trả chị Nga về ngay lúc đó, nhưng anh Cường biết chị Nga sẽ tự tử chứ không về với cha. Anh yêu chị, anh khóc, rồi bất chợt anh nhìn thẳng vào mắt tôi. Tôi quay nhìn qua chỗ khác, bắt gặp ánh mắt má đang nhìn vào khung xương chậu của tôi. Có một chút rờn rợn đột ngột đến trong tôi lúc đó, quả nhiên vài ngày sau má dắt tôi ra Mang Vàng lên tiếng với tôi. Khỏi cần anh Cường hay chị Nga nói gì, tối hôm đó tôi vào buồng anh, còn chị Nga xỏ nhanh chiếc áo khoác lẳng lặng đi xuống đồi. Má dự định để tôi ngủ với anh Cường cách hai tuần một lần, nhưng đúng như kinh nghiệm của má, xương chậu tôi nở đẹp nên chỉ sau hai lần tôi đã thụ thai.

Nỉ khác đồng loại ở chỗ không có đuôi, chỗ xương cụt chỉ có một cái hõm màu đen như thể một vết sẹo. Nỉ rất hiền và thích được chăm sóc. Khi có bầu nó thích mỗi tối tôi mang đèn ra chuồng đuổi muỗi và xoa bụng cho nó. Nó chỉ có một yêu cầu duy nhất, là sau khi đẻ tôi phải trả lại cho nó một đứa con. Nếu tôi quên, Nỉ sẽ đột ngột lồng lên điên loạn rượt đuổi, cố sức húc vào lũ con như muốn giết hết chúng. Tôi chẳng hiểu, và cũng chẳng biết làm sao giúp Nỉ bình thường trở lại khi Nỉ đẻ lứa đầu với những dấu hiệu như vậy, tôi chỉ còn cách nhảy đại vào lùa lũ con qua chuồng bên cạnh. Không làm gì được, Nỉ lại đâm đầu vào cửa chuồng, tìm mọi cách để thoát ra. Khi cũng không phá được chuồng, Nỉ rống ầm lên vang khắp khu đồi cho đến lúc mệt mỏi lảo đảo ngã xuống nằm thở, rồi khi đỡ mệt thì tiếp tục rướn cổ tru rống thảm thiết. Tôi chắc Nỉ đã chết vì kiệt sức, nếu lần đó tấm ván chắn giữa hai chuồng của Nỉ và bầy con không đột ngột bật ra, khiến một con trong bầy chui trở lại chuồng của Nỉ đòi bú. Nỉ đã bật dậy như cái lo xo vồ nhanh lấy đứa con bất hạnh, và chỉ trong mươi phút, Nỉ ăn sạch nó một cách ngon lành, rồi nằm xuống sàn chuồng nhầy nhụa máu thở hồng hộc. Nỉ mở to cặp mắt xanh đục nhìn tôi như để xin lỗi, nhưng chỉ lát sau Nỉ đã ngủ một cách bình thản. Sau giấc ngủ đó, Nỉ tỉnh dậy và lại hiền lành như trước. Tôi không dám cho mình quyền tuỳ chọn bất cứ con nào trong bầy, nên tự định rằng cứ con nào ra sau cùng sẽ bị chọn để trả lại cho Nỉ. Như đó là số mệnh của chính chúng, chứ không phải do tôi.

Bây giờ Nỉ đã ăn no, có một chút cá trộn vào máng cám luôn làm Nỉ ăn ngon miệng. Nó đang ì ạch tìm chỗ ngả tấm thân to lớn để đánh một giấc. Tôi cũng vào bếp chuẩn bị nấu cơm trưa. Trong lúc đang múc gạo vào xoong, tôi chợt giật thót tim khi thấy một bóng người in trên vách lá. Lại là má. Má đột ngột xuất hiện ngay sau lưng tôi, chống cây gậy đứng yên đó như có phép tàng hình. Má rất lạ, thường thì tôi có thể nghe tiếng má từ xa do cây gậy gỗ chống xuống đất kêu lộp cộp, nhưng nếu má không muốn cho tôi biết má đang đến gần, thì chắc chắn tôi sẽ bị giật mình như vừa rồi. Cũng như mọi lần, lần này má cũng đột ngột xuất hiện, rồi cũng đứng yên đó chẳng nói chẳng rằng. Cặp mắt sợi chỉ của má bình thường hay lộ ra chút ánh nhìn tinh quái, nhưng lúc này chúng trở nên tối om, hết hướng về xoong gạo tôi đang cầm trên tay, rồi lại chăm chú nhìn vào khung xương chậu của tôi. Ánh nhìn khiến tôi chợt có cảm giác tê rần ngay chỗ đó. Khi tôi bình tĩnh đặt cái xoong xuống đất, mạnh dạn đến nắm tay má đưa vào buồng, rót một tách trà để bên cạnh rồi trở vào bếp tiếp tục công việc thì má vẫn ngồi yên lặng.

3.

Công viên vẫn vắng vẻ như mọi ngày, chẳng có ma nào đến vui chơi như người ta dự đoán khi mới xây xong. Nó bắt đầu xuống cấp với mưa nắng, rong rêu bắt đầu ăn dần lên các bức tường, cây cối không ai chăm sóc đang trở nên héo rũ. Những đám cỏ dại quanh công viên trước kia còn được dọn dẹp để gìn giữ quang cảnh, giờ tha hồ mọc cao lêu khêu che gần kín lối vào như muốn dành lại giang sơn ngày trước của chúng. Một vài người cho rằng bà Mai nên bán khoảng đất ấy và cho mỗi người trong thị trấn một ít sẽ có ơn ích hơn, nhưng số người khác lại sợ hãi không dám bàn tán. Có nhiều nguyên nhân khiến chẳng ai đến công viên, người già thì luôn lười biếng việc di chuyển đi lại, những ông bố bà mẹ thời gian còn không đủ lo cày bừa, con cái, nói chi đến vui chơi thư giãn, thanh niên nam nữ thì chẳng dại gì hẹn hò ở nơi mà ai cũng biết, tiếng đàm tiếu trong thị trấn bay xa và nhanh chẳng thua gì một tia chớp trên trời. Còn trẻ nít thì sợ ma bắt.

Từ ngày bà Mai chết, một vài người trong thị trấn nói thỉnh thoảng họ vẫn thấy bà đi lại trên đoạn đường từ công viên ra chợ. Họ nói có lẽ bà Mai cho thị trấn tiền trải nhựa con đường là để hồn ma của bà dễ dàng đi ra chợ mua thịt gà, vì gà là món khoái khẩu của bà khi còn sống. Hơn nữa, sau cái chết lẻ loi của thằng bé bướu cổ, công viên đã vắng lại càng vắng hơn. Chỉ có má là vẫn đến đều đặn mỗi sáng, tôi thì bận lo cho Nỉ nên không đi cùng với má nữa. Má nói người ta thật dại khi không biết thưởng thức hồ Mang Vàng. Đó là một tuyệt tác thiên nhiên hiếm hoi của thị trấn nghèo nàn này, khi đến đó, má thấy tinh thần sảng khoái hơn.

Nhưng hôm nay má kéo tôi ra đây không vì mục đích đó, má không bọc sẵn trong bao ni-lon nắm đá để liệng dần xuống hồ như mọi khi. Má dắt tay tôi luồn qua đám cỏ đi vào cổng công viên, đi qua những cái ghế đá nhem nhuốc màu đất đỏ của thị trấn, đi qua cả cái ghế cuối cùng gần bụi cây râm bụt, sát chân đồi. Tôi thấy lạ vì bụi râm bụt vẫn tươi tốt trong khi các cây khác đã héo khô trong cái nắng thiêu đốt. Tôi hình dung gương mặt có cặp mắt cố nhìn lên đến trợn trừng của thằng bé. Nếu hồi đó tôi ép nó ăn mấy cái bánh thì sao?

Má đưa tôi đến bờ hồ Mang Vàng. Nhìn vẻ mặt quan trọng của má, tôi không dám hỏi chuyện trước. Má ngồi xuống, kéo tôi cùng ngồi bên cạnh. Má không nhìn tôi mà nhìn ra mặt hồ. Má cứ ngồi im như vậy, khoảng gần mười phút sau mới đột ngột cất giọng hỏi,
Con có nhớ con từng hứa gì với má không?
Hứa gì má?
Con hứa ngay ở đây, trong cái công viên này, trước mặt hồ Mang Vàng này!
Dạ con nhớ.
Con hứa gì?

Tôi lén nhìn qua má lo ngại, hình như có chuyện gì vừa xảy ra. Sáng hôm qua má nói đi thăm ai đó mãi đến trưa nay mới về, tôi cố đoán trước xem chuyện gì nhưng không thể. Mắt má không mở lớn để tôi nhận ra điều gì trong đó, mà những nếp nhăn chằng chịt giăng khắp trên gương mặt má càng khiến tôi bối rối.
Dạ… con đã hứa sanh cho má đứa cháu nội.
Đúng ra thì con đã thề chứ?
Dạ… thề.
Con thề sao vậy?

Tôi giật mình, quay hẳn đầu nhìn qua má. Má vẫn hướng mặt ra Mang Vàng, như thể đang cùng nó kiên nhẫn chờ tôi lập lại lời thề hôm đó. Tim tôi bắt đầu đập mạnh khi nhớ đến lời thề, tại sao hôm nay má muốn tôi lập lại? Trong khi miệng còn chưa dám nhắc lại lời thề, tôi đã nhận ra mình đang sợ hãi đến lạnh toát cả người. Một lời thề ở hồ nước mênh mông, nơi má đã yêu mến rồi trở nên trân trọng và tôn thờ nó từ lúc nào chẳng biết. Tôi có thể nhận thấy sự căng thẳng, và lòng thành kính trên gương mặt má ngày trước và bây giờ là một sự trùng khớp. Tôi thấy mình yếu đuối với nỗi sợ hãi đang lan chảy khắp cơ thể. Miệng tôi mấp máy chỉ chực mong chiếc lưỡi biến mất để má chẳng còn cơ hội bắt tôi lập lại lời thề. Trong lúc tôi thề với má cách đây mấy năm và ngay bây giờ khi sắp lập lại, tôi vẫn cảm nhận một sự thiêng liêng huyền bí nào đó đang tràn ngập khắp lòng hồ, có phải nó đang trở mình chờ đợi?

Lần trước, cũng vào buổi trưa vắng ngắt như vầy, vẫn một không gian lặng lẽ chỉ có ba chúng tôi, má, tôi, và Mang Vàng. Tôi lạnh người nhận ra không phải do ánh nắng vàng gắt của buổi đứng ngọ, mà rõ ràng mặt hồ Mang Vàng đang sáng lòa lên, như thể nó cũng đang muốn lắng nghe, muốn làm nhân chứng, muốn chia sẻ và nuốt lấy điều mong mỏi thiêng liêng của má. Tôi bắt đầu nói trong cơn mê sảng, nỗi sợ hãi lẽ ra phải khiến tôi quên tất cả, nhưng không, tôi nghe mình lập lại chính xác, rõ ràng từng tiếng một không chút vấp váp.
Con thề sẽ trả ơn nuôi dưỡng của má bằng cách sanh cho má một đứa cháu nội. Nếu một lần sanh không xong, con sẽ sanh cho má lần khác cho đến khi nào đứa bé hiện diện trên đời rõ ràng là một con người, rõ ràng là một đứa cháu nội xinh xắn khôn ngoan của má. Nếu con không hoàn thành lời thề, Mang Vàng sẽ là nơi chôn vùi linh hồn con, sẽ là nơi con tạ lỗi cho công nuôi dưỡng của má.

Tôi nhận ra nước mắt đang chảy nhoè gương mặt mình, cũng như nhận ra mặt hồ dường như sáng dịu lại ngay khi tôi kết thúc lời thề. Má vẫn không nhìn tôi, mà đứng dậy. Một tay má chống gậy, một tay thò vào túi áo lấy ra một viên đá. Má nheo cặp mắt sợi chỉ nhắm hướng liệng nó ra mặt hồ. Lại một lần nữa tôi chứng kiến viên đá lướt đi như nhảy múa trên những bậc thang sóng năm lần, rồi mới bị lòng hồ nuốt chửng. Má khẽ nhếch môi mỉm cười, ngồi xuống trở lại trên bờ cỏ.
Con giỏi lắm!
Má biết con là đứa có hiếu.
Cũng may là hôm trước má ngăn không cho con đi.
Nghĩa là sao má?
Tôi giật mình, nhưng bất chợt nhận ra mình đang sẵn sàng chờ đợi điều gì đó.
Người ta nói mấy tháng nay không thấy vợ chồng con cái thằng Cường tập trung về láng nữa.
Nghĩa là sao má ?
Tìm vàng ở trong núi mà không thấy về thì chắc chắn bị hầm sụp, đè chết hết rồi.
Má nói xong im lặng hồi lâu, tôi thấy nét mặt má tỉnh rụi.
Sao người ta không báo cho mình ngay hở má?
Trong đó đông người nhưng mạnh ai nấy lo việc của mình, chẳng ai biết ai, cứ đúng một tháng mới kéo nhau về họp ở láng, kiểm tra thấy thiếu nhiều lần thì biết là bỏ mạng rồi.

Tôi lén thở ra một cái thật chậm, cảm thấy người nhẹ nhõm hẳn, vậy ra nãy giờ nỗi lo ngại hoang mang của tôi là vô cớ. Má không thể bắt ép tôi ngủ với anh Cường thêm lần nữa để kiếm cháu trai. Tôi bất chợt thấy mình nên biết ơn cái chết của anh Cường. Vậy là chắc cú sẽ ra đi được rồi, chỉ cần chờ Nỉ đẻ nữa thôi thì tôi đã có thể bắt đầu sắp xếp cho mình hướng đi mới. Rời khỏi má lúc này cũng thật ác, nhưng tôi chẳng thể tiếp tục cuộc sống này. Tôi ghét Hữu, ghét căn nhà lá rách rưới trên ngọn đồi, ghét những gánh nước trĩu đôi vai đã quá thì xuân sắc. Ghét ống nhổ đỏ loét của má, ghét cặp mắt sợi chỉ ti hí không biết làm sao dò đoán cảm xúc, ghét cái hồ Mang Vàng kỳ dị đã vào hùa với má làm khổ tôi. Vì nó mà tôi đã phải dắt má đi bộ cả đoạn đường dài để đến với nó mỗi tuần vài lần, trong suốt một thời gian dài đến quá đáng vừa qua. Cái hồ đã làm tôi khổ từ khi mới chỉ là một đứa trẻ. Hồi đó để đến gần bờ hồ, tôi phải luồn thân thể nhỏ bé qua những bụi gai nhọn hoắc, vạch trước đường cho má đi vào. Sau này lớn lên một chút, tôi khôn hơn, biết cầm theo rựa để đi đến đâu phác cây cối đến đó. Con đường mòn nhỏ xíu dẫn vào công viên hiện giờ, chính là con đường mà tôi đã dắt má đi qua đầu tiên, đi đến mòn mỏi gần nửa cuộc đời tôi. Má mê Mang Vàng đến nỗi ngồi đó liệng đá cả ngày, mặc cho tôi chờ đói đến rã ruột. Dù sao cái công viên thoáng đãng của bà Mai cũng giúp tôi không phải khổ sở nhặt những bệt gai bám dính trên hai ống quần nữa. Nếu bà ấy có linh thiêng như đám người kia nói, tôi mong bà nhận lấy sự biết ơn này của tôi. Nhưng thôi, từ nay xin giã từ bà, giã từ hết, tôi sẽ đi, đi đến bất cứ đâu để được sống cho chính cuộc đời mình mà không phải lo lắng hay áy náy về ơn nghĩa của má nữa.

4.

Em sẽ đi nơi khác ở, anh ở lại mà sống đàng hoàng, chăm sóc cho má
. Tôi nói với Hữu khi gã đang dựa người vào gối khề khà nhắm miếng ổi với rượu.
Mày đi đâu thì đi đi mày!
Anh cứ như vầy hoài má khổ nữa cho coi!
Biến!
Em chỉ vô nói vậy thôi!

Tôi quay trở về buồng của mình, không tức giận như mọi lần nữa mà lòng thắt lại khi nghĩ đến má. Tôi lôi hai cái túi xách cũ kỹ hôm nọ dưới gầm tủ ra, xếp quần áo vào đó, nhận ra mình đang bùi ngùi khi chuẩn bị rời khỏi căn nhà. Tôi nhớ tới con Nỉ, nó đã đẻ cách đây mấy hôm, cũng lại được mười ba đứa. Trả lại nó đứa ra sau chót thì còn lại mười hai như mọi lần, con nào cũng mạnh khoẻ. Những lần trước tôi đều lánh đi nơi khác khi Nỉ ăn thịt con, nhưng lần này tôi thả con nó vào, rồi đứng nhìn nó ăn cho đến hết miếng thịt cuối cùng. Sau đó tôi xách nước vào chuồng, bò xuống chậm rãi cọ từng vết máu chứ không cố làm nhanh như trước. Tôi muốn giữ lại một kỷ niệm khó quên về Nỉ, vả lại tôi chỉ còn ở cạnh nó trong đợt đẻ này, sau đó nó phải tự tìm cách cho má biết sự kỳ quặc của nó. Tôi biết mình sẽ nhớ nó lắm, cũng như phải cám ơn nó vì nhờ nó mà tôi sẽ yên tâm hơn khi ra đi. Nó sẽ giúp má một số tiền khá lớn để phòng già sau này, mà còn con Nỉ thì chắc chắn má và Hữu không lo đói. Tôi sẽ khuyên má bán khuôn ruộng đi, vì má đâu thể ra đó mà trồng trọt chăm bón được. Có Nỉ là đủ rồi. Tôi cởi quần áo, tự nhủ sẽ ra thăm nó sau khi thay đồ xong. Có lẽ nó sẽ nhớ tôi và bỏ ăn lần nữa, nó đã từng như vậy khi tôi nằm trong ổ đẻ bé Bí, phải đến khi thấy tôi khoẻ dậy ra thăm thì nó mới chịu ăn trở lại.

Má lại làm tôi giật mình bởi kiểu đi nhẹ nhàng như thể muốn nhát ma, tôi lật đật kéo áo che lấy bộ ngực. Má mỉm cười đứng ở cửa chống gậy nhìn tôi một lát, rồi đi đến gần. Tôi có cảm giác cặp mắt má đang từ từ lùng sục châm chích lên khắp thân thể mình. Bất chợt má đưa tay giật mạnh tấm áo của tôi vứt xuống giường. Tôi hết hồn ngồi thụp xuống, lấy chân tay che lấy sự trần trụi của mình một cách vụng về. Tôi chưa từng loã thể hoàn toàn như vầy trước mặt ai. Trước kia khi ngủ với anh Cường, anh cũng chỉ dám cởi mỗi quần tôi ra, mà không đụng thêm đến bất cứ nơi nào trên thân thể tôi hết. Anh còn cẩn thận dùng một dãi vải buộc vào mắt tôi, để tránh cho tôi phải ngượng ngùng khi gặp anh sau đó.
Má làm gì vậy? Má đi ra ngoài cho con thay đồ đi!
Cả má mà con cũng ngại sao? Má vừa cười móm mém với bã trầu trong miệng, vừa nói chậm rãi.
Con không ngại, nhưng kỳ thấy mồ!
Kỳ gì? Con đứng dậy cho má ngắm thân thể của con nào! Má muốn xem má đã nuôi con xinh đẹp đến nhường nào.
Con…

Tôi còn đang lúng túng, chẳng biết nên làm gì thì má đột ngột chộp tay tôi kéo mạnh. Tôi mất trớn té lăn ra nhà, rồi lật đật cúm rúm đứng lên. Trần truồng trước mặt má, tôi nhận ra mình bỗng bé nhỏ và yếu đuối biết mấy, trong khi má mạnh mẽ, an toàn trong bộ áo quần với cây gậy gỗ vững vàng cầm tay, gương mặt đầy vẻ tự tin tinh quái. Tôi rợn gai ốc khi má chợt buông cây gậy ra mặc cho nó lăn xuống đất, rồi đưa hai bàn tay nhăn nheo bóp lấy hai bầu vú của tôi. Tôi đứng chết trân nhìn gương mặt má như bị mê hoặc, trong lúc đôi tay má đi lần xuống eo và mông tôi. Rồi má đi vòng sau lưng tôi, dùng ngón trỏ vẽ dọc lên xương sống, đưa ngón tay xuống dưới mông rồi đi dần vào hậu môn của tôi. Trong lúc tôi sắp bật khóc, má bỗng cười vang khi nhận ra những bệt gai ốc đang nổi từng lớp trên da thịt tôi. Má tắt ngay nụ cười trên môi như người ta thổi phụt một ngọn đèn, rồi ngồi xuống giường cho phép tôi mặc lại quần áo.
Có chuyện này má muốn nói thẳng với con. Tôi khựng người ngưng tay cài cúc áo, nhận ra giọng của má đanh lại.
Chuyện gì vậy má? Tôi cài nhanh nút, ngồi xuống giường vừa hỏi vừa xếp đồ bỏ vào túi xách, cố ý để má thấy tôi đã chuẩn bị ra đi.
Hôm bữa má dắt con ra Mang Vàng, má kêu con lập lại lời thề mà con không hiểu ý má sao?
Con hiểu mà, bữa đó má muốn báo cho con biết gia đình anh Cường bị tai nạn phải không?
Không phải! Má muốn con biết là con bé Bí đã chết, nghĩa là lời thề của con chưa hoàn thành. Con không thể rời khỏi má bây giờ được!
Tôi sững ngừơi im lặng vài giây.
Nhưng anh Cường mất rồi, con có muốn hoàn thành lời thề cũng không được, làm sao con ngủ với anh Cường lần nữa?
Thì con ngủ với thằng Hữu.

Tôi nhìn má chết trân. Má nghĩ sao khi nói như vậy, chẳng lẽ má không biết Hữu tàn tật sao, má không biết Hữu không thể có vợ sao?! Tôi nghĩ vậy, nhưng chẳng thể nói nên lời, tôi đến gần má, quì hai gối xuống ngước mặt nhìn thẳng vào mắt má, nhưng cũng như mọi lần, tôi chẳng thể thấy được điều gì trong đó. Tôi nghĩ má đang bị lẩn thẩn gì đó, nhưng không, má vẫn tiếp tục.
Con yên tâm đi, chỉ một đứa cháu nội thì má sẽ để con đi mà! Má hạ thấp giọng khi thấy vẻ mặt tôi như người sắp chết.
Con không hiểu gì hết! Tôi nói.
Tối hôm qua má đã thử rồi, má biết thằng Hữu có thể cương được.
Con không hiểu! Tôi lập lại.
Tối hôm qua lúc nó ngủ, má đã sờ nó, má thấy nó vẫn cương lên như ba nó ngày xưa, nghĩa là nó có thể có con đó, con đã hiểu chưa?
Nghĩa là má muốn con ngủ với anh Hữu như ngủ với anh Cường?
Ừ.
Con mà đi rồi thì má còn ai đâu, cho má đứa cháu đi, rồi con muốn sao cũng được!
Má nói xong vẫn không nhìn tôi, chỉ khom người xuống lượm cây gậy rồi bước ra phía cửa. Má chưa đi hẳn, mà dừng lại nói thêm như để trấn an tôi.
Con giúp má càng sớm càng tốt, có cháu ngày nào má để con đi ngay ngày đó.

5.

Con trai!
Tôi mệt lả thiếp đi khi nghe tiếng má mừng rỡ vang lên. Con trai à, tốt quá!

6.

Buổi trưa oi bức, tôi lờ đờ tỉnh dậy, có cảm giác mình đang bị nằm trong một chiếc hộp chật hẹp đến ngộp thở. Đầu nhức và nặng chịch như thể vừa qua một giấc ngủ vật vờ dài đăng đẵng. Chẳng có ai ở đây. Bất chợt tôi nhận ra căn buồng lâu nay của mình im ắng kỳ lạ, mọi khi nó cũng chẳng nhộn nhịp gì, nhưng hôm nay sự im ắng không bình thường chút nào. Tôi muốn nhổm dậy, nhưng cơn nhói đau ở bên dưới khiến tôi sực nhớ mình vừa qua cơn sinh nở. Tôi nằm yên trở lại, ngạc nhiên vì lần nằm ổ này khác hẳn lần sanh bé Bí trước kia. Dưới gầm giường không có chút than hồng nào, trên đầu tủ không có bình cơm rượu nếp than và bình nghệ trộn với mật ong mà má hì hục làm cho tôi hồi đó còn dư lại. Mà chẳng lẽ đầu óc tôi tệ hại như vậy, vì tôi nhớ rõ mấy tháng trước đã thấy má dằm thêm cả đống nghệ tươi bỏ vào bình để khi tôi nằm ổ ăn cho tốt sữa. Mà con tôi đâu, đứa bé lẽ ra phải cùng nằm ổ với tôi đến khi tròn tháng mới được ra ngoài kia mà.

Sự ngạc nhiên khiến tôi cố gắng sắp xếp lại mọi hình ảnh trong đầu. Má rất kỹ khi chăm sóc trẻ con. Hồi đó dù không thích bé Bí, má cũng thức khuya chăm sóc cho bé và tôi cả ngày đêm không rời, vậy mà nãy giờ chẳng thấy bóng dáng má đâu. Cơn đau từ bên dưới khiến tôi không dám ngồi dậy. Tôi bắt đầu ngạc nhiên hơn, khi nhận ra xung quanh mình chẳng có vật dụng nào cho thấy vừa có việc sinh đẻ trong căn buồng. Từ tấm khăn lông cho đến cái bình thuỷ hay cái tã em bé, kể cả cái bô cũng chẳng có ở đây. Nghĩa là sao? Tôi cố không bật dậy tìm má, nhưng nỗi hoang mang càng lúc càng tăng khiến tôi gắng gượng cong người dậy. Trong lúc tôi còn đang nhấp nhổm sợ đau không dám đặt mông ngồi xuống giường để xỏ đôi dép, thì má chợt đi vào với nụ cười tươi rói trên môi.
Con ngủ dậy rồi hả?
Dạ… má mới đi đâu về vậy?
Má đi chợ, má thấy con ngủ say quá chắc không dậy đi chợ nổi nên đi cho rồi.
Con đang nằm ổ sao đi chợ được hả má? Tôi ngạc nhiên nhìn ngay xuống giỏ rau trên tay má.
Con nói gì? Ngay lập tức má tỏ ra ngạc nhiên hỏi lại.
Thì con mới vừa đẻ em bé mà! Tôi vừa cười gượng gạo vừa cố nói cho rõ ràng.
Ủa, con mới nằm mơ hả?! Má há miệng nhìn tôi như thể tôi vừa nói điều gì kỳ cục lắm.
Thì con vừa đẻ em bé thiệt chứ đâu có mơ đâu má! Tôi giật mình nhận ra mình đang nói một điều hiển nhiên một cách khổ sở, như sợ má không tin mình.
Con còn chưa ngủ với thằng Hữu, làm sao mà đẻ em bé được, con có bị gì không?
Má nhăn mặt tỏ ra khó chịu với tôi, trong khi tôi ngơ ngác nhìn má chằm chằm chẳng hiểu má nói gì. Má đưa tay sờ lên trán tôi nói tiếp,
Con thấy trong người khó chịu hả? Con mệt hả? Hay lại tới lúc có kinh rồi?

Xong, không để tôi trả lời, má để giỏ rau và cây gậy lên bàn, đi đến cuối giường đưa tay thọc vào quần tôi. Má nhẹ nhàng ngọ nguậy trong đó một hồi, còn tôi gồng người lên vì sợ má chạm phải chỗ đau. Má lấy tay ra, lau vào khăn rồi nhìn tôi cười nói,
Người ta khi có kinh thì thường nằm mơ tùm lum, mệt mỏi với lại hay cáu gắt. Con cứ nằm nghỉ trên giường cho đến khi nào hết mệt thì dậy. Lát nữa má vô nói chuyện với thằng Hữu trước, để nó chuẩn bị sẵn chờ con khi nào con hết mệt

Tôi chưa kịp hét lên rằng không phải tôi đang có kinh, thì má đã cầm cây gậy và giỏ rau trên bàn, trìu mến nhìn tôi lần nữa rồi quay lưng đi ra cửa. Lát sau, tôi nghe tiếng nồi niêu va chạm và mùi xào nấu dậy lên từ nhà bếp. Tôi sờ tay vào quần, đau, đau lắm, đau như cái hồi tôi đẻ bé Bí vậy, nhưng chẳng lẽ tôi chỉ nằm mơ. Chẳng phải tôi đã cực nhọc mang thai đến gần chín tháng mười ngày. Chẳng phải tôi đã phải ở suốt ngày đêm trong nhà, không được đi ra đường sợ lời thị phi như lời má dặn. Tôi đã leo lên giường dang chân, phó thác sinh mệnh mình cho bàn tay già nua của má vì không dám nhờ bà đỡ. Tôi đã ngồi may tã cho con trong suốt những tháng cuối. Chẳng lẽ đó chỉ là mơ? Một giấc mơ dài đến chín tháng mười ngày. Trời, tôi vùi mặt vào gối, ngơ ngác và lại tiếp tục sắp xếp các hình ảnh trong đầu.

Bụng tôi đang nhẫy ra, lùng bùng chưa kịp săn lại. Vú tôi nhức lên với cả bầu sữa cuồn cuộn bên trong. Không, không thể là mơ được. Tôi đã phải vào buồng của Hữu với tất cả can đảm có được. Tôi đã né tránh ánh mắt ngạc nhiên đến kinh dị của gã, khi gã thấy tôi bước vào buồng không một mẩu vải trên người. Chẳng phải má đã dặn tôi làm như vậy sao, má đã nói làm như vậy gã mới cương lên nhanh được, và tôi chỉ cần chịu đựng một chút là xong. Chẳng phải tôi đã chứng kiến Hữu hãi hùng lăn mình vào tấm mền né tránh khi tôi tiến đến gần. Chẳng phải tôi đã cả gan bước đến, dùng hai tay kéo cái mền ra, dí thân thể tôi vào mặt gã. Tôi đã bồng cái bị thịt hôi hám nhầy nhụa đó lên tay, kéo mặt gã vào bầu vú tôi để mong gã cương lên nhanh chóng. Tôi đã xấu hổ đến bất lực, khi gã cứ há hốc mồm, giương mắt nhìn tôi và cu thì mềm oặt. Tôi làm gã hoảng sợ đến nỗi gã gào lên như con thú đang bị sập bẫy, rồi chửi thề ỏm tỏi như sợ tôi cướp lấy mạng sống nhỏ nhoi của gã. Gã cố đẩy tôi ra bằng cái tay duy nhất có cái ngón lủng lẳng, gã vã mồ hôi ra như tắm khiến những sợi lông màu bàng bạc trên cái ngón dính bệt vào nhau nhớp nháp, và điều này càng khiến gã hôi như một hũ mắm chưa chín tới.

Tôi đã điên cuồng, quẳng mạnh gã xuống giường như một con vật ghê sợ đã bám chặt lấy đời tôi. Một con ký sinh của má, một người anh nuôi ghê tởm của tôi. Tôi nhận ra thân phận nô lệ của mình, khi biết nếu không có má thì tôi chẳng được hiện hữu trên đời để trở nên một nô lệ. Tôi ném thân thể tôi lên giường của gã, vồ lấy thân thể gã như một con hổ đói, mặc cho gã run rẩy, ngơ ngác, sợ hãi trước sự trơ trẽn mạnh bạo của tôi. Tôi vục mặt mình vào gã bú ngấu nghiến, bú để hiểu rằng nếu hôm đó má không ra Mang Vàng chơi trò liệng đá, nếu hôm đó má không nhặt đứa bé gái bị bỏ rơi ở bờ hồ đem về, thì hôm nay tôi sẽ không cố hết sức để tìm cách rời khỏi má. Và chắc chắn tôi cũng không cầm cu của Hữu tự bỏ vào mình, để sau cùng nhận ra gã vừa ở trong mình vừa đái vừa ỉa với tất cả khoái cảm đột ngột được tôi khai phá. Đột ngột đến điên cuồng, gã đã tru rú vì sung sướng cho đến hết đêm hôm đó.
Vậy ra tất cả chỉ là mơ sao?!

7.

Thằng bé bướu cổ ngồi thu lu ở chiếc ghế cuối cùng, nơi sát chân ngọn đồi có nấm mộ của bà Mai, và bụi râm bụt thì vẫn tươi tắn với những giọt sương đọng trĩu trên cành lá. Đã nhiều năm tôi không ra công viên, nhiều năm rồi má không cho phép tôi cùng đi coi má liệng đá. Mà cũng từ lâu má chẳng ra thăm Mang Vàng, má đứng trên đồi nhìn về hướng Mang Vàng, nói muốn ở nhà để chăm sóc cái bụng bầu của tôi. Thằng bé ngồi yên ở đó, trong ánh sáng nhập nhoè của ngọn đèn vàng ai đó thắp trên mộ bà Mai. Khác với trước kia, nó nhìn tôi mỉm cười hiền lành, hai bàn tay đan vào nhau như ngượng ngùng trước người lạ. Tôi không lại gần nó vội, mà bước đến bên bờ Mang Vàng. Mặt nước tối tăm khiến tôi rùng mình. Tôi quay lại nhìn thằng bé, nó vẫn nhìn tôi với đôi mắt trợn ngược và nụ cười hiền lành khi nãy. Hèn gì chẳng ai ra công viên này nữa, hèn gì tôi đi lang thang cả vài cây số đến đây mà chẳng thấy bóng người nào trên đường. Linh hồn của bà Mai thiêng thật, và cả thằng bé nữa. Tôi đến ngồi xuống bên nó, tôi thấy nó gầy hơn trước nhiều, những bệt thịt trên cổ nó cũng thay đổi, dường như ít xấu xí hơn thì phải. Tôi chợt nhớ hôm nay mình không mang bánh khoai mì nướng, rồi lại chợt nhớ nó chỉ là linh hồn thì làm sao mà ăn.

Thằng bé xoay người nhìn vào mắt tôi, hình như nó lanh lợi hơn trước nhiều. Nó đưa tay sờ lên bụng tôi, nắn nắn vài cái rồi nhoẻn miệng cười,
Sao giờ này cô còn ra đây?
Cô ra đây hóng mát. Tôi trả lời, nhận ra thằng bé không gọi mình bằng “chị” nữa mà lại là “cô”.
Khi nào cô sanh em bé?
Vài tháng nữa. Tôi trả lời nhanh, nhíu mày nghi ngờ vì hình như giọng thằng bé đã khác hẳn hồi trước.
Con cũng có em bé. Nó nói vẻ mặt vui hẳn lên.
Em bé nào? Tôi chợt nhận ra mình đang chăm chú nhìn nó.
Nội nói em bé của con sẽ đẹp lắm, đẹp hơn con nhiều! Nó nhìn ra Mang Vàng nói như đang nói một mình.

Lúc này tôi bắt đầu nhận thấy thằng bé này khang khác với thằng bé ngày trước, nhưng nó cũng bị bướu cổ, cũng có cái nhìn khó khăn và vẻ mặt cũng đáng sợ. Có lẽ mình lại ngớ ngẩn, lại nhầm lẫn, tôi tự nhủ, nhiều năm nay tôi vẫn thường xuyên quên tới quên lui, khổ sở với những điều kỳ quặc.
Hồi trước má đã phải thuê thầy cúng về cúng cho tôi, vì tôi cứ chỉ vào bầu vú căng sữa và cái bụng lỏng lẻo của mình khẳng định rằng tôi vừa sanh cháu nội cho má. Ông thầy cúng đã cột tay chân tôi, bắt tôi nằm xuống ở giữa một vòng tròn nhang mịt mù khói cắm xung quanh. Ông lấy vải bịt chặt mắt tôi và cho tôi uống một thứ nước sền sệt nhạt thếch. Tôi đã mê đi, rồi tỉnh dậy, lại mê đi, rồi tỉnh dậy với thân thể bầm tím rướm máu. Má nói do ông thầy dùng cây vông đánh để đuổi con ma, đuổi hoài nó mới ra được. Má nói bây giờ tôi chẳng phải sợ gì nữa, còn cái bụng từ từ sẽ săn lại, và bầu vú cũng sẽ rút sữa dần.

Tôi nhìn thằng bé nghi hoặc, rồi mạnh dạn đưa tay sờ vào nó. Da nó ấm đến nỗi tôi muốn ôm nó vào lòng cho đỡ lạnh, do đi lén má nên tôi chẳng kịp mang chiếc áo khoác. Nó vẫn nhìn tôi cười, lại đưa tay vuốt lấy bụng của tôi.
Nội của cưng đâu? Tôi hỏi.
Nội đi công chuyện, nội nói nửa tiếng sẽ quay lại. Nó trả lời trong lúc lại đưa mắt nhìn ra mặt hồ.
Nửa tiếng sẽ quay lại. Tôi mấp môi lập lại lời của nó, thì ra nó vẫn là linh hồn của thằng bé ngày trước, chỉ khác là nó không gạch những dấu gạch trên mặt đất nữa.
Chợt thằng bé đứng lên, nó nắm tay tôi kéo ra gần bờ hồ. Nó đưa tay vào túi quần lấy ra một viên đá. Tôi mở to mắt ngạc nhiên nhìn nó khum người như má để liệng viên đá ra mặt hồ, chẳng biết viên đá có trượt đi năm lần không vì mặt hồ tối đen. Một ý nghĩ gì đó lướt nhanh qua đầu, tôi vội vàng nắm chặt lấy hai bàn tay nó, lập cập hỏi,
Cưng có muốn cô đưa cưng về nhà nội không?
Con không nhớ nhà! Nó đáp.
Tôi bắt đầu thấy thất vọng và nhận ra mình đang hỏi những câu nhảm nhí, nhưng tại sao lại không cố thử thêm lần nữa.
Cưng cố nhớ đi, rồi cô đưa cưng về!
Không, nội- nói- nửa- tiếng- sẽ- quay- lại. Nó trừng mắt nhìn tôi, dằn mạnh từng tiếng một.

Tôi buông tay nó ra, quay người chạy nhanh khỏi công viên với tất cả sự thất vọng. Thằng bé linh thật!

8.

Tôi chỉ biết thằng bé đó thật sự không linh khi nằm trong buồng chờ chuyển dạ, và lắng nghe tiếng ông Cối ở ngoài bàn trà thao thao kể với má về một câu chuyện ma chẳng có gì đáng sợ. Ông nói công viên cần phải được dẹp bỏ, nó đã quá vô tích sự và làm cho cả thị trấn trở nên u ám. Người ta chẳng ai dám bén mảng đến công viên, nó ngày một xuống cấp, các bức tường đã mục rữa và cỏ mọc um tùm. Ông nói công viên hoang vắng đến nỗi nếu hôm trước ông không đến nhìn sơ qua nó và đốt cho bà Mai nén nhang, thì chắc cái xác của thằng bé bướu cổ đã rã ra bốc mùi khắp vùng rồi. Ông khẳng định với má rằng lần trước ông đã mang xác thằng bé bướu cổ đi chôn đàng hoàng. Ông còn cẩn thận làm cái bia bằng ván khắc lên đó cái ngày nó chết cho nó đỡ tủi, vậy mà bây giờ cái xác của nó lại xuất hiện và bắt ông phải vác nó đem chôn lần nữa. Ông kể rằng ông đã ra cái mộ cũ của thằng bé, đào cái hòm lên rồi bỏ nó vào lại trong đó. Nó còn nhát ông đến nỗi xui cho ông thấy trong hòm đã có sẵn một bộ xương khác, nhưng ông đã cười hề hề rồi vứt cái xác vào trong mà chẳng thấy gì đáng sợ. Ông nói trẻ con dù đã ra ma thì vẫn luôn khoái nghịch ngợm. Có lẽ hồn của thằng bé bướu cổ muốn giỡn với ông vì thấy ông bự con nhất thị trấn.

Bữa đó má chẳng nói chuyện gì nhiều với ông Cối, vì ông đến ngay vào lúc má sắp chờ cháu nội. Má dặn tôi không được lên tiếng, nếu không chỉ cần ông Cối đi xuống đồi là cả thị trấn biết tôi ngủ với Hữu, người ta sẽ xầm xì rồi kéo cả đoàn lên đây xem. Thật ra tôi cũng chẳng còn hơi sức nào mà rên la, vả lại tôi chỉ muốn ông Cối ở lâu hơn để tôi được nghe rõ câu chuyện. Vậy ra tôi đã bỏ đói thêm một thằng bé bướu cổ nữa. Sau lần gặp nó ở công viên, tôi đã không trở lại vì cho rằng linh hồn thì đâu cần ăn bánh. Tôi tự nhủ sau khi sanh em bé, tôi sẽ ra mộ của hai đứa nó để đốt nhang. Hoặc trước khi trao cháu nội lại cho má để ra đi, tôi sẽ ghé cúng cho chúng cả thúng bánh khoai mì nướng dù cho chúng có ăn hay không.

9.

Giọng của ông thầy cúng mấy năm trước vang lên từ đàng xa, vào lúc tôi đang vật vã la hét, nguyền rủa Hữu một mình với hai bầu sữa căng cứng ở trong buồng. Tôi hoảng hốt đến quên cả cơn đau nhức, chạy ngay ra cửa nhìn để hi vọng đó không phải gương mặt của ông ấy. Nhưng không, đúng là ông ấy. Ông đi thẳng vào nhà như thể không thấy tôi đang sững người trước sự xuất hiện của ông, rồi ông lẩn vào buồng trong của má. Lát sau tôi thấy má xuống bếp và cầm theo một cái chén không mang vào buồng. Tôi kinh hãi nhận ra điều sắp xảy ra, vội chạy trở lại vào giường kéo mền trùm kín người.

Quả y như tôi đoán, lát sau tôi nghe tiếng chân ông thầy và tiếng gậy của má lộp cộp đi vào buồng. Ông thầy nhảy lên giường, dùng hết sức giật cái mền ra khỏi người tôi. Trước vẻ run sợ của tôi, một tay ông cầm sợi dây dù, một tay cầm cái chén có thứ nước sền sệt trên tay quơ đi quơ lại, miệng lẩm nhẩm đọc những lời gì nghe không rõ. Nhìn vào cái chén, tôi hiểu chuyện gì sẽ lại xảy ra. Tôi vội vàng tụt xuống giường, quỳ xuống đất, chắp tay lạy ông thầy và má lia lịa. Mặt má đanh lại không nhìn tôi mà quay nhìn lên bức vách, trong khi ông thầy cúng tiến đến gần tôi cười hềnh hệch,
Bà thấy chưa, ma quỉ khi thấy thầy cúng là luôn quì lạy như vậy. Ông nói với má lúc đã chộp được cánh tay tôi.
Ừ. Má đáp gọn lỏn.

Bất ngờ tôi dùng hết sức vùng khỏi tay của ông thầy. Bị bất ngờ, chén thuốc trên tay kia của ông đổ ụp xuống nền đất ngấm hết sạch. Ông thầy giận dữ chộp nắm cây tầm vông đã để sẵn trên bàn, đuổi theo tôi quanh nhà vụt lấy vụt để. Tôi chạy đến má ôm lấy lưng, van vỉ loạn lên.
Má cứu con, má cứu con, con hứa không để ma nhập nói năng loạn xị nữa, con hứa không nói tầm bậy nữa, con hứa, con hứa, má ơi!
Má khom xuống nhìn tôi rồi vội đưa tay ngăn ông thầy lại,
Chắc con ma nó sợ ông quá nên trốn rồi, ông đừng đánh nó nữa, bây giờ ông đánh là đánh con gái của tui đó!
Làm sao bà biết là nó trốn rồi? Ông thầy tỏ vẻ bất bình hỏi.
Ông cứ để tôi thử xem sao. Má nói rồi cúi xuống nhìn sát mặt tôi, dịu giọng.
Con còn nói con vừa sanh cháu nội cho má nữa không?
Dạ… không, con chưa sanh cháu nội cho má. Tôi mạnh miệng.
Tốt, vậy tại sao vú con căng sữa?
Dạ, tại ma nhập.
Tại sao bụng con nhão xuống?
Dạ…
Sao con không nói? Con ma nó còn nhập con à?
Dạ không. Tôi hoảng hồn nói.
Vậy tại sao bụng con nhão xuống?
Tại con ma nó nhập, má ơi! Tôi hét lên, nước mắt chảy ròng muốn ngất lịm.
Con đã ngủ với thằng Hữu lần nào chưa? Má hỏi tiếp, cố gắng nói thật nhỏ để ông thầy không nghe.
Dạ chưa.
Ừ.
Nói xong má quay lưng ra nhìn ông thầy một lát, rồi cúi xuống lượm hết mấy lá vông rụng dưới đất. Má bỏ chúng vào bịch nilon xong kéo tay ông thầy đưa xuống đồi, nói,
Ông thấy đó, ông giỏi đến nỗi chỉ trị một lần cách đây đến mấy năm mà con ma gặp lại ông đã sợ hết hồn. Nếu lần sau mà nó bén mảng đến gần con gái tôi, tôi sẽ lại làm phiền ông lần nữa.

10.

Tôi đến công viên với cái bụng bầu mới, cũng vào gần nửa khuya như lần trước. Lại đã mấy năm trôi qua, sáng nay khi phát hiện mình có bầu tôi vừa vui mừng vì sắp dập tắt được lời thề dại dột, vừa tự hỏi hay đây lại là một giấc mơ mới. Hay tệ hơn, có phải con ma oái oăm nào lại đang tìm chỗ trú ngụ trong tôi. Tôi đã hứa với má nếu xảy ra tình trạng đó lần nữa, tôi sẽ không la hét hay nguyền rủa Hữu nữa, mà sẽ nằm ngoan trên giường dưỡng sức chờ cho vú và bụng trở lại bình thường. Nếu không ông thầy sẽ lại đến với mớ tầm vông trong tay, và má lại phải tốn một khoản tiền vô lý cho ông ấy.

Nhưng đầu óc tôi lại không ngoan ngoãn như tôi muốn, nó cứ loạn xị lên với những hình ảnh về những đứa con trong mơ, những giấc mơ ghê rợn. Hôm bữa má đã tức giận vung cây gậy lên trời, hét vào tôi rằng tôi không nên mơ nữa, mà nên đẻ cho má một đứa cháu cho ra hồn. Tôi không dám cố thuyết phục má rằng tôi đã ngủ với Hữu nữa, mà chỉ âm thầm hi vọng đó không phải là giấc mơ sau mỗi lần tôi từ buồng gã đi ra. Tôi tin mình đã ngủ với Hữu nhiều lần, những lần này gã đều cố gắng tự xoay sở lấy chứ tôi không phải chủ động nữa. Nhưng khoái cảm của gã vẫn y nguyên như lần đầu, gã vẫn vừa làm tình với tôi, vừa rên khóc, đái ỉa bê bết khắp người hai đứa và mền chiếu cho đến khi xong cuộc. Tôi kinh tởm mửa thốc tháo khi gã vẫn còn trong tôi. Đôi khi trong những lúc đó, tôi cố tin rằng tôi chỉ đang nằm mơ. Những giấc mơ như thật, chúng hiện diện dưới háng, trên bụng và bầu vú tôi khi tỉnh dậy. Tôi chỉ tin quả thật mình lại vừa mơ khi thấy má chống gậy xuất hiện trước cửa buồng với vẻ mặt tươi rói, tỉnh rụi. Chẳng có tiếng khóc trẻ thơ nào bên tôi. Má vẫn dịu dàng, nấu cơm đi chợ và lo cho những đàn con của Nỉ. Còn tôi chỉ việc vật vờ với những giấc mơ kinh dị.

Thằng bé bướu cổ đang đứng ném đá xuống mặt hồ khi tôi vào công viên, cách nó ném chẳng khác gì má và cũng giống hệt như thằng bé trước kia. Viên đá trượt đi chẳng biết được mấy lần, tôi chỉ biết chắc viên đá cũng đã chìm nghỉm dưới lòng hồ Mang Vàng như những viên khác. Nếu một ngày nào đó Mang Vàng cạn, chắc chắn trong lòng nó toàn là những viên đá của má. Còn nếu ngày nào Mang Vàng tràn nước lên làm ngập chìm thị trấn, thì cũng chắc chắn do những viên đá của má gây ra. Tôi lấy bánh khoai mì nướng cho thằng bé, nó nhìn tôi thở dài, mắt trợn ngược lên như sắp bóp lấy cổ tôi.
Con không ăn. Nó từ chối ngay.
Không ăn cưng sẽ chết đói như mấy bạn cưng trước kia! Tôi giận dữ cảnh báo nó.
Bạn nào? Con làm gì có bạn? Nó trợn tròn mắt ngạc nhiên.
Từ khi con ngồi ở đây đến giờ chỉ có cô đến nói chuyện thôi. Nó nói thêm.
Nhà mày ở đâu? Tôi vừa run rẩy vừa chộp lấy, lắc mạnh đôi vai nhỏ xíu của nó hỏi.
Con không nhớ? Nó hơi có vẻ hoảng sợ trước sự giận dữ vô lý của tôi, nhưng cũng trả lời cho xong và lặng lẽ nhìn xuống chân.
Ai đưa cưng đến đây? Tôi bình tĩnh lại để không làm nó sợ, nhưng biết mình sẽ run rẩy hơn khi nghe nó trả lời.
Nội.
Nội cưng khi nào đến đón?
Nội- nói- nửa- tiếng- sẽ- quay- lại.

Những ngày sau đó tôi quyết định sẽ dụ cho thằng bé bướu cổ ăn, tôi lén bọc những chiếc bánh khoai mì trong bao và mang chúng rời nhà vào lúc gần nửa đêm. Tôi không muốn thằng bé chết đói như hai đứa trước. Chỉ có sự hiện diện của nó mới giúp tôi hiểu rằng tôi không nằm mơ. Nó chắc chắn cũng không phải là linh hồn của một trong hai đứa kia, còn tôi cũng không phải bị ma ám như má thường nói. Tôi tin cuộc sống của tôi và nó vẫn đều đặn trôi đi không bị xáo trộn. Tôi nhận ra những nếp nhăn trên da mặt mình ngày mỗi rõ thêm, nhận ra mình gầy đi với những đêm chờ má ngủ để đến với thằng bé. Tôi đã khóc tức tưởi khi nó nhất định không ăn, và khi tôi nhét đại vào tay nó bịch bánh, nó đem ra bờ hồ ném xuống như thể đó là những viên đá vô dụng.

Tôi đã cười ầm lên, đầu óc đảo lộn với những hình ảnh chẳng biết nên sắp đặt ra sao cho hợp lý, khi đêm cuối cùng tôi đến công viên và nhận ra chẳng có bóng ma nào. Chẳng những thằng bé biến đâu mất biệt, mà cái công viên cũng không còn hiện hữu ở đó. Mọi thứ bị san lấp như chưa bao giờ hiện diện nơi đây, như chưa bao giờ tôi nhìn thấy, như những giấc mơ kỳ dị ám ảnh, cột chặt sự mong mỏi được rời khỏi bà má nuôi kỳ quặc của tôi.
Họ nói công viên bị ngọn đồi phủ lấp, là do bà Mai đội mồ đi ra ngoài quá nhiều đến nỗi lớp đất cát bị rung chuyển dẫn đến việc sụp lở cả ngọn đồi. Cái hòm của bà Mai thì chẳng ai tìm thấy, họ chỉ tìm thấy cái xác của thằng bé bướu cổ. Nó nằm nơi cái ghế cuối cùng dưới chân ngọn đồi. Bụi râm bụt ngã đè lên nó, đất đồi đè lên nó, nỗi trông ngóng bà nội đến mỏi mòn cũng đè lên làm trầy trụa bầm tím khắp da thịt, khắp linh hồn của nó. Ông Cối vác xác nó trên đôi vai to lớn của mình đem ra nghĩa địa như vác xác con thằn lằn. Nhiều năm qua ông đã già đi hẳn, ông vừa đi vừa cười hỉ hả, “Mày siêng giỡn quá hả con?”. Ông cũng vứt xác nó vào cái hòm ván mục của hai cái xác trước, ông đeo kiếng vào tỉ mẩn khắc thêm lên cái bia gỗ hai cái ngày chết của hai cái xác sau này, “Mày muốn giỡn thì ông cũng giỡn với mày nghe con trai!”.
Người thị trấn tin khi công viên không còn, thì chắc chắn hồn bà Mai hay hồn thằng bé bướu cổ cũng chẳng còn chỗ trú, chắc chắc người lớn và trẻ nít sẽ không còn sợ ra đường vào buổi tối nữa.

Tôi bắt ghế ra ngồi gần chuồng của Nỉ. Nỉ đã chết sau khi đẻ lứa cuối, khi tôi đang nằm ổ không thể ra chuồng giấu đứa con sau cùng dành cho nó. Má đã kêu người đến giải thoát cho nó vì tưởng nó bị điên loạn. Cái ngón dài lòng thoòng có chùm lông màu bạc của Hữu cũng rụng ngay bữa Nỉ chết, thay vào chỗ đó là một bệt tròn tròn màu đen như một vết sẹo đã lâu năm. Con Nỉ đang sống trong chuồng là một con trong lứa sau cùng của Nỉ. Nỉ đang sục mõm ăn một cách sung sướng, trong lúc tôi ngồi yên theo dõi tấm lưng cong oằn và đôi tay gầy sọm của má múc từng thau cám bỏ thêm vào máng. Nắng yếu ớt nhưng cũng đủ tạo nên một màu bóng nhẫy trùm lên cái bụng căng tròn của Nỉ. Má sẽ lại có mười ba con heo nhỏ như mọi lần.

Bất chợt tôi nhìn xuống bụng mình, rõ ràng nơi đó có bàn chân đang giẫy đạp nhẹ nhàng của một thằng bé bướu cổ. Tôi rùng mình, một cơn mê dài lại tiếp tục tượng hình ngay trong lúc tôi đang thở.
LYNH BACARDI
04/ 2006
*** Những bài liên hệ: http://vannghe.free.fr/lynh/index.html

Share/Save/Bookmark
Related Posts with Thumbnails