Hiển thị các bài đăng có nhãn Diễn đàn forum. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Diễn đàn forum. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 27 tháng 3, 2010

Giải thưởng dành cho sự khác lạ

Nguồn : Diễn đàn


Inrasara


Đây là diễn từ của nhà nghiên cứu INRASARA PHÚ TRỌNG đọc khi nhận giải thưởng văn hoá Phan Châu Trinh ngày 24.3.2010 tại Hà Nội. Giải thưởng văn hoá Phan Châu Trinh 2009 gồm có (mỗi giải thưởng : 15 triệu đồng) :

- Giải thưởng Giáo dục : nhà giáo dục Hồ Ngọc Đại

- Giải thưởng Dịch thuật (2 giải) : dịch giả Phạm Vĩnh Cư (dịch tác phẩm của M. Bakhtin và V. Soloviev), dịch giả Lê Anh Minh (dịch bộ Lịch sử Triết học Trung Hoa của Phùng Hữu Lan)

- Giải thưởng Nghiên cứu : nhà nghiên cứu Inrasara Phú Trọng

- Giải thưởng Việt Nam học : nhà dân tộc học Georges Condominas.

inrasara

INRASARA PHÚ TRỌNG là nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học và nhà nghiên cứu. Tác phẩm đã xuất bản : Văn học Chăm, khái luận, Nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc (1994) ; Văn hoá dân gian Chăm - Ca dao Tục ngữ, Câu đố ; Văn học Chăm -- Trường ca, sưu tầm - nghiên cứu ; Từ điển Chăm-Việt (viết chúng), Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1995 ; Từ điển Việt-Chăm (viết chung), Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1996 ; Văn hoá - Xã hội Chăm, nghiên cứu & đối thoại, tiểu luận ; Tự học tiếng Chăm, Nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc, 2003 ; Từ điển Viêt-Chăm dùng trong nhà trường (viết chúng), Nhà xuất bản Giáo dục, 2004 ; Akayet Sử thi Chăm, Viện Văn hoá Dân gian xuất bản, 2009. ; chủ biên Tagalau, tuyển tập sáng tác - sưu tầm - nghiên cứu Chăm (10 tập, 2000-2009) ; Tủ sách Văn học Chăm (10 tập - đã in 3 tập).

Tôi đến từ miền đất quen mà lạ, ở đó đang tồn tại một nền văn hoá khá khác lạ. Nền văn hoá khác lạ của dân tộc có một lịch sử bi thương. Dân tộc đó ngày nay đang sống khiêm cung tại các tỉnh Miền Trung của đất nước Việt Nam. Sau hai trăm năm bị bỏ quên, nền văn hoá văn minh của dân tộc ấy tưởng đã bị thời gian vùi lấp hay bị chìm khuất dưới đêm mờ lịch sử, nhưng không ‒ nó vẫn còn đó. Nó có mặt, và đợi những bước chân thiện chí đến đánh thức. Đã có nhiều bàn chân như thế dọ dẫm bước tới, hơn thế kỉ qua. Để nền văn hoá kia ngày càng lộ hiện dần khuôn mặt khác lạ độc đáo của nó.
Chính các khác lạ như thế làm nên sự phong phú đa dạng của nền văn hoá.

Đây là phần thưởng dành cho sự đóng góp khác lạ ấy, chắc chắn thế. Hôm nay, tôi xin nói lời tri ân sâu xa nhất đến các vị trong Hội đồng Giải thưởng, những người quan tâm vấn đề tôi quan tâm, biết đến và ghi nhận vài thành tích chập chững đầu tiên của tôi trong những bước khai phá.

*

Bản sắc cùng với truyền thống có lẽ là khái niệm được sử dụng nhiều hơn cả, khi nhắc tới văn hoá, thời gian qua. Nhưng thế nào là bản sắc ? Bản sắc là cái KHÁC của nền văn hoá ‒ dân tộc này so với nền văn hoá ‒ dân tộc kia.

Cái khác biệt rõ nhất giữa Chăm và Việt là ngôn ngữ. Cùng với bốn dân tộc anh em là Churu, Êđê, Giarai và Raglai, tiếng Chăm thuộc ngữ hệ Mã Lai - Đa Đảo, còn Kinh thuộc nhóm Việt - Mường. Tiếng Chăm góp vào kho tàng ngôn ngữ Việt Nam hiện đại không phải là ít. Nhưng cái cốt tuỷ làm nên sự khác biệt lớn chính là văn minh. Ngay từ những năm đầu thế kỉ đầu tiên sau Công nguyên, trong khi Chăm tiếp nhận nền văn minh Ấn Độ thì Đại Việt nhận ảnh hưởng từ Trung Hoa. Trong quá trình lịch sử, qua xung đột, tiếp xúc và tiếp biến văn hoá giữa Champa và Đại Việt, người Chăm đã để lại bao nhiêu dấu tích khắp đồng bằng Bắc Bộ và suốt dải đất miền Trung.

Dòng máu Chăm lưu lại ở Yên Sở, Đắc Sở đến nay vẫn chưa mất dấu. Mai Hắc Đế có cha là người Chăm, mẹ Việt. Rồi từ Thanh Hoá trải suốt tận Khánh Hoà, ai biết được bao nhiêu thế hệ người Việt mang dòng máu Chăm ?

Trong triều đình nhà Lí, không ít vua quan Việt say mê điệu Chiêm Thành âm. Điệu Nam Ai Nam Bình ở Huế, hay Hát Bội ở Bình Định hoặc đi vào trong, ca vọng cổ ở miền Tây Nam bộ,… Tất cả đều mang âm hưởng Chăm.

Lúa Chiêm từ Champa nhập vào Việt Nam từ thế kỉ thứ mười, là chuyện rõ rồi. Người Chăm còn du nhập và thuần hoá các loại cây trồng như khoai, mía, bông ; đã hình thành và truyền lưu các vùng đặc sản như khoai Trà Đoá, mía Quảng Ngãi, bông Điện Bàn,...

Tháp Bảo Thiên ở Hồ Hoàn Kiếm là do tù binh Chăm xây dựng. Tượng Garuda ở chùa Châu Lâm, quận Ba Đình ; Chùa Mía ở xã Đường Lâm, huyện Ba Vì hay Chùa Đinh Xá ở xã Đinh Xá, huyện Kim Bảng hoặc tượng bà chúa Liễu thấp thoáng hình bóng thần Thiên Y trong ngôi đền ở Thanh Hoá hay dấu tích ở vùng Thạch Thất, Hoài Đức phía tây Thăng Long và vùng Bắc Ninh, Bắc Giang của Bà Chúa Lẫm. Cùng bao nhiêu dấu tích khác còn chưa được khảo cổ học động cập tới !

Chúng đã được người Việt thâu thái tạo nên những biến thể độc đáo. Hoà quyện nhưng vẫn giữ được nét khác biệt.

Hôm nay, nhắc đến Chăm, đa số nhắc đến một nền kiến trúc kì vĩ, một nền điêu khắc đặc sắc, hoặc truyền thống ca-múa-nhạc dân tộc, các lễ hội dân gian, dệt thổ cẩm hay chế tác gốm,… Và, không gì khác. Nhưng, dân tộc có bia chữ Phạn, có chữ viết bản địa sớm như Chăm, lẽ nào họ không là gì cả trong văn chương ? Lướt qua mấy công trình văn học sử Việt Nam, đâu là mảnh đất dành cho văn học Chăm ? ‒ Không chương nào, thậm chí không dòng nào. Đó là sự lạ. Vậy, làm sao có thể nói đến là tính toàn vẹn của văn học Việt Nam ?

Văn chương không chủ ở số lượng. Nếu người viết Chăm hiện thời sáng tác thêm một sử thi Akayet Dewa Mưno hay một trường ca Ariya Glơng Anak mới, thì văn chương Chăm chẳng vì thế mà lớn hơn. Ngược lại với Chăm, nếu dân tộc này góp thêm một Truyện Kiều hay một Hồ Xuân Hương mới, nó chẳng có tác động tích cực nào đến phát triển văn học Việt Nam cả !

Vấn đề là cái KHÁC. Vậy Chăm có cái gì khác ?

Không kể truyện cổ hay truyền thuyết, ca dao hay tục ngữ ; cũng chưa kể tới các trường ca triết lí như Ariya nau ikak (Thơ đi buôn) hay các trường ca thế sự như Ariya Ppo Parơng, riêng về hình thức, thể ariya Chăm, như lục bát Việt, linh hoạt trong cấu trúc, nên khả năng sáng tạo rất lớn. Đừng nói ai có trước hay ai vay mượn ai, trong khoảng mù mờ của lịch sử. Do cấu trúc ngôn ngữ khác nhau (đa hay đơn âm tiết là một trong những), nên lối phát triển hai dòng thơ đã có khác biệt nhất định ; từ đó nó làm đa dạng thơ ca tiếng Chăm lẫn tiếng Việt.

Về nội dung đề tài : 250 minh văn Champa được sáng tác từ thế kỉ thứ ba đến thế kỉ thứ mười lăm bằng cả tiếng Phạn lẫn tiếng Chăm cổ là cái được kể đầu tiên. Ba Sử thi ‒ Akayet Chăm có xuất xứ từ/mang âm hưởng Mã Lai / Ấn Độ được viết vào thế kỉ XVI - XVIII, là sáng tác thành văn đặc trưng Chăm, một hiện tượng không có trong văn học sử Việt Nam. Nữa, khác với các dân tộc anh em ở Tây Nguyên như Êđê hay Bana,… sử thi Chăm được văn bản hoá từ thế kỉ mười sáu. Các Trường ca - Ariya trữ tình nổi tiếng mà nội dung mang chở sự đối kháng quyết liệt giữa Hồi giáo – Bà-la-môn giáo dẫn đến đổ vỡ và cái chết, cũng là một dị biệt khác.

Như vậy, bên cạnh kiến trúc và điêu khắc, phong tục tập quán cùng ca-múa-nhạc,… văn chương và ngôn ngữ Chăm ít nhiều đã được biết đến. Còn bao nhiêu mảnh vụn khác nữa của nền văn hoá văn minh phong nhiêu kia đang bị lãng quên ?!


Kính thưa quý vị !

Một chàng trai nhà quê khởi đầu cuộc đi vào lòng văn hoá dân tộc “ từ bàn chân trần trắng, từ con số âm, từ con số không – có lẽ ”. Không miếng tư liệu, không mảnh bằng, túi rỗng không, còn mục tiêu thì xa hun hút. Hơn nửa đời hư, chàng trai ấy hôm nay đứng ở diễn đàn này để nhận phần thưởng cao quý từ quý vị. Tôi nghĩ phần thưởng không chỉ dành cho cá nhân tôi với vài thành tích khiêm tốn đạt được mà hơn thế, nó còn là tiếng nói khích lệ các thế hệ sắp tới. Bằng tri thức mới, nhiệt tâm và nỗ lực mới, họ sẽ đi những bước đi mới, không kém trắc trở và gian nan, với hi vọng làm sống dậy nền văn hoá văn minh kia, như là một cách bảo tồn bản sắc dân tộc, góp phần vào đa dạng hoá nền văn hoá Việt Nam, rộng hơn ‒ văn hoá nhân loại.

Xin cảm ơn và kính chúc quý vị sức khoẻ và hạnh phúc.


Share/Save/Bookmark

Thứ Tư, 17 tháng 3, 2010

Thư gửi National Geographic Society

Nguồn : Diễn đàn

Thư gửi Hội Địa dư Quốc gia (Mĩ)
To The National Geographic Society





Chúng tôi đăng dưới đây bản gốc tiếng Anh (và bản dịch tiếng Việt) bức thư của ba nhà nghiên cứu Ngô Vĩnh Long, Tạ Văn Tài và Vũ Quang Việt gửi Hội Địa dư Quốc gia (Mĩ) yêu cầu họ sửa lại một sai lầm trên bản đồ Đông Nam Á.

March 12, 2010

NATIONAL GEOGRAPHIC SOCIETY
1145 17th St, NW
Washington, D.C 20036-4688
nationalgeographic.com/magazine
ngsforum@ngm.com

Attn: Mr. Chris Johns, Editor in Chief





Dear Mr. Chris Johns,

The new World Political Map (Item 22005C, 2009), published by the National Geographic Society (NGS), shows the Paracel Islands in Southeast Asia (SEA) as belonging to China, in contrary to the 1943 and 1994 maps. This must be an error that puts the NGS as taking side on the disputed status of the archipelago whose legal status has not been arbitrated by any international legal body. In the interest of scholarship and fairness, we ask you to consider corrective actions based on the following facts :

  1. Both China and Vietnam have presented historic evidences of their possession of the Paracels dating back to the 15th century. In the 19th and 20th century, the Paracels were identified as part of Vietnam when it was a protectorate of France. It was returned to South Vietnam in 1954 and the South Vietnamese posted garrisons and exploited natural resources there. In 1974, taking advantage of the American withdrawal from South Vietnam, China attacked the South Vietnamese and took the archipelago over by force. Since then Vietnam never ceded rights to the archipelago and international scholars classed it as “disputed”. There are numerous documents regarding these facts. Due to lack of space, we cite only the following:

    2. China has claimed practically the entire SEA waters bordered by Hainan, Vietnam, Malaysia, Indonesia, Brunei and the Philippines as its maritime territory (see map). It uses Paracels and some islands of the Spratly archipelagos, which it also took over by force in a 1988 bloody invasion, as centerpieces of the claim. It is building a nuclear navy base on Hainan and several airfields on the Paracels and Spratlys in order to patrol this vast expanse of international water; claiming all mineral rights; forbidding the fishing activities of Southeast Asian countries; and controlling the vital sea routes between Singapore and Japan. In fact, it has challenged the presence of the United States in the area by harassing U.S. signals surveillance planes and research ships (e.g., April 1, 2000, incident regarding the US Navy 1EP-3 aircraft and the March 8, 2009, incident regarding the US Navy ship Impeccable.)

bando
Map : From UNCLOS and CIA, published by BBC News

    3. Currently SEA countries and China have submitted papers with the United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS) governing body, outlining competing claims and professing adherence to the convention. While an international effort to mediate and arbitrate the claims appears rational, China insists on dealing with the smaller nations one-on-one, leaving interested parties such as the United States, India, Japan, Russia and other SEA nations out of the talks. The disputed nature of the Paracels and Spratlys is clear and potentially dangerous to world peace.

The NGS publications and maps are widely read and consulted all over the world for references. Your corrective actions for the hopefully inadvertent error will confirm the reputation of the NGS that it does not take side in disputed geopolitical matters.

We request that you return the annotation in National Geographic’s 2006 Atlas of the World, which states that: “Paracels Islands:administered by China, claimed by Vietnam”, which is more accurately representing current situation.

Thank you for your attention.

Sincerely,

Ngo Vinh Long, Ph.D., Professor of Asian Studies and US-Asian Relations, University of Maine.

Tai Van Ta, Ph.D., former Saigon Law School professor and Law lecturer and Research associate, Harvard Law School, Attorney at law.

Vu Quang Viet, Ph.D., former Chief of National Accounts Statistics, United Nations. Author of several papers presented at Workshop “South China Sea Disputes in Vietnamese Context” on November 18, 2009 at the Council of Southeast Asian Center, Yale University.







(bản dịch - của Diễn Đàn)

NATIONAL GEOGRAPHIC SOCIETY

1145 17th St, NW

Washington, D.C 20036-4688

nationalgeographic.com/magazin

ngsforum@ngm.com

Xin lưu ý : Ông Chris Johns, Tổng Biên Tập

Thưa Ông Chris Johns,

Bản đồ Chính Trị Thế Giới (Số 22005C, 2009) mà Hội Địa Dư Quốc Gia (NGS) mới công bố, ghi chú Quần Đảo Paracels trong biển Đông Nam Á (SEA) là thuộc Trung Quốc, khác hẳn với các ghi chú trong các bản đồ NGS phổ biến năm 1943 và 1994. Đây hẳn là một sai lầm khiến cho NGS ngả về một bên trong cuộc tranh chấp về quần đảo này trong lúc chưa hề có bất cứ một cơ quan pháp luật quốc tế nào phán quyết về thẩm quyền. Trong tinh thần học thuật, nghiên cứu và công bằng, chúng tôi yêu cầu NGS điều chỉnh trên cơ sở những sự kiện sau đây :

  1. Cả Trung Quốc và Việt Nam đã đưa ra những bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền trên quần đảo này từ thế kỷ 15. Vào thế kỷ 19 và 20, khi Việt Nam đặt dưới chế độ bảo hộ của nước Pháp thì quần đảo Paracels đã được xác định thuộc lãnh thổ Việt Nam. Năm 1954 quần đảo này được trao cho Nam Việt Nam và Nam Việt Nam đã đặt quân đồn trú và tiến hành khai thác tài nguyên tại đây. Năm 1974, thừa cơ Hoa Kỳ rút khỏi Nam Việt Nam, Trung Quốc đã tấn công và chiếm đóng quần đảo bằng vũ lực. Từ đó tới nay, Việt Nam chưa hề chuyển nhượng chủ quyền của mình, và giới học giả quốc tế đều ghi nhận quần đảo này là đối tượng “tranh chấp”. Có rất nhiều tài liệu liên quan tới những sự kiện này, nhưng vì thiếu chỗ, chúng tôi chỉ đơn cử nhưng tài liệu sau đây :

  1. Trung Quốc đã đưa ra yêu sách theo đó hầu như toàn bộ vùng biển Đông Nam Á nằm giữa Hải Nam, Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Brunei và Philippines (xem bản đồ) là lãnh hải của mình. Họ dùng Paracels và một số hòn đảo thuộc quần đảo Spratly mà họ đã gây đổ máu, cưỡng đoạt năm 1988, làm chủ chốt cho những yêu sách này. Trung Quốc hiện đang xây một căn cứ tàu ngầm hạt nhân tại Hải Nam, cùng nhiều phi trường trên hai quần đảo Paracels và Spratly với mục đích tuần tra vùng biển quốc tế mênh mông này, đòi toàn quyền khai thác khoáng sản, ngăn cấm hoạt động của ngư dân các nước Đông Nam Á ; kiểm soát các tuyến đường hàng hải huyết mạch giữa Singapore và Nhật Bản. Thậm chí, Trung Quốc còn thách đố sự có mặt của Hoa Kỳ tại vùng biển bằng các sự kiện như quấy nhiễu máy bay thám báo và tàu khảo sát của Hải Quân Mỹ (ví dụ, sự kiện phi cơ 1EP-3 bị chiến đấu cơ Trung Quốc va đụng ngày 1 tháng 4 năm 2000 và tầu hải dương học Impeccable bị xua đuổi ngày 8 thảng 3 năm 2009.)

biendong
Yêu sách về lãnh hải của Trung Quốc
theo « đường lưỡi bò » (màu đỏ);
Đường màu xanh : vùng đặc quyền 200 hải lí theo UNCLOS
Nguồn bản đồ : UNCLOS và CIA do BBC công bố

.

3. Hiện nay các nước Đông Nam Á và Trung Quốc đều đã nộp hồ sơ tới cơ quan quản trị Công ước về Luật Biển của Liên Hiệp Quốc (UNCLOS), trình bầy chủ quyền của mình và tuyên bố sẽ tuân thủ Công ước. Mặc dù ai cũng thấy cần phải có một cố gắng dàn xếp và phán xử các tranh chấp này, Trung Quốc lại khăng khăng đòi đàm phán tay đôi với từng nước nhỏ và gạt ra rìa các nước hữu quan như Hoa Kỳ, Ấn Độ, Nhật Bản, Nga và các nước Đông Nam Á khác. Rõ ràng là sự tranh chấp về chủ quyền về quần đảo Paracels và Spratly là rất rắc rối và có cơ nguy cho hòa bình thế giới.

Các ấn phẩm và bản đồ của NGS đã được rất nhiều người đọc và tham khảo khắp thế giới. Chúng tôi hi vọng lỗi ghi chú như đã nói ở trên là vô tình và NGS sẽ có cách chỉnh sửa thích ứng. Sự điều chỉnh này sẽ xác nhận thanh danh của NGS là không thiên vị trong các vấn đề tranh chấp địa chính trị.

Chúng tôi yêu cầu NGS dùng lại ghi chú của Atlas Thế Giới do NGS xuất bản năm 2006 : “ Quần đảo Paracel hiện do Trung Quốc quản trị nhưng Việt Nam đòi chủ quyền ”, phản ánh tương đối đúng tình trạng hiện thời.

Chúng tôi cảm ơn sự chú ý của Ông.

Kính thư,

Ngô Vĩnh Long, Tiến sĩ, Giáo Sư Nghiên cứu Á Châu và Quan hệ Á-Mĩ, Đại học Maine.

Tạ Văn Tài, Tiến sĩ, nguyên giáo sư Đại học Luật khoa Sài Gòn, giảng viên và nghiên cứu viên liên kết Đại học Luật Harvard, Luật sư.

Vũ Quang Việt, Tiến sĩ, nguyên Trưởng ban Thống kê Quốc gia, LHQ, tác giả nhiều bài tham luận về Tranh chấp Biển Đông tại Trung tâm nghiên cứu ĐNA, Yale University, 18 tháng 11, 2009.


Share/Save/Bookmark

Thứ Bảy, 23 tháng 1, 2010

Vụ án "lật đổ" hay bản án chế độ ?

Nguồn : Diễn đàn

Vụ án "lật đổ" hay bản án chế độ ?



Đại sứ Anh tại Việt Nam, ông David Kent, có lý khi ông cho rằng bản án đối với các ông Trần Đình Duy Thức (16 năm tù), Nguyễn Tiến Trung (7 năm), Lê Công Định và Lê Thăng Long (5 năm) tác hại đến "thanh danh của Việt Nam". Có lý không phải vì ông là đại diện cho một Vương quốc lập hiến, càng không phải vì Vương quốc "Sư tử già nua" ấy là mẫu mực toàn bích của dân quyền, dân chủ và nhân quyền. Người Việt Nam không ai quên rằng, cách đây 65 năm, quân đội Anh cặp bến Sài Gòn với nhiệm vụ giải giới phát xít Nhật ở phía nam vĩ tuyến 16, đã mang theo dưới hầm tàu sư đoàn của tướng Leclerc để lập lại chế độ thực dân Pháp ở Viêt Nam. Cả thế giới đều biết rằng ở Hồng Kông, trong gần suốt 100 năm, dân chủ chưa hề là mối quan tâm của chính quyền Anh. Cho gần đến ngày Anh phải trao trả "nhượng địa" này cho Trung Quốc... Bất luận thế nào, ngày nay, dưới lá cờ đỏ 5 sao của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, người dân Hồng Kông có trong tay và sử dụng những quyền dân chủ tối thiểu mà hơn một tỉ người Hoa Lục chưa hề có, và họ không sẵn sàng để cho Bắc Kinh tước đoạt những quyền cao quý ấy, cho dù ý đồ của nhà cầm quyền Anh cách đây 20 năm chẳng "trong sáng" chút nào, chẳng qua chỉ là một trò chơi khăm Bắc Kinh. Nhưng lịch sử đôi khi cũng là thành quả của những trò chơi khăm. Điều ấy, người Việt Nam, nhất là những người cộng sản Việt Nam -- ít nhất những người biết học sử -- cũng biết rất rõ : nếu không có luật habea corpus và những nhân tố pháp quyền của nền dân chủ Anh, cách đây 80 năm, một nhà cách mạng Việt Nam ắt đã bị trao trả cho mật thám Pháp để bị thủ tiêu trên Biển Đông hay xử tử hình. Nhà cách mạng ái quốc ấy, ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945, đã long trọng tuyên bố thành lập một nhà nước dân chủ đa đảng ở Việt Nam.

Ông Kent có lý, vì một chính quyền có "đồng thuận cao" ở Quốc hội của một nước hoàn toàn độc lập từ 35 năm nay, hoà bình liên tục trong suốt 20 năm qua, có quan hệ ngoại giao với hầu hết các quốc gia trên thế giới, tuyên bố làm bạn với mọi người, không thể "vẹn toàn thanh danh" khi bắt giam, rồi kết án tù mấy cá nhân đơn lẻ, dưới tội danh "âm mưu lật đổ chế độ" khi mà "vũ khí" duy nhất của họ là bàn phím, và phương tiện tuyên truyền, tập hợp, tổ chức duy nhất của họ là môt công cụ phi vật thể : mạng internet.

Người ta có thể tiếc rằng tuổi trẻ của Nguyễn Tiến Trung khiến anh nông nổi đến mức ngây ngô khi ca ngợi George W. Bush, người ta có thể ngạc nhiên trước quan niệm "đa đảng" khá độc đáo của luật sư Lê Công Định (một mình muốn thành lập hai ba đảng cùng một lúc), người ta có thể thất vọng khi thấy họ cả tin đối với những bè nhóm ma giáo và ồn ào ở nước ngoài (trách họ sao được, khi một nhân vật lão thành như ông Hoàng Minh Chính còn nhẹ dạ hơn họ ?), nhưng tiên thiên, không ai có quyền phủ nhận lòng yêu nước và khát vọng xây dựng một nước Việt Nam phát triển, dân chủ, cởi mở của họ. Càng không thể chấp nhận chính sách đàn áp của chính quyền và bản án phi nghĩa ngày 20.1.2010 vừa qua của Toà án Thành phố Hồ Chí Minh.

Đường lối thô bạo ấy, ngay trong nội bộ Đảng cộng sản Việt Nam cũng không được tán thành. Theo những nguồn tin đáng tin cậy, việc bắt giam bốn bị cáo là một quyết định của một thiểu số (4 người) trong Bộ chính trị ĐCS, mấy người trong cơ quan này (trong đó có ông Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước) đã bỏ phiếu chống, còn đa số không lựa chọn. Trong đời sống không mấy lành mạnh từ mấy năm nay của lãnh đạo ĐCS, đã hơn một lần, người ta biến thành nghị quyết của Bộ chính trị một lời nói lửng lơ vào cuối buổi họp, không hề được thảo luận (thí dụ điển hình là việc ông Nông Đức Mạnh, tổng bí thư, vì nghe thày phong thuỷ xúi bậy, muốn xây toà nhà Quốc hội ở Khu hoàng thành Thăng Long). Nhưng đây là lần đầu tiên, ý kiến của một thiểu số (4/15) đã bị biến thành một quyết định của Bộ chính trị, không hề được thảo luận và biểu quyết trở lại. Chỉ một việc này cũng nói lên tính nghiêm trọng của tình hình đất nước.

Nghiêm trọng vì tình hình đất nước đang trải qua một cuộc khủng hoảng toàn diện về kinh tế, xã hội, văn hoá và tinh thần. Nghiêm trọng hơn nữa là sự bất cập của đảng cầm quyền và hành xử của nó trước tình hình ấy.

Cuộc xử án vừa qua chỉ là một trong muôn vàn chỉ dấu, thậm chí không phải là chỉ dấu nghiêm trọng nhất (nếu được phép xếp thứ tự cấp bậc nghiêm trọng khi bàn tới sinh mạng chính trị của những thanh niên và trung niên dũng cảm). Hành xử của chính quyền trong vụ bauxite Tây Nguyên biểu lộ khá toàn diện và sâu xa tình huống ấy : cho Trung Quốc khai thác thô quặng bô-xít tại một vùng chiến lược bằng những phương pháp lạc hậu, tác hại môi sinh, đời sống và văn hoá của đồng bào Tây Nguyên. Thoạt tiên là một câu "lãng xẹt" trong một tuyên bố chung năm 2001 (Nông Đức Mạnh - Giang Trạch Dân). Rồi dưới sức ép vừa thô bạo vừa tinh vi (kinh tế, tài chính, chính trị, và có lẽ cả sinh hoạt cá nhân) của Bắc Kinh, nó đã biến thành một "chủ trương lớn", chỉ thị Quốc hội phải bỏ phiếu "đồng thuận cao". Trong khi đó, từ đại tướng Võ Nguyên Giáp tới thiếu tướng công an tại chức Lê Văn Cương, từ đảng viên tới trí thức sinh viên, từ những cơ quan đoàn thể chính thức (Liên hiệp các Hội khoa học kĩ thuật - VUSTA) cho đến những viện nghiên cứu tư nhân độc lập (như IDS), đều phản đối mạnh mẽ. Quan trọng hơn, như chính những người phụ trách công tác tuyên giáo đã báo cáo với Bộ chính trị : những người phản biện đều đưa ra luận chứng chính xác, đầy đủ, những người tán thành (đặc biệt là tập đoàn TKV) thì không.

Thật đáng kinh ngạc là những người cầm quyền đã đối phó như họ đã làm : cấm báo chí phản ánh, cấm phản biện công khai (quyết định 97, dẫn tới việc IDS tự giải thể để phản đối)... Chính sự cấm đoán này đã dẫn tới kết quả mà chính quyền không thể ngờ : số độc giả của báo chí giảm sút, và hơn 17 triệu lượt người vào mạng bauxite Việt Nam để tìm hiểu sự thực, trong vòng 7 tháng. Lại đối phó : trong khi toà án TP HCM "khẩn trương" xử và kết án trong vòng một ngày thì ở Hà Nội, thì giáo sư Nguyễn Huệ Chi (chuyên gia về văn học Lý Trần) phải "làm việc" từ sáng đến tối tại cục an ninh.

Mạng Bauxite Việt Nam do Nguyễn Huệ Chi điều hành đã bị đánh sập từ cuối tháng 12.2009. Chưa biết nhóm côn đồ internet này ở đâu (Việt Nam, Hồng Kông...), nhưng ở tu viện Bát Nhã, rõ ràng côn đồ không xuất phát từ Hồng Kông... Tại Đồng Chiêm, phá thánh giá dựng trên một điểm cao (chính quyền nói là xây dựng trái phép, có thể) là cả một lực lượng cảnh sát hùng hậu (mang khiên đề chữ to CSDC, rồi cả POLICE nữa, như trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng). Thật khó giải thích cách hành xử thô bạo và thất sách này, khi người ta nhớ rằng trong vụ "Toà Khâm" ở 42 Nhà Chung, chính quyền đã khôn ngoan biết chuyển bại (mưu đồ của quan chức thành phố Hà Nội biến thửa đất này thành khách sạn, chia chác tiền phát mãi) thành vườn hoa (nghĩa là thành "thắng" cho người dân, cả lương lẫn giáo).

Người ta có thể "nhân bản" những thí dụ cho thấy sự bất cập của chính quyền trong thời gian vừa qua để xử lý trăm công nghìn việc của đất nước (vụ bà Tư Hường chiếm đất ở Nha Trang, các vụ biểu tình bảo vệ chủ quyền ở Hoàng Sa - Trường Sa, các vụ Trung Quốc hãm hại và làm tiền ngư dân, vụ xi-căng-đan Huỳnh Ngọc Sĩ, các vụ việc lớn nhỏ về giáo dục, nhà đất, tham nhũng, vụ Đào Duy Quát...). Với tình hình hiện nay (và với triển vọng Đại hội XI của ĐCS họp đầu năm 2011), có thể tin chắc rằng các vụ việc sẽ tiếp tục, ngày mỗi nhiều và nghiêm trọng hơn, báo chí tuy đã được ép vào "lề phải" một cách nghiệt ngã sẽ không thể nào bịt kín.

Vấn đề là sự ứng phó và khả năng của chính quyền.

Chính sách đàn áp, xiết chặt báo chí, ngăn chặn internet... tiến hành từ mấy năm nay chứng tỏ nhà cầm quyền thấy rõ triển vọng tình hình và hiểu rõ họ không còn uy tín trong dư luận xã hội (kẻ cả trong đa số đảng viên).

Cách đây 20 năm, trước sự đổ sụp của Liên Xô, trong lãnh đạo ĐCSVN đã có một xu hướng không lành mạnh là dựa vào Trung Quốc (cuộc họp Thành Đô, giải pháp "Cam pu chia đỏ"...), tuy không thành nhưng cũng đã để lại những bài học chua xót. Song nhờ tiếp tục đổi mới về kinh tế, và nhờ sự thoả hiệp mặc nhiên với xã hội dân sự (để cho người dân chủ động làm ăn, sản xuất), người dân cũng như chính quyền (và các cường quốc) đều không muốn có sự đảo lộn..., Việt Nam đã chuyển từ một chế độ mệnh danh "xã hội chủ nghĩa" sang hình thái tư bản chủ nghĩa hoang dại với chế độ độc đảng chuyên quyền, với những thay đổi to lớn theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực. Lịch sử 20 năm qua cho thấy chế độ cực quyền đứng vững và đạt được những thành quả đáng kể vì song song với trấn áp, nó biết tạo ra và nương dựa vào một sự đồng thuận nhất định của xã hội.

Sự đồng thuận ấy đang cạn kiệt, trấn áp đơn thuần chỉ dẫn tới thất bại và hỗn loạn. Xã hội Việt Nam có thể, và chỉ có thể vượt qua được cuộc khủng hoảng hiện nay, đất nước Việt Nam chỉ có thể đứng vững trước hiểm hoạ "quyền lực cứng và quyền lực mềm" của chủ nghĩa đại hán trên bộ, trên biển, trong nội bộ và trên quốc tế, trên cơ sở một đồng thuận mới. Đó là sự đồng thuận về quyền lợi của quốc gia, lợi ích lâu dài của các thế hệ, về sự tồn tại và phát triển của xã hội dân sự và công dân.

Sự đồng thuận ấy tuỳ thuộc vào nhận thức của toàn xã hội cũng như vào sự thức tỉnh từ chính quyền.

Nguyễn Ngọc Giao


Share/Save/Bookmark

Chủ Nhật, 17 tháng 1, 2010

Phe nước mắt

Nguồn : Diễn đàn

Khi Google định "đứng về phe nước mắt"

Phe nước mắt

Tản mạn của Phạm Toàn

Được đọc các bài Trung Quốc ngạc nhiên khi Google dọa rútTrung Quốc phản ứng với Google trên trang BBC (ngày 14 và 15.1.2010), thấy rất thú vị vì cái nết ngây thơ của người Trung Quốc.

Nói “ Người Trung Quốc ” đây dĩ nhiên không phải là vơ đũa cả nắm trọn vẹn cái lục địa đầy những người là người ấy ! Một tập đoàn người thôi. Không nhiều. Nhưng là “ những con người làm nên lịch sử ”. Tức là những con người có khả năng bóp méo (hoặc bóp bẹp) lịch sử.

Cỡ như người bạn to lớn đứng giữa Hà Nội dạy dỗ người Việt Nam muốn giải quyết những xung đột thì cần dựa trên đại cục. Lẽ ra ông ấy định làm nên lịch sử và nói “ đại Hán cục ” kia đấy ! Nhưng ông ta lại tìm cách nói nhịu đúng vào lúc cần nói nhịu, và ông đã kịp dừng để chỉ nghĩ và nói đến “ đại cục ”.

Tương ứng với hành vi đi lại nghênh ngang kia, thì cái guồng máy đào tạo ra các thái thú cũng biết cách giả vờ tròn mắt ngạc nhiên trước “ vụ Google ”.

Nhắc lại một nét lịch sử cũng là cần. Năm 2006, cái đại công ty tìm kiếm trên mạng, cái thư viện dùng chung không thể thiếu của loài người trên con đường hiện đại hoá ngày nay, công ty Google đã tìm cách đặt chân lên lục địa da vàng mênh mông kia bằng những thoả hiệp chết người. Ngay từ bước đầu, chỉ vì không thể bỏ qua lòng ham lợi nhuận, họ đã thoả hiệp những điều cơ bản. Theo yêu cầu của chính phủ Trung Quốc, công ty đã đồng ý lọc (nói thô thiển tức là đồng ý kiểm duyệt) một số từ khoá, như cuộc phản đối tại Thiên An Môn năm 1989, phong trào đòi độc lập cho Tây Tạng, hay phong trào Pháp Luân công.




Share/Save/Bookmark

Thứ Năm, 31 tháng 12, 2009

KÍNH BÁO

Nguồn : Diễn đàn

Sau khi giả mạo thư nhà giáo Phạm Toàn, bọn tin tặc đã cướp hẳn địa chỉ chi.nguyenhue@gmail.com của giáo sư Nguyễn Huệ Chi để gửi một lá thư giả mạo, nhân danh Nguyễn Huệ Chi. Như vậy là song song với việc phá mạng bauxitevietnam, "kẻ lạ" (hay chỉ là bộ hạ của "kẻ lạ") đã gỉa danh những người chủ xướng để khoét sâu mâu thuẫn nội bộ và gây nghi ngờ chán nản trong dư luận. Dưới đây, chúng tôi xin đăng toàn văn lá thư của giáo sư Nguyễn Huệ Chi (cập nhật lúc 19g40 -- giờ Paris -- ngày 30.12.2009)



KÍNH BÁO



Kinh thưa quý độc giả của Diễn Đàn, trannhuong.comquechoablog.wordpress.com cùng các Anh Chị bạn bè mà tôi quen biết,


Sáng nay, tôi đang say giấc thì bỗng nghe tiếng chuông điện thoại của anh Phạm Toàn. Anh cho biết anh Nguyễn Ngọc Giao có gửi email khẩn hỏi xem lá thư anh mới nhận của tôi "bày tỏ tâm sự về thực chất con người Phạm Toàn" có phải là do tôi viết hay không. Tôi vô cùng sửng sốt ngay trong máy, và qua sự sửng sốt của tôi, anh Toàn hiểu ra sự thật: lại một sự giả mạo kiểu phamtoankhjemton nữa của những kẻ nào đó, lần này mượn địa chỉ email của tôi để bôi xấu quan hệ gắn bó giữa tôi và anh Phạm Toàn nhằm qua đó đánh phá tiếp trang mạng Bauxite Việt Nam.

Xin độc giả cùng bè bạn hiểu cho tình cảnh của tôi: Từ mấy hôm nay tôi đã không vào được mạng, không hiểu vì lý do gì, nên ngày ngày phải đi ra quán net để đọc một ít thư từ gửi tới, và viết đôi ba dòng trả lời trong những trường hợp thật cần thiết, vì ở quán các máy không cài font chữ Việt và đánh thường nhảy chữ. Chiều hôm qua 29-12-2009 thì tôi nối được mạng, liền ngồi một mạch đến tận 1 giờ rưỡi sáng phúc đáp hầu hết các lá thư, trong đó có gửi một thư chung cho 135 Anh Chị đã ký vào Kiến nghị đợt 1, nhằm nói rõ hơn về lá thư giả mạo anh Phạm Toàn tố cáo tôi được loan tải rộng rãi trên mạng, kẻo sợ có người chưa ghé qua các trang quechoa, anhbasam, trannhuong vẫn còn chưa hết phân vân. Lá thư chỉ vắn tắt có thế. Điều lạ là sau khi gửi xong, vì mất điện một lúc, chờ đèn sáng, tôi bật lại máy, vào lại địa chỉ email của mình thì dù đánh mật khẩu đến hàng chục lần vẫn không vào được nữa. Biết là có "sự cố" đã xẩy ra nhưng vì khuya quá nên tôi đành lên giường đi ngủ. Ngay sáng nay thì xảy ra cơ sự như đã nói.

Vậy tôi xin mượn các trang diendan, trannhuong và quechoa để chuyển đến quý bạn đọc cùng bạn bè thân thiết lời kính báo khẩn như sau: địa chỉ email chi.nguyenhue@gmail.com tôi dùng từ mấy năm nay đã bị những kẻ xấu chiếm đoạt. Tất cả những thư từ gửi từ địa chỉ đó đều tuyệt nhiên không phải là những lời lẽ do tôi viết ra. Từ nay xin mọi người hãy xóa bỏ địa chỉ này mà dùng địa chỉ mới do tôi thông báo sau đến quý bạn.

Về anh PHẠM TOÀN, tôi xin khẳng định, anh trước sau là một người bạn, một đàn anh, một nhân cách để chúng tôi noi theo, và là một trong 3 người sáng lập thủy chung của trang mạng Bauxite Việt Nam, hiện vẫn là cố vấn hết sức quan trọng cho trang mạng, tuy rằng do sức khỏe của anh không còn như trước nên anh đã trao đổi cùng tôi để gánh đỡ cho anh một số việc nào đấy, giúp anh có điều kiện tĩnh dưỡng tốt hơn. Mọi sự bôi bác về nhân phẩm của anh nhân danh tôi đều là sự bịa đặt trắng trợn khiến tôi ghê tởm.

Trong ngày đầu năm mới tôi rất không muốn nói những lời làm mọi chúng ta đều mất vui, vì thế chỉ xin vắn tắt vài lời, cũng là chuyện chẳng đặng đừng. Rất mong quý độc giả và bạn bè miễn thứ.

Hà Nội ngày 30-12-2009

Nguyễn Huệ Chi


Sau những lá thư giả mạo danh nghĩa các ông Phạm Toàn, Nguyễn Huệ Chi, một lá thư đề tên ông Phùng Liên Đoàn đã được phổ biến đêm qua trên mạng. Lá thư tất nhiên nhằm gây chia rẽ những người chủ xướng bản kiến nghị và mạng Bauxite Việt Nam với những người ủng hộ. 7g sáng ngày 30.12.2009 ông Đoàn đã cải chính là quyết định không dùng địa chỉ cũ để tránh mọi ngộ nhận.

Chiều nay 30.12 (giờ Paris) chúng tôi nhận được "thông báo thêm" của giáo sư Nguyễn Huệ Chi. Vì mạng bauxitevietnam chưa hoạt động bình thường trở lại, Diễn Đàn xin đăng toàn văn thông báo này để rộng đường dư luận.


Kính báo tiếp


Thưa quý độc giả trang mạng diendan.org, quechoablog.wordpress.com, trannhuong.com và các Anh Chị bạn bè thân quen,

Sáng nay, vừa mắt nhắm mắt mở nghe điện thoại anh Phạm Toàn, tôi liền đi ra bàn làm việc viết liền một mạch những lời thông báo cấp tốc, nhờ các trang mạng trên đây chuyển kịp thời đến quý bạn để giải tỏa ngay những lời lẽ bất lương của Nguyễn Huệ Chi giả đã bôi nhọ anh Phạm Toàn mà tôi thấy trong lòng áy náy không sao chịu được. Nhưng chiều nay, sau khi đi dự một cuộc họp trở về, được một bạn thông báo kỹ cho nội dung lá thư bịa đặt ấy thì mới biết, việc bôi nhọ Anh Phạm Toàn chỉ mới là một phần. Phần còn quan trọng hơn nữa là kẻ mạo xưng Nguyễn Huệ Chi còn giở một thủ đoạn cực kỳ nham hiểm để đẩy chúng tôi đến chỗ tự thừa nhận mình đã lập trang mạng chỉ cốt kiếm chút tiền chi tiêu, bởi ai cũng đều thuộc loại già lão, nhận đồng lương hưu không sao đủ sống (!). Không chỉ có thế. Nếu trong lá thư của một Phạm Toàn giả, những kẻ vu khống đã cả gan bôi nhọ danh dự TS Phùng Liên Đoàn thì trong lá thư này, bọn chúng còn vô sỉ đến mức muốn lôi thêm cả những vị Giáo sư đáng kính như Phạm Xuân Yêm, Đỗ Đăng Giu vào cuộc, những tấm gương trí thức suốt đời dành tấm lòng hướng về đất nước và chưa một lần nào ngỏ ý muốn tài trợ chút gì cho chúng tôi. Thế thì tất cả những lời lẽ độc địa kia cốt nhắm vào cái gì ?

Nếu bạn đọc thân mến hiểu cho rằng có một lực lượng nào đấy đang liên tiếp hết bước này đến bước khác dấn tới đánh phá tàn bạo trang Bauxite Việt Nam không từ một thủ đoạn nào cả, cốt làm sao tiếng nói nghiêm túc của trí thức và nhân dân phải tắt lịm không thấu được đến tai Nhà nước mới hả, được như thế thì tôi, anh Phạm Toàn và toàn bộ Nhóm biên tập trang mạng thật sự yên lòng. Xin được nói lời cảm ơn tới vô vàn độc giả và các Anh Chị bạn bè đã nhiệt tình chia sẻ cùng chúng tôi trong những ngày khó khăn này. Bản thân tôi đã bị vô hiệu hóa địa chỉ email đến lần thứ hai ngay sau khi vừa thảo xong bản kính báo tiếp theo này, đó mới là một chút trục trặc nhỏ báo hiệu cho những trục trặc chắc sẽ còn lớn hơn trong những ngày tới.

21 giờ rưỡi 30-12-2009

Nguyễn Huệ Chi


Share/Save/Bookmark

Thứ Bảy, 12 tháng 12, 2009

Chế độ dân chủ và vấn đề tôn giáo

Nguồn : Diễn đàn

Tuần vừa qua tại châu Âu và đặc biệt ở Thuỵ Sĩ có cuộc bàn luận bàn rất sôi nổi, trên việc các "Khiếu bái lâu" (Lầu gọi lễ, Minaret, sản phẩm kiến trúc tôn giáo của đạo Hồi) bị cấm xây dựng tại Thuỵ Sĩ qua cuộc bầu cử trực tiếp ngày 28/11/2009, với 57% phiếu chống. Về vấn đề văn hoá - chính trị phức tạp này giữa châu Âu và Hồi giáo, xin mời bạn đọc đọc lại bài của Nguyễn Quang trong số Diễn Đàn 137, tháng 02.2003.


Khi chiếc khăn trùm Hồi giáo làm náo động nước Pháp


Chế độ dân chủ
và vấn đề tôn giáo


NGUYỄN QUANG



Đời sống chính trị nước Pháp đương náo loạn vì hai chữ : voilelaïcité. Voile đây không phải là cái « voan » bình thường của phụ nữ mà là chiếc khăn trùm kín tóc tai cổ gáy của một số nữ sinh Hồi giáo. Laïcité là danh từ mà các từ điển Pháp-Việt thường dịch là tính (hoặc sự) thế tục, ở đây nói tới những nguyên tắc tổ chức một Nhà nước « phi tôn giáo » (chữ này thường dùng trong các từ điển Pháp-Hán), theo đó, Nhà nước tách bạch với các giáo hội và tôn giáo. Cuộc tranh luận nổ ra gần đúng 100 năm sau đạo luật 1905 về « sự phân li giữa Nhà nước và các Giáo hội », khi báo cáo của uỷ ban Stasi được công bố, xoáy quanh dự án luật nhằm bổ sung đạo luật 1905 nói trên. Nếu chỉ đơn thuần là một cuộc tranh luận chính trị và những cuộc biểu tình của công dân (tán thành hay phản đối dự luật), thì chẳng có gì để nói : đó là những biểu hiện bình thường của đời sống dân chủ. Nhưng lần này, đường « phân thuỷ » tách biệt phe « ủng hộ » và phe « chống » lại chạy xuyên suốt các tổ chức chính trị, công đoàn, hội đoàn, tình trạng ông nói gà bà hiểu vịt xảy ra như cơm bữa, những khái niệm như « toàn thống » (fondamen-talistes), « toàn thủ » (intégristes), « ố Hồi » (islamophobes), « thế tục » (laïcards), trong cửa miệng những người tranh luận, bị nhoà nghĩa, thậm chí đảo nghĩa.

Thêm vào đó, nước ngoài lại đổ dầu vô lửa trong cuộc tranh luận nội bộ này. Trong các nước Hồi giáo và tại một số nước di dân, tín đồ đạo Hồi tụ tập trước các lãnh sự quán Pháp để phản đối một đạo luật mà họ đánh giá (đúng hoặc sai) là chống Islam. Đáng ngạc nhiên hơn là những nước như Hoa Kì và Vương quốc Anh cùng biểu lộ sự quan ngại trước cái gọi là « vi phạm quyền tự do tôn giáo », thông qua phát biểu của những nhân vật thẩm quyền như T. MacTaggard, phụ trách chính sách các cộng đồng thuộc Bộ nội vụ Anh, hay John V. Hanford, đại sứ lưu động Mĩ đặc trách về tự do cúng bái. Và cuối cùng, điều này không làm ai ngạc nhiên, cả Giáo hoàng cũng xía vào, tố cáo « chủ nghĩa thế tục » Pháp.




Share/Save/Bookmark

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2009

Quân tử và Cô gái

Nguồn : Diễn đàn forum


Phạm Toàn

Việt Nam am hiểu và biết tôn trọng văn hoá lân bang, nói tới “ quân tử ” là nghĩ ngay đến một khái niệm trung tâm trong đạo làm người do nhà triết học thực dụng Khổng Khâu đưa ra.

Bài viết này không định giúp nước bạn nối dài cái “ đạo ” của người quân tử theo hướng tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ đó, để họ nghĩ mình ủng hộ thì cứ bình chân như vại mà tu thân tàm tạm, tề gia tiềm tiệm, trị quốc nhôm nhoam, cốt vươn dài cái vòi bạch tuộc ra mà bình thiên hạ là đủ !

Sở dĩ có bài kể chuyện thong thả này là nhân chuyện bà Rebiya Kadeer, một phụ nữ Tân Cương, tuy bà đã được thả ra khỏi nhà tù rồi và lưu vong ra tới nước ngoài rồi, ấy vậy mà bà vẫn còn bị chư vị quân tử của “ cố quốc ” đuổi theo doạ nạt. Họ còn doạ nạt cả chính quyền nước chủ nhà đang đón tiếp bà Kadeer, và đón tiếp thân tình hơn hẳn cái xứ sở vẫn cho mình là dân chủ hơn thiên hạ cả triệu lần (đồng chí Lenin cũng có nói về vấn đề này rồi).

Mọi tình tiết trong những chuyện kể dưới đây đều lấy từ trang mạng của đài ABC nước Úc, xin công bố để bạn đọc dễ kiểm chứng : www.abc.net.au (họ không đặt tường lửa đâu, vào đọc rất dễ).


Kadeer

Tại cuộc liên hoan phim quốc tế ở thành phố Melbourne nước Úc, mọi người được coi cuốn phim tài liệu về cuộc đời bà Kadeer. Tên bộ phim là Mười điều kiện của tình yêu. Mở đầu phim lại là hình ảnh bà Kadeer ngã vào tay bạn, và khóc nức nở : “ Tôi muốn chết… Tôi muốn chết đi thôi ! ”. Đó là hình ảnh khi bà Kadeer nhận được tin các con trai của bà bị bỏ tù ở Tân Cương, Trung Quốc vào năm 2006. Và cũng từ đó bà càng dấn thân hơn vào hoạt động đòi quyền con người cho tộc Uighur của mình.

Tộc người Uighur đang sống yên lành thì được Quân Giải phóng tới “ giải phóng ” cho ! Cùng với sự “ giải phóng ” là làn sóng di dân người Hán ở khắp nơi tới Tân Cương, dồn người Uighur vào cảnh sống dở chết dở. Tôn giáo và các truyền thống văn hoá riêng bị xoá bỏ vì bị coi là “ lạc hậu ”. Trong cuộc Cách mạng Văn hoá do Mao phát động, gia đình bà Kadeer bị xếp vào hàng “ kẻ thù giai cấp ”. Đất đai bị tịch thu, gia đình bà bị đẩy đi định cư ở nơi khác. Ông nội và cha đẻ bà Kadeer vốn là các chiến sĩ tham gia cuộc cách mạng lập ra nước Công hoà nhân dân Trung Hoa năm 1949, song cũng chẳng vì thế mà được “ chiếu cố ” tí gì. Cả hai cụ đều nhớ lại : “ Ngay từ khi mười sáu tuổi, Kadeer đã bắt đầu nhận ra rằng nguồn gốc nỗi đau khổ là sự đối xử tàn tệ của chính quyền Hán tộc ở Bắc Kinh và cuộc chiếm đóng của người Hán ở Tân Cương ”.

Con đường đấu tranh của bà Kadeer cũng lạ : nó không bạo động, nó phải tiến hành dần dần từ từ, trước hết bản thân bà phải học giỏi và phải làm kinh tế giỏi, để từ đó tìm đường giải phóng tộc Uighur của mình. Bà sớm trở thành người giàu thứ bảy của Trung Quốc thời hiện đại : và chính vì lẽ đó, năm 1992, giữa cao trào “ đổi mới ” khi “ mèo trắng hay mèo đen đều quý, miễn là bắt được chuột ”… Tuy nhiên, công việc kinh doanh của bà Kadeer cũng không như của mọi loại “ mèo ” khác ! Bà đấu tranh và sống khác hẳn những vị anh hùng khắc khổ trong lịch sử. Bà dùng tiền để nâng cao đời sống người Uighur theo cách riêng : bà chi lót tay hối lộ cho các quan chức để cứu những người tù chính trị, bà xây Cửa hàng Bách hoá chuyên bán quần áo cho phụ nữ Uighur, bà khởi động Dự án Một ngàn Bà mẹ Gia đình, nhằm hướng dẫn chị em tộc Uighur đi vào con đường kinh doanh.[1]

Bà được “ cơ cấu ” vào Quốc Hội nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa… Giá mà bà cứ ngồi yên vị ở đó ngậm miệng ăn tiền thì chẳng sao ! Năm 1997, bà chứng kiến cảnh quân lính Trung Hoa đàn áp tàn sát dân chúng Tân Cương ở thành phố Gulja. Và bà đã có bài diễn văn nảy lửa tại Quốc Hội. Các cán bộ cao cấp Tân Cương biết bà có ý định phát biểu, đã khuyên bà từ bỏ ý định đó, vì việc làm này có thể dẫn bà vào nhà tù. Nhưng bà nói : “ Còn gì phải nghĩ nữa ? Những con người được công chúng biết đến và kính nể như chúng tôi phải có một chọn lựa. Đó là làm cho thế giới biết rõ chuyện gì đang xảy ra, dù biết rằng làm như vậy mình sẽ đưa chân vào tù hoặc ít ra cũng là bị đẩy đi một chốn khác. Nhưng tôi đã lựa chọn lập trường tranh đấu ấy.

Con đường tranh đấu vẫn là hoà bình, không bạo động, như chính bà kể lại tại cuộc họp báo ở Úc hồi đầu tháng tám năm nay (2009). “ Tôi tìm cách hoạt động theo đúng luật pháp Trung Hoa. Tôi nghĩ rằng các nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ nhận ra mọi việc. Nhưng chính quyền Trung Hoa lại chỉ biết theo dõi tôi, ngăn cản tôi, và tìm cách giam giữ tôi. Có điều là, thật đáng tiếc, những việc họ làm đối với tôi, chỉ sau khi ngồi trong tù tôi mới nhận ra… ” [2]

Năm 1999 (hai năm sau bài diễn văn tại Quốc Hội “ dân chủ ”), bà bị xử tội “ hoạt động chính trị lật đổ ” và bị tù giam sáu năm trong đó có hai năm biệt giam khốc liệt. Năm 2005, áp lực quốc tế giúp bà được tha và qua sống tại Hoa Kỳ. Nhưng trước khi được tha, bà được cảnh báo là phải ngừng mọi hoạt động đòi nhân quyền cho tộc Uighur nếu không các con bà sẽ phải trả giá. Nhưng bà không thể nghe theo họ. Bà tiếp tục lên tiếng vạch trần mọi tội ác của chính quyền Bắc Kinh với tộc người Uighur ở Tân Cương. Kết quả là các con bà bị đánh đập và hai trong số đó bị bỏ tù. Nhưng bà nhìn nhận sự việc như sau : “ Vào thời điểm nguy kịch trong lịch sử một dân tộc, có khi sự hy sinh phải đổ lên đầu một gia đình… đó là một sự hy sinh khủng khiếp, nhưng tôi phải đặt dân tộc lên trên gia đình thôi ”.


Chuyến đi Úc


Các nhà điện ảnh có thiện cảm với bà Kadeer vì nhờ vai trò của bà mà họ biết đến cuộc sống của tộc người Uighur ở Tân Cương. Họ còn thấy cả sự đúng đắn trong cuộc đấu tranh ở đây.

Chính quyền Bắc Kinh đưa người Hán ồ ạt vào Tân Cương, bỏ mặc việc giải quyết những bất đồng về văn hoá, bỏ mặc việc xử lý những bất bình đẳng về kinh tế, nhắm mắt trước những bất công về chính trị và xã hội. Do đó, kết quả có thể được báo trước : sự hằn thù giữa hai dân tộc lớn - nhỏ. Chuyện đó đã xảy ra ở Tây Tạng và đã làm bùng phát những cuộc nổi dậy kéo theo là những cuộc đàn áp. Ngay giữa Bắc Kinh mà Đặng Tiểu Bình và Lý Bằng còn ra lệnh cho lính bắn như vãi đạn và cho xe tăng nghiền nát sinh viên biểu tình hoà bình và tuyệt thực để đòi dân chủ, thì hèm gì mà họ không “ mạnh tay ” hơn khi ở xa trung tâm ? (Xin coi video dài 1 giờ 18 phút về cuộc đàn áp Thiên An Môn [3]). Còn ở Nội Mông thì sao ? Bạn hãy tìm đọc cuốn tiểu thuyết Tôtem sói của nhà văn Trung Hoa ký dưới một tên giả Khương Nhung để tránh bị đàn áp : trong tác phẩm dài 800 trang (tiếng Việt do Trần Đình Hiến dịch), tác giả mô tả không cách gì khéo hơn và rành mạch hơn về sự thống trị ngu muội của người Hán với dân tộc Mông [4].

Các nhà điện ảnh đã làm một bộ phim tài liệu về bà Kadeer, và họ mời bà qua Úc, đến tận thành phố Melbourne dự liên hoan.

Chính quyền của các bậc “ quân tử ” đã hành xử thế nào ? Có năm việc điển hình cho hành vi của các bậc quân tử có thể kể ra ở đây :

* một, gọi bà Kadeer là “ kẻ khủng bố ” đã, và quy cho bà ngồi ở nước ngoài để chỉ đạo cuộc nổi dậy của dân Tân Cương hồi tháng 7-2009 vừa rồi ;

* hai, gây ra một vụ xì-căng-đan có tên gọi là gián điệp thương mại và kinh tế và cho tóm luôn người đại diện của hãng Nhôm Rio Tinto của Úc đang thương thảo buôn bán với Trung Quốc;

* ba, yêu cầu chính phủ Úc không cho bà Kadeer vào Úc tham gia liên hoan phim mà bà là một nhân vật quan trọng của cuộc vui đó;

* bốn, yêu cầu chính phủ Úc không cho bà Kadeer phát biểu tại Câu lạc bộ Báo chí; và

* năm, huy động các đồng chí Hoa Kiều (yêu nước) đang sống ở Úc tiến hành chống phá các hoạt động của bà Kadeer ngay trên đất nước đang cho họ tá túc.

Việc gọi bà Kadeer là kẻ khủng bố là một hành vi rẻ tiền, nhưng các ông quân tử vẫn cứ sử dụng, họ chẳng thấy chuyện đó có gì đáng hổ thẹn cả. Cái điều từng được Nam Cao ở Việt Nam mô tả và đặt tên là “ tư cách mõ ” thì cũng đã từng được Lỗ Tấn mô tả vô cùng sinh động trong “ tư cách Khổng Ất Kỷ ” ; đó là một kiểu nhân vật Khổng Nho bị đánh đến què chân vì tội ăn cắp, đi không nổi, đến nỗi phải lết đi trên đường bùn lầy bằng tay, tư cách ấy nên mới có nổi lớp con cháu xứng đáng, biết giấy rách giữ lấy lề, có là Tư Bản thì cũng cứ phải là Tư bản Đỏ cho chính danh quân tử ! Nếu bà Kadeer cứ tiếp tục bán mình cho cái Quốc Hội “ chính danh và đồng thuận ” của họ, thì bà còn tiếp tục là “ bậc nữ lưu anh hùng ”, bà còn tha hồ tới đó mà ngủ gật ; nhưng khi bà đã lên tiếng đấu tranh và đấu tranh quyết liệt cho lẽ phải, khi đó bà sẽ thành tên khủng bố ; hoá ra cái khoảng cách từ Đại Lễ đường Nhân dân Bắc Kinh tới trại giam Bắc Kinh cũng không xa mấy, cách nhau chừng một trang Nhân dân nhật báo là cùng !

Về việc các bậc quân tử yêu cầu chính phủ Úc không cấp visa nhập cảnh, và sau đó, khi ông bộ trưởng ngoại giao Stephen Smith vẫn cứ cho cấp visa nhập cảnh, rồi khi visa đã có trong tay, bà Kadeer vẫn bị con cháu Khổng (Ất Kỷ) đuổi theo yêu cầu không cho bà phát biểu tại Câu lạc bộ Báo chí. Họ hành xử như thể đang ở Bắc Kinh khi báo chí nem nép đi theo lề bên phải. Tội nghiệp, bà Kadeer vẫn tới được và vẫn nói chuyện trước đông đảo giới báo chí. Một nhân vật cấp cao đã phát biểu như sau : “ Bây giờ thì tôi tin chắc là mình đúng ! ” Đem phiên dịch câu nói vừa rồi, có lẽ sẽ được câu như sau : “ Trước đây mình cũng còn ngờ ngợ, ồ ngộ nhỡ bà chị Kadeer là tay khủng bố thì sao nhỉ ? Nhưng bây giờ, khi thấy bà bị khủng bố như thế, thì mình tin là mình đúng. Bà ta không phải là tay khủng bố. Bọn khủng bố ngồi ở chỗ khác kia !

Chưa hết, đến cái trò mạt hạng này mới hết lời bình luận : do chỗ vé vào coi Liên hoan phim buổi có chiếu phim về bà Kadeer được bán qua mạng, nên các vị quân tử liền lên mạng và tung tiền ra mua vét bằng hết, không cho ai mua ké một tấm nào nữa, cốt sao giữ cho phòng chiếu trống trơn, cốt sao gây được một nỗi hoang mang cho công chúng, thế là họ thỏa lòng. Khi dân mạng mở máy ra để đặt mua vé, họ chỉ thấy một lá cờ, người thì nói nó phất phới bay, người thì nói đó là hình ảnh một cái gì như thể đang nhăn nhở cười…

Trong công việc phá phách này, chư vị quân tử Thiên triều trông cậy rất nhiều vào đám người Hoa sống tản mắt khắp thế giới. Trong lịch sử, thường có câu nói vui : “ ở đâu có cỏ, ở đó có các chú con Trời ”. Nước Úc có cỏ, ở nước Úc cũng có nhiều chú con Trời. Sự lạ không nằm trong cái hiện tượng nhân mãn ấy. Sự là, ấy là kể cả khi bị xua đuổi tàn tệ, các chú con Trời vẫn đầy tinh thần Đại Hán, vẫn thích lấy thịt đè người chống lại những thân phận mảnh mai như bà Kadeer. Chẳng biết họ có hiểu rằng thân phận họ cũng chịu áp bức như bà Kadeer và tộc Uighur ở Tân Cương không ? Chẳng lẽ trong số dăm chục triệu người chết oan trong Cải cách ruộng đất và Cách mạng văn hoá lại không có ai thuộc gia đình, bè bạn, ông cha, đồng bào đồng chí của họ ? Vậy thì sự xua đuổi bà Kadeer họ tiến hành là vì ai và có lợi cho ai ? Suy cho kỳ hết mọi nhẽ, chuyện tâm lý dân tộc vẫn là chuyện vô cùng đau đầu. Ờ thì con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nhà nghèo. Nhưng bọn Tư bản Đỏ liệu có đáng là cha là mẹ của người dân để đến nỗi phải hy sinh vì chúng ?


Rio Tinto và bản hợp đồng mới toanh


Như đã thủng thẳng kể ở bên trên, đồng thời với việc các ông quân tử gây áp lực chính phủ Úc không cấp visa cho bà Kadeer và ngăn chặn bà nói chuyện tại Câu lạc bộ Báo chí, các ông còn xơi phía Úc một cú : bắt ông Stern Hu, giám đốc quản trị kinh doanh của công ty Rio Tinto vì cáo buộc “ gián điệp thương mại và kinh tế5.

Điều quan trọng cần kể lại ở đây, ấy là quân tử thì bao giờ cũng vẫn là… quân tử, dù là cách sống từ thời Khổng Khâu đến cách sống thời Tư bản Đỏ, thì cũng không vượt hơn được cung cách “ quân tử ”. Song chỗ cần rút ra bài học ở đây lại là cách ứng xử của lân bang với các chú quân tử : họ đã gặp một thái độ lịch sự và cứng rắn từ phía Úc. Chính phủ Úc gồm những người có học thật, chứ không phải là những học giả. Ông thủ tướng từng tốt nghiệp Đại học Bắc Kinh, nói tiếng Hoa lưu loát, am tường văn hoá Trung hoa. Nhưng có lẽ vì vậy mà họ cứng rắn được, vì họ có học nên đủ sức để… nói tục mà không cần phiên dịch6.

Về chuyện “ gián điệp để moi bí mật ”, ông bộ trưởng ngoại giao Liên bang Úc nhận xét thế này : “ Trung Quốc xếp hạng “ bí mật nhà nước ” hơi bị rộng so với cách xếp của nước Úc, những cái gọi là “ bí mật ” này là tính cả về thương mại hoặc về kinh tế hoặc cả về thông tin nữa ”.

Ông bộ trưởng ngoại giao khi trả lời các báo, đã gắn ba việc với nhau : Trung Quốc giữ ông Stern Hu vì tội “ gián điệp ”, Trung Quốc yêu cầu không cấp visa cho bà Kadeer, và Trung Quốc yêu cầu ngăn cản không cho bà Kadeer phát biểu tại Câu lạc bộ Báo chí. Còn cần gì phải nói rõ hơn nữa ? Bộ trưởng ngoại giao Stephan Smith nói khi được các báo hỏi về cách thức “ lên tiếng ” này : “ Tôi nghĩ là có một điều tổng quát cần nêu ra ở đây. Các sứ quán, các nhà ngoại giao, các quan chức có quyền nói gì thì nói về xã hội Úc. Nhưng khi họ nói ra điều gì, thì điều đó cần phải thích hợp. Họ có thể nói ra mọi điều một cách đanh thép, nhưng cần phát ngôn ra một cách lịch thiệp và thích hợp. […] Tất cả các nhà ngoại giao cần có hành vi thích hợp. […] Và cũng cần nói rõ, khi người ta đưa ra một ý kiến, quan điểm, thì không có nghĩa chính phủi Úc thế nào cũng đồng ý với họ, hoặc nhất thiết người dân Úc phải đồng tình với họ ”.7

Đúng thế, và có lẽ hành vi quân tử đích thực, còn quân tử hơn cả quân tử, ấy là hành động của Úc vừa ký kết mới đây một hiêp định trị giá 50 tỷ đô-la giữa một công ty Úc bán khí hoá lỏng cho Trung Quốc, và hiệp định có giá trị trong hai mươi năm. Người ta đưa tin đàng hoàng : “ Hiệp định giữa hãng ExxonMobil trị giá 50 tỷ đô-la bán khí hoá lỏng cho Trung Quốc là hợp đồng lớn nhất trong lịch sử nước Úc. Đó cũng sẽ là dự án xây dựng đơn nhất nhưng lớn nhất trong lịch sử nước Úc tại đây vào lúc cao điểm sẽ tạo ra 6000 việc làm.

Hành động của Úc chỉ ra một nguyên lý việc nào đi việc đó. Các trắc trở trong quan hệ giữa các nước, vừa là giữa các quốc gia vừa là giữa các dân tộc, thì cứ còn đó. Nhân loại suy cho cùng vẫn còn chưa trưởng thành. Nhưng các chính khách nhìn xa thấy rộng thì phải trưởng thành. Họ phải ngồi lại với nhau, họ phải cùng xử lý công việc, họ không được phép làm hại đến một cái vẩy cá thuộc về các ngư dân, họ không được phép đụng vào một cục quặng thuộc về những miền đất mà một tiếng cồng chiêng cũng đủ âm vang đại diện cho cả một nền văn hoá mấy nghìn năm.


Vĩ thanh chẳng vui chẳng buồn

Bà Kadeer vừa lên tiếng, và lên tiếng rất hay tại Câu lạc bộ Báo chí nước Úc8 : “ Tôi đánh giá rất cao sự ủng hộ từ phía chính phủ Trung Quốc trong việc nâng cao hình ảnh cá nhân tôi. […] Tôi làm sao có thể chi hàng triệu đô-la để được quảng cáo như vậy, nhưng nhờ có chính phủ Trung Quốc mà tôi có thể làm cho người Úc thấy được cảnh ngộ tuyệt vọng của đồng bào Uighur chúng tôi […] ”.

Một cảnh ngộ bi thảm được bọc lại bằng những lời lẽ nghịch ngợm.

Loài người sẽ thắng bọn quân tử tạp nham ở khắp các xó xỉnh trên Trái đất, từ Biển Đông tới Tân Cương, từ Gaza tới Osetia, từ Bagdah tới đâu đâu nữa, chỉ vì cái tinh nghịch của bà Kadeer già nửa đời người vẫn còn vui được như một cô gái bé vào giờ ra chơi đang nhảy dây ngoài sân trường.

Phạm Toàn


6Vụ Trung Quốc bắt nhân viên tập đoàn Rio Tinto : Úc lên tiếng cứng rắn ” : xem đâyđây.

7 như chú thích (5)

Share/Save/Bookmark

Thứ Ba, 11 tháng 8, 2009

Ngụ ngôn tân thời

Nguồn : Diễn đàn forum

Bài học 1 :


Thấy Quạ ngồi trên cây cả ngày mà không làm gì, Thỏ con hỏi :

‒ Tôi có thể ngồi cả ngày mà không làm gì như anh không ?

‒ Tất nhiên, tại sao lại không. ‒ Quạ nói.

Vậy là Thỏ con ngồi dưới đất nghỉ ngơi. Bỗng nhiên, Cáo già xuất hiện, vồ lấy Thỏ và… xơi.

Bài học rút ra : Để được ngồi không, bạn phải ngồi ở vị trí rất, rất cao… Ít nhất là... [kiểm duyệt bỏ]


Bài học 2 :


Gà tây nói với Bò tót :

‒ Tôi muốn nhảy lên ngọn cây kia nhưng tôi không đủ sức.

‒ Vậy thì rỉa phân tôi đi. ‒ Bò tót khuyên.

Gà tây mổ phân của Bò tót và thấy thực sự đủ sức để nhảy lên cành cây thứ nhất. Ngày tiếp theo, sau khi ăn một ít phân bò, Gà tây nhảy được đến cành cây thứ hai. Cứ thế đến nửa tháng sau, Gà tây đã lên tới ngọn cây. Không lâu sau đó, Gà tây bị một bác nông dân bắn rơi.

Bài học rút ra : Sự ngu ngốc có thể đưa bạn lên đỉnh cao nhưng không thể giữ bạn ở đó mãi.

Tự nhủ : (1) Không nên vội vàng leo lên đỉnh ; (2) Đã leo lên tới đỉnh rồi thì phải vơ vét cho thật nhanh rồi … tụt xuống ngay.

Lã Phụng Nhân


Share/Save/Bookmark

Thứ Hai, 6 tháng 7, 2009

Giọt mực giọt đời : Chuyện phù thuỷ

Nguồn : Diễn đàn forum

Vài chuyện phù thuỷ Đông và Tây


Bùi Trọng Liễu



Chuyện phù thuỷ thì dẫn cả chục cuốn sách cũng không hết. Tôi chỉ muốn nói tới vài chuyện gây “ấn tượng” cho tôi.

Thuở nhỏ tôi về quê, tôi thuờng nghe mấy người lớn kể chuyện phù thuỷ. Có ông phù thuỷ ra chợ, đi rảo qua mấy hàng bánh đúc, đe rằng ông ta đang dẫn theo âm binh, nếu không “cúng” ông ta mấy đĩa bánh để nuôi âm binh, thì chúng sẽ “vầy” làm cho bánh đúc bị thiu, không bán cho ai được cả. Có người tin ngay, có người chưa tin nhưng mùa hè, thời đó không có tủ lạnh, bánh đúc chậm bán, để lâu thì tự nó cũng thiu; rốt cục ai cũng tin. Ông ta vì bịp mà được ăn không trả tiền.

Rồi lại có câu chuyện phù thuỷ phù phép cho cái hình nộm bằng rơm “đi” được trên cái mâm đồng, bà con ở quê sợ tay phù thuỷ này lắm. Sau Cách mạng mới được giải thích như sau : dưới chân cái hình nộm có độn mấy con ốc đã bị để khát từ lâu, trên mặt mâm đồng, bôi 2 dòng nuớc; ốc đang khát, cứ moi theo đường nước bôi mà uống nên cái hình nộm di chuyển được là như vậy. Tôi chỉ nghe kể mà chưa được chứng kiến, nên không dám khẳng định là đúng hay sai, theo nghĩa khả thi hay không.

Chỉ có điều là tôi đã không tin thần tiên, thì cũng chẳng tin ma quỉ, huống hồ phù thuỷ !

Mới đây, tôi đọc thấy bài Vuốt đùi, vuốt ngực chữa bách bệnh.

Tôi dẫn vài đoạn:

Lấy được tiền lại thoả máu... dê […]. Đàn ông thì thầy chữa chớp nhoáng, còn phụ nữ thì thầy bảo xắn quần lên cao, vén áo qua ngực rồi hồn nhiên dùng tay điểm, vuốt. Có cô đau mắt mà bị thầy vuốt ngực tới 20 phút […]. Theo người dân địa phương, có lúc hàng chục khách cùng thuê ô tô từ Long An lên rồi thuê phòng trọ ở lại 5-10 ngày để chờ thầy chữa bệnh […] ”.

Thời nay lắm chuyện lạ kỳ, khó tả, nhảm nhí chẳng kém hoặc còn hơn cả thời xưa. Có lẽ do xã hội không ổn nên một số người muốn dựa vào cái mà họ gọi là “ tâm linh ” để tìm một sự an bình nào đó chăng ? Rồi có một lũ vua bịp, thấy có “ cầu ” nên sẵn sàng “ cung ”, theo một cái học thuyết mới được chế biến nào đó. Dù sao, đó chỉ mới là những chuyện bịp bợm ở mức độ cá nhân, lẽ ra chính quyền nên biết ngăn cấm; nhưng chỉ một số người cả tin bị lừa thì cũng chưa tại hại lắm.

Cái tai hại lớn có lẽ là “ tư duy phù thuỷ ” nằm chềnh ềnh ngay trong bộ máy hành chính chính quyền. Chắc chẳng cần triển khai dài dòng những “ thiên biến vạn hoá ” giữa những từ ngữ xì ra nhưng với ý nghĩa ngược lại, những quyết định với những lý lẽ nêu ra và thực tế của kết quả.

Ở đây, tôi cũng muốn đề cập đến một vế khác của chuyện phù thuỷ “ sạch ” hơn : phù thuỷ thành thực nhưng “ non ” tay ấn. Đó là chuyện “ phù thuỷ tập việc ”. Khởi thuỷ, là nội dung một bài thơ (1797) của văn hào Đức J.W. von Goethe (tiếng Đức là Der Zauberlehrling, tiếng Pháp dịch là L’apprenti sorcier) ; trăm năm sau gợi hứng cho nhà soạn nhạc Pháp Paul Dukas viết bản nhạc giao hưởng vui scherzo symphonique (1897) ; rồi nhà làm phim Mỹ Walt Disney đưa vào cuốn phim hoạt họạ Fantasia (1940) mà vai trò « phù thuỷ tập việc » là chú chuột Mickey.

Nội dung câu chuyện đại khái như sau. Một cậu học nghề phù thuỷ, được ông chủ, phù thuỷ, trước khi đi vắng, giao cho nhiệm vụ đổ nước quét nhà. Đáng lẽ phải tự làm, cậu ta phù phép, sai cái chổi làm việc thay mình. Không dè học chưa thấu, niệm thần chú thế nào mà từ một cái chổi, một thùng nước, biến thành mười thành trăm, nước đổ lênh láng lụt cả nhà của chủ, cậu ta không biết làm cách nào ngưng lại được.

Thoạt đầu, tôi ngỡ dịch Der Zauberlehrling ra tiếng Việt là dễ, ai dè khó hơn tưởng : “ Phù thuỷ tập tễnh ”, “ Học trò phù thuỷ ” , “ Kẻ tập làm phù thuỷ ”, “ Gã học dỏm làm phù thuỷ ”, vv. nghe ra không thoát hết nghĩa, vì ngày nay ở phương Tây, người ta quen dùng cách gọi này để chỉ một kẻ không có “ tầm(chữ có dấu huyền), học chưa thấu, hiểu biết lõm bõm, mà đã tưởng là mình khôn, đua đòi thực hiện để rồi gây ra tai hoạ.

Chuyện gốc thì hài hước như vậy. Nhưng sự đời ở thế kỉ 21 này thì không như thế. Không thiếu lĩnh vực bị những gã “ phù thuỷ tập tễnh ” gây ra tai họa như trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, giáo dục đào tạo, kinh tế, kiến trúc, bảo tồn di tích, khai thác tài nguyên, vv. Đào tạo ra những loại người học giả bằng thật, tất nhiên họ chỉ có thể là những chuyên gia dỏm ; để rồi khi được đề bạt chức vụ cao, họ có thể có những quyết định bất cập, quái gở, thí dụ như lựa chọn những giải pháp kinh tế lạ kỳ, hay những đề án khai thác tài nguyên tưởng rằng béo bở, mà không thấy những hậu quả tai hại lâu dài.

Câu chuyện “ phù thuỷ tập việc ”, cũng làm liên tưởng đến câu chuyện cái “ hộp của Pandora ” (mà tôi có dịp kể trong bài báo có chép lại trên trang mạng của tôi http://www.buitronglieu.net), tóm tắt là chuyện cái hộp mà chúa tể các thần Hy-lạp trên trời trao cho nàng Pandora làm của hồi môn khi nàng này được xuống trần gian lấy chồng. Trao cho cái hộp, nhưng lại dặn là đừng mở ra; nhưng nàng này xuống trần gian rồi, tò mò mở ra xem. Thế là bao nhiêu cái xấu, khổ ải, tai hoạ, đang nhốt trong đó, tuồn tuột theo nhau chui ra. Nàng hãi quá, vội đậy cái nắp hộp lại, nhưng không kịp nữa, vv. Ngày nay, ở phương Tây, người ta quen dùng cụm từ này để khuyên kẻ chưa đủ “ tầm ”, thì đừng đụng vào những việc khó ; đụng vào nó rồi thì gây ra hậu quả tai hại, cuống queo muốn sửa cũng không kịp nữa. Hay nói một cách dân dã dễ hiểu như trong Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân: « [để] rắm đã lìa trôn, còn [cố] đưa tay bịt » – (theo bản dịch của Phan Quân, nxb Khai Trí, Sài Gòn).

Nhưng đó là nói với những người còn có “ tâm(chữ không có dấu huyền). Chứ với nguời không còn “ tâm ”, thì ta có câu tục ngữ :Tham thì thâm, Bụt đã nhủ thầm rằng chớ có tham. “ Thâm ” đây – (theo Từ điển tiếng Việt của nhóm Hoàng Phê) – mang nghĩa “ lạm vào một khoản tiền khác ”, thí dụ như vì lợi riêng mà tiêu lạm vào ngân quỹ của dân. Bụt đã nhủ như vậy, nhưng nếu họ cứ tham, thì sao ? Có lẽ chỉ Bụt mới biết câu trả lời !

Tìm trong từ điển, tôi chưa thấy có từ nào để chỉ những loại sự việc kể trên xảy ra ở xã hội ta, chúng không thuộc một thứ lôgic nào cả, có lẽ chúng gần gụi với một thứ “ tâm linh ” nào đó, đồng thời chúng rất kỳ dị, hơn cả phép phù thuỷ. Không biết gọi chúng là “ u dị ” – “ u ” nghĩa là “ tối tăm ” – có phù hợp không ?

Share/Save/Bookmark

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2009

"Giao thiệp" hay khấu đầu ? "Đề nghị" hay đề huề ?

Nguồn : Diễn đàn forum

Thứ trưởng ngoại giao "giao thiệp" với đại sứ Trung Quốc để "đề nghị" không cản trở ngư dân Việt Nam trên vùng biển Việt Nam.



Giao thiệp với Trung Quốc


HUY ĐỨC

Lịch sử chắc chắn sẽ lưu lại phương cách đấu tranh bảo vệ chủ quyền của thứ trưởng Hồ Xuân Sơn khi ông Lê Dũng mô tả sự kiện ông Sơn gặp đại sứ Trung Quốc sau những hành động gây hấn của họ ở biển Đông là “ giao thiệp ”. Tôi không rõ ông Sơn gặp Tôn Quốc Tường trong hoàn cảnh nào. Nhưng, trong những tình huống tương tự, bộ Ngoại giao chỉ có thể triệu Tường lên hoặc cho đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh gặp bộ Ngoại giao họ để trao công hàm phản đối.

nhandan
Báo NHÂN DÂN ĐIỆN TỬ ngày 7.6.2009

Khi một quốc gia ngang ngược, đại diện chính quyền không thể nào “ giao thiệp ” với sứ họ trong những tư thế có thể phương hại đến thể diện quốc gia. Tuy Việt Nam nhỏ hơn Trung Quốc hàng chục lần, nhưng đây không phải là một cuộc tỷ thí của hai kẻ lục lâm. Đường đường là một quốc gia, Việt Nam lại đang là thành viên của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc.

Khi đã “ có đầy đủ bằng chứng ” Trung Quốc cấm đánh cá trong “ những khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông ” thì từ ngữ dù là ngoại giao cũng không thể là “ đề nghị ”. Thứ trưởng Hồ Xuân Sơn có trách nhiệm “ yêu cầu ” Trung Quốc chấm dứt các hoạt động cản trở công việc làm ăn bình thường của ngư dân Việt Nam trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Tất nhiên, khi Trung Quốc, ngày 16-05-2009, cho tàu Ngư Chính tới Hoàng Sa và cuối tháng 5-2009 điều tiếp 08 tàu tuần tra tới biển Đông, là đã có sự rắp tâm. Cho dù ông Lê Dũng hay Hồ Xuân Sơn sử dụng ngôn từ đanh thép tới đâu thì các ngư phủ Việt Nam vẫn khó lòng tới những khu vực nói trên đánh cá. Nhưng, một lời tuyên bố khảng khái từ Chính phủ, cũng giống như một ngọn đèn xa nơi sóng dữ, có thể giúp cho những ngư dân gặp nạn ngoài biển lớn không còn cảm giác bị bỏ rơi.

Lẽ ra, ngay từ khi nhận được tin, lúc 3g sáng ngày 19-5, một tàu câu mực của ngư dân, bị một “ tàu lạ ” cố ý đâm, hất xuống biển 26 thuyền viên, Chính phủ phải lập tức điều tra và yêu cầu các quốc gia có tàu bè đi lại trong khu vực cùng tham gia điều tra ; hành động ấy phải được coi là hải tặc. Lẽ ra, báo chí nước ngoài phải được mời đến vùng biển ấy và gặp các ngư dân bị nạn ngay. Rồi, khi Trung Quốc thừa nhận hành vi nói trên là do chính họ gây ra thì đại diện Việt Nam ở Liên Hiệp Quốc, phải lập tức đặt công hàm lên bàn Tổng Thư ký Ban Ki-moon.

Thế giới cần được biết, ở thiên niên kỷ thứ III vẫn có một quốc gia đối xử với con người mọi rợ : cho tàu lớn đâm vào tàu đánh cá của thường dân rồi để họ phải bám vào can nhựa, trôi dạt nhiều giờ trong đêm, sẽ chết nếu không được các ngư dân kịp cứu.

Việt Nam là một quốc gia nhỏ, nghèo, dân chúng đã mỏi mệt vì phải tham gia quá nhiều cuộc chiến. Cho dù vẫn có không ít người sẵn sàng ra trận để bảo vệ mỗi tấc đất cha ông, bổn phận một chính phủ thương dân là tránh để cho nhân dân đổ máu. Khi Trung Quốc đưa tàu ra biển, Việt Nam không nhất thiết cũng phải kéo tàu ra. Nhưng, ở nơi ngư dân của mình thường đánh cá và bị hành hung mà bơi nhiều giờ không thấy tàu cứu hộ thì Chính phủ cũng nên nhanh tay khắc phục.

Sự hiện diện trên biển Đông của Việt Nam theo nên hoàn toàn quang minh chính trực ; để bảo vệ chứ không phải là để tuyên chiến. Không mong manh để Trung Quốc dễ sát hại như năm 1988 ở đảo Gạc Ma nhưng cũng không “ chạy đua ”. Không đối đầu trên biển Đông nhưng cũng không cúi đầu trên bàn đàm phán.

Với một kẻ sẵn sàng thí cả biển dân như Trung Hoa, chiến tranh cũng đắt giá mà đấu tranh cũng cần trả giá. Càng nước nhỏ lại càng cần nhiều bạn bè ủng hộ. Một quốc gia khi tuyên bố về chủ quyền không thể khiến cho thế giới tin nếu chính họ cũng thiếu tự tin. Phẩm giá một dân tộc không thể được phát ra bằng những ngôn từ lí nhí. Sẽ không ai nghĩ một quốc gia là hiếu chiến khi kiên trì đấu tranh pháp lý và đanh thép phản đối một quốc gia to hơn trước những hành động xâm phạm chủ quyền. Khảng khái trên mặt trận ngoại giao thường gây thiện cảm nhiều hơn là mua gươm, sắm súng.

NGUỒN : Blog Osin ngày 8.6.2009


Share/Save/Bookmark

Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2009

Tôi viết về những người cam chịu lịch sử

Nguồn : Diễn đàn forum

Ngày 26.4.2009, nhận lời mời của Trung tâm Nghiên cứu chiến tranh và hậu quả xã hội William Joiner (viết tắt : WJC), Đại học Massachusetts, Boston, mời sang Mỹ), nhà văn Bùi Ngọc Tấn đã có một bài nói chuyện về văn học chiến tranh, trong đó ông chủ yếu "đề cập đến một mặt khác của chiến tranh, chính xác hơn là nói đến những người tham gia chiến tranh một cách đặc biệt, chưa từng được nhắc đến trong các cuộc tổng kết, các buổi hội thảo, những người tham gia chiến tranh bằng việc đi tù". Dưới đây là nguyên văn bài nói này.

tôi viết về
những người cam chịu lịch sử

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn

bnt

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn tại San Francisco, 2009

Lịch sử một đất nước, một dân tộc thường được biết đến như lịch sử những cuộc chiến tranh. Lịch sử Việt Nam càng chứng tỏ điều ấy. Những cuộc chiến tranh chống phong kiến phương Bắc (Trung Hoa), những cuộc chiến tranh với Chiêm Thành, và những cuộc chiến tranh “mở mang bờ cõi”. Đó là chưa kể những cuộc nội chiến như Trịnh - Nguyễn phân tranh kéo dài bao nhiêu năm tháng.

Chỉ trong thế kỷ 20, dân tộc Việt Nam đã trải qua bốn cuộc chiến tranh: Chiến tranh chống Pháp, chiến tranh Nam Bắc và chống Mỹ, chiến tranh chống Pôn Pôt ở biên giới Tây Nam và chiến tranh chống Trung Quốc ở biên giới phía Bắc.

Chiến tranh đã kết thúc trên 30 năm, đã lùi xa. Đã được tổng kết, sẽ còn được các bên tham chiến tiếp tục tổng kết. Tổng kết và vinh danh những người đã ngã xuống. Nước Mỹ dựng bức tường Việt Nam, ghi tên hơn 5 vạn binh sĩ hy sinh. Và ở Việt Nam, biết bao đơn vị anh hùng, cá nhân anh hùng đã được tuyên dương...

Tôi muốn đề cập đến một mặt khác của chiến tranh, chính xác hơn là nói đến những người tham gia chiến tranh một cách đặc biệt, chưa từng được nhắc đến trong các cuộc tổng kết, các buổi hội thảo, những người tham gia chiến tranh bằng việc đi tù. Những người đóng góp vào cuộc chiến không phải bằng sinh mạng của mình mà bằng tự do của mình. Với kinh nghiệm sống trong một đất nước liên tiếp có những cuộc chiến tranh, tôi hiểu chiến tranh không chỉ đến một mình. Bao giờ nó cũng có một người bạn đồng hành: Nhà tù. Đó là người anh em sinh đôi của chiến tranh.

Trong chiến tranh, việc gìn giữ hậu phương là vô cùng quan trọng. Hậu phương là gốc rễ, là cội nguồn, là căn cứ bảo đảm sống còn cho tiền tuyến, cho chiến đấu và chiến thắng.

Khẩu hiệu: Dù phải đốt cháy dẫy Trường Sơn cũng vẫn chiến đấu tới thắng lợi hoàn toàn đã thể hiện rõ quyết tâm của miền Bắc giành chiến thắng bằng bất kỳ giá nào. Sự có mặt của 50 vạn sĩ quan và binh lính Mỹ cùng quân đội các nước đồng minh như Nam Triều Tiên, úc... tại miền Nam Việt Nam đã đẩy miền Bắc Việt Nam vào những năm tháng cực kỳ gay go gian khổ: Dốc toàn bộ nhân lực, vật lực, hy sinh tất cả cho cuộc chiến.

Trong cuộc chiến tranh khốc liệt này, miền Bắc thực hiện chủ trương pha lê hoá hậu phương. Những người đã từng cộng tác với Pháp, với Mỹ, những người có biểu hiện thiếu lòng tin vào sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản, những phần tử đáng ngờ, những kẻ trộm cắp, du thủ du thực..., tóm lại tất cả những gì là vẩn đục so với yêu cầu trong như pha lê của một xã hội cần pha lê hoá, đều bị tập trung cải tạo và đó được coi là một biện pháp không thể thiếu. Hơn nữa, nó còn có ý nghĩa răn đe những người khác, hướng tất cả vào mục tiêu chung.

Tổng kết về một cuộc chiến tranh không được quên những người đó. Họ đã góp phần vào chiến thắng, bằng cuộc đời mình, bằng sự đóng góp phần cao quý nhất của mình: Tự Do!

Họ có quyền được chia sẻ niềm tự hào, dù là sự tự hào nhục nhã.

Dù họ chỉ là những người cam chịu lịch sử.

Lịch sử phải viết về họ.

Văn học phải viết về họ.

Thiết tưởng cũng cần nhắc lại ở đây quan điểm của Albert Camus về nhà văn và nghề văn được bày tỏ trong diễn từ nhận giải Nobel văn học tại Stockholm (Thuỵ Điển) ngày 10 tháng 12 năm 1957, cách nay hơn nửa thế kỷ: “Theo định nghĩa, nhà văn giờ đây không thể phụng sự những người làm ra lịch sử, anh ta phục vụ những kẻ cam chịu lịch sử. Nếu không anh ta sẽ cô đơn và đánh mất nghệ thuật của mình. Tất cả những đạo quân của bạo cường với hàng triệu người cũng sẽ không cứu nổi anh ta ra khỏi sự cô đơn, ngay cả và nhất là nếu anh ta thuận tình đi đều bước với họ. Nhưng sự im lặng của một người tù không quen biết ở tận cùng thế giới, bị bỏ mặc trong nhục nhằn, cũng đủ kéo nhà văn ra khỏi trạng thái lưu đầy ấy mỗi khi, giữa những đặc quyền đặc lợi của tự do, anh ta có thể vượt lên để không quên sự im lặng đó và làm cho nó vang lên bằng những phương tiện của nghệ thuật.”

Chính với những suy nghĩ như vậy tôi đã cầm bút viết văn trở lại sau hơn 20 năm im lặng.

Cuộc đời sáng tác của tôi chia ra làm 2 thời kỳ:

1-Thời kỳ đầu tiên: Từ năm 1954 tới tháng 11 năm 1968, nghĩa là từ lúc bắt đầu nghề viết văn tới khi tôi bị bắt đưa đi tập trung cải tạo.

Trong thời kỳ này, những sáng tác của tôi đều ca ngợi con người mới cuộc sống mới, ca ngợi Đảng Cộng Sản Việt Nam, ca ngợi những người làm ra lịch sử. 14 năm đầu tiên, tôi viết theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, mô tả cuộc sống dưới sự lãnh đạo của Đảng, đang phát triển, đang đi lên, một xã hội không có bi kịch như nhà thơ Tố Hữu, người lãnh đạo văn nghệ Việt Nam đã khẳng định.

2-Thời kỳ thứ hai: Từ năm 1990 tới nay.

Đây là thời gian tôi viết về những người cam chịu lịch sử, về những thân phận bé nhỏ, về những người cố gắng tồn tại giữa những bánh xe của lịch sử, đặc biệt là những phận người rơi vào thảm cảnh tù đầy, những người chịu sự khinh bỉ của xã hội.

Về hai thời kỳ này của tôi, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên (Viện Văn Học VN) đã có một cái nhìn tổng thể như sau:

Năm 1995, sau 27 năm bị ngắt tiếng, “bị văng ra ngoài quỹ đạo”, Bùi Ngọc Tấn đã từ một hiện thực khác trở về. Và văn ông bây giờ là nói về một hiện thực khác và từ một hiện thực khác mà nhìn lại. Viết hồi ức, chân dung, truyện ngắn, tiểu thuyết, nhân vật chính trên các trang văn của Bùi Ngọc Tấn là chính ông và những người bạn cùng thế hệ được soi chiếu từ hai phía của một khoảng thời gian đã thành vạch phân cách đời người đời văn: 5 năm (1968-1973). Con dấu đóng giáp lai văn nghiệp Bùi Ngọc Tấn mang số hiệu CR 880 (CR 880 là số tù của tôi-BNT).

Thời kỳ viết văn thứ hai tới nay, tôi đã công bố hai tập truyện ngắn, hai tập hồi ký và hai quyển tiểu thuyết.

Những truyện ngắn của tôi đều viết về “những người cam chịu lịch sử”:

Một người có công với cách mạng bị nghi vấn, tất cả bạn bè đều xa lánh anh ta. Quấn quít trung thành với anh ta chỉ còn một con chó.

Một chị gái điếm chuyên phục vụ đám ăn mày.

Một anh tù bị giải đi trong một ô xà lim bịt kín trên xe com măng ca, trên một quãng đường 30 km nhưng từ sáng đến tối mới tới nơi, cực kỳ hoang mang vì những người áp tải thỉnh thoảng lại dừng lại để bắn chim mà anh ta không biết vì sao.

Một anh tù đi họp hội trường, gặp lại thầy cũ bạn cũ, từ dưới đáy xã hội, anh ta trở lại bậc thang học giỏi nhất lớp của mình. Nhưng khi cuộc họp mặt vừa tan, anh ta đã trở về vị trí “phó người”trong xã hội.

Một giám đốc bị bắt oan, vào tù bị “đầu gấu” đánh đập và bắt khoả thân đứng làm Nữ thần Tự Do, khao khát được như những người khác là chăn và giữ mấy con kiến trong một vòng tròn trên nền buồng giam nhưng không được “đại bàng” cho phép. Chỉ đến khi ra tù ông mới có thể thực hiện khát vọng ấy: Cài trái cửa, giám đốc rút ngăn kéo lấy ra một lọ nhỏ, trong đựng 4 con kiến, thả lũ kiến vào một vòng tròn bằng phấn vẽ trên bàn. Ông bẻ bánh cho chúng ăn và lấy những các vidit (có rất nhiều trong ngăn kéo- của khách và của ông) chặn chúng lại. Thỉnh thoảng ông còn đặt cả ghế lên bàn làm việc. Và khoả thân trên ghế. Đứng thẳng. Mắt hướng về phía xa. Tay giơ cao. Như nữ thần Tự Do.

Tôi xin phép được nói một chút về quyển tiểu thuyết Chuyện Kể Năm 2000 của tôi. Đó là bộ tiểu thuyết của đời tôi, bộ tiểu thuyết mang đậm chất tự sự của tôi. Chuyện một nhà báo đồng thời là một người viết văn mang tên Nguyễn Văn Tuấn bị bắt tập trung cải tạo trong thời gian chiến tranh chống Mỹ (1968-1973).

Cuộc sống trong tù của anh ta không có gì đáng nói ngoài nỗi đau ê ẩm gặm nhấm tim anh. Đó là một chuỗi dài những ngày xam xám, nhờ nhờ, bợt bạt. Như thứ ánh sáng lọt qua lỗ thông hơi vào xà lim những buổi chiều tà. Anh tù mười ngày cũng như anh tù mười năm. Một hiện tượng buồn thảm lặp đi lặp lại. Cuộc sống tẻ nhạt đơn điệu càng đơn điệu, tẻ nhạt vì không ai tin ai. Người tù này nhìn người tù khác bàng con mắt nghi ngờ. Ai cũng có thể là ăng ten, là chỉ điểm. Không ai cởi mở cùng ai. Bụng cứ liền rốn. Mỗi người là một vòng tròn khép kín. Thật khó viết. Rất dễ nhạt. Tôi cố gắng vượt qua khó khăn ấy, nói lên điều ghê sợ ấy trong cuốn tiểu thuyết của tôi. Nó bàng bạc khắp trong quyển truyện.

Rất khó cho tôi khi muốn kể lại nội dung Chuyện Kể Năm 2000. Đây là một cuốn tiểu thuyết không có cốt chuyện, chỉ có thể trực tiếp đọc nó. Đây là những cuộc đời bất hạnh tồn tại bên nhau, mỗi người mang một nỗi niềm riêng, một hoàn cảnh riêng, một lý do riêng để đến với nhà tù. Nhưng nội hàm của nó rộng hơn nhiều. Đằng sau các nhà tù, là cả một xã hội thời chiến tranh gian khổ khó khăn, thiếu thốn. Là cách quản lý xã hội thời chiến trong những ngày gay go ác liệt nhất, nghĩa là một nền chuyên chính vô sản được nâng lên một cấp độ mới. Bị nghi có những tuyên truyền chống Đảng Cộng Sản, nhà văn, nhà báo Nguyễn Văn Tuấn bị biệt giam xà lim, rồi lê chân hết nhà tù này đến nhà tù khác. Gần 5 năm sau, Tuấn được tha, không kết án, không buộc tội. Cuộc sống hậu tù của Tuấn gay go không kém những ngày sống trong tù. Nhất là khi ông trưởng công an quận gọi anh ta ra đồn, tuyên bố thẳng:

- Chúng tôi không cho anh đi làm. Tôi đã chỉ thị cho tiểu khu rồi. Tiểu khu không cấp giấy cho anh.

Sống dưới đáy xã hội, Tuấn nghiền ngẫm công lao của hắn đã đi tù để góp vào chiến thắng, và âm thầm giữ trong lòng nỗi “tự hào nhục nhã” của mình. Hắn có những thói quen mới: Ngồi ở đâu cũng cố ngồi thu nhỏ lại, gãi tai, nói chuyện với ai cũng gãi tai, kể cả nói chuyện với con, và không thể nào quên được những ngày tù tội. Thế rồi “điều khủng khiếp nhất đã đến với hắn suốt một thời gian dài sau đó. Gặp ai, ở đâu hắn cũng tưởng như gặp lại bạn tù cũ. Nhìn những người trên đường, hắn giật mình: “Quái nhỉ, ở trại nào nhỉ. Quen quá. Không biết đã gặp ở đâu rồi. Được về bao giờ nhỉ”.

Đó là một cảm giác kỳ lạ. Hắn luôn gặp những khuôn mặt tù quen quen. Những khuôn mặt tù ngờ ngợ. Không biết ở trại nào. Hẳn họ cũng như hắn. Mới được ra trại. Thoạt đầu hắn cho là hắn mắc bệnh quên. Trí nhớ hắn suy giảm, nên hắn không nhớ được những người bạn tù ấy. Nhưng rồi hắn giật mình: “Chẳng lẽ nhiều người đi tù về đến thế? Đất nước lắm người đi tù đến thế?”

Và hắn hoảng lên: “Mình hỏng mất rồi! Đầu óc mình hỏng mất rồi!”

Cùng với Tuấn là già Đô, một Việt kiều sống tại Pháp, bỏ cả người vợ Pháp và cô con gái nhỏ, nghe theo tiếng gọi của Tổ Quốc về Việt Nam, xây dựng đất nước. Già bị tập trung cải tạo vì đã thẳng thắn đấu tranh với cấp trên, và khi bị đuổi việc lại mắc thêm một sai lầm nữa: Đấu tranh theo kiểu Pháp. Ngồi ngay ở cổng xí nghiệp, tay cầm một miếng gỗ dán vuông, có cọc cắm, trên miếng gỗ dán già viết dòng chữ: “Phản đối giám đốc xí nghiệp vô cớ sa thải công nhân.” Đó là một hình thức đấu tranh không thể chấp nhận trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Thế là già vào tù. Khi được tự do, già về nhà Tuấn đã ra tù trước già một năm. Hơn hai chục năm già mới lại được sống trong không khí một gia đình, mới được ôm một đứa trẻ vào lòng. Già gặp con Tuấn, một đứa bé lên năm (cũng trạc tuổi cô con gái bé bỏng của già bên Pháp khi già về Viêt Nam).

Già bế bé lên, hít mùi thơm của đứa trẻ. Trong giây lát già tưởng như mình đang ở Mác xây hai mươi năm trước. Ôi! Mùi của trẻ thơ. Già nhận ngay ra nó. Đã mấy chục năm già vẫn nhận ngay ra nó. Dù ở Địa Trung Hải hay ven Thái Bình Dương thì cũng giống nhau cả mà thôi.”

Không chỗ nương thân, không còn con đường kiếm sống, già viết đơn xin trở lại nhà tù nhưng không được giải quyết. Già đi ăn cắp với hy vọng được tập trung cải tạo lần thứ hai, nhưng không ai bỏ tù già. Thật là thất bại thảm hại. Già vào mậu dịch vét thức ăn thừa, già đi bới rác. Và già chết cô đơn trong một ngôi đình hoang vắng.

Quyển tiểu thuyết của tôi có Giang Văn Giang, con trai một liệt sĩ anh dũng hy sinh thời chống Pháp, trở thành trẻ bụi, ăn cắp, đánh nhau, được đưa vào trường Kim Đồng, nơi học tập cải tạo các thiếu niên hư hỏng. Nhưng chính tại đây, từ chỗ chỉ quen biết một số bạn phố Bờ Sông, Giang đã quen hầu hết bọn thiếu niên hư trong thành phố và lại đi tù tiếp.

Còn có Sáng một thanh niên nông thôn, bị chính quyền xã ghét đưa đi tập trung cải tạo, 5 lần vượt ngục đều không thoát.

Còn có Nguyễn Văn Phố, một chiến sĩ quân báo của quân đội cách mạng, bị tình nghi là gián điệp cho Mỹ, tù 18 năm với câu nói thản nhiên làm Tuấn rợn người:

- Tôi đi tù năm vợ tôi 33 tuổi, năm nay vợ tôi 51 tuổi rồi.

Còn có Chí Lồng Sếnh, một anh tù người dân tộc, gần như không nói, không cười, chỉ im lặng lao động, bỗng một đêm nằm trong buồng giam, nghe tiếng nai gộ ngoài thung lũng, trở mình nằm sấp, nhìn ra bìa rừng ánh trăng bàng bạc, nói một mình:

- Con nai về ăn lá sắn non đấy.

Nỗi nhớ nhà, nhớ vợ con, làng bản chỉ gói gọn trong một câu ngắn ngủi ấy.

Còn có Nguỵ Như Cần tù hơn hai mươi năm, trông ao cá, một người sống giữa rừng đã gần biến thành cây cỏ.

Tôi không tra tấn độc giả bằng những cảnh đời xám xịt u tối tuyệt vọng suốt 800 trang sách. Theo sự đánh giá của đông đảo độc giả, Chuyện kể năm 2000 còn là quyển tiểu thuyết của tình yêu, tình yêu con người và tình yêu đôi lứa. Tôi đã cố gắng diễn đạt tình thương giữa những người tù trong những trang viết về Tuấn và Giang, về già Đô với Tuấn, về món quà tặng của Lê Bá Di cho Tuấn: Một bãi phân trâu. Cũng như tôi đã nói lên được phần nào tình bạn giữa Tuấn và những người cùng nghề nghiệp văn chương như Lê Bàn, Vũ Mạc, Lê Bình...

Và tình yêu giữa Tuấn và Ngọc, một tình yêu chỉ có trong những năm xã hội tốt đẹp sau chiến thắng chống Pháp 1954 với những đôi trai gái lãng mạn nồng nhiệt đắm say. Đây là ngày Quốc Khánh mùng 2 tháng 9 của họ:

Quốc khánh mùng 2 tháng 9, dậy từ lúc thành phố còn đang ngủ. Náo nức. Đứng ở cửa chờ Ngọc. Nhìn sang cánh cửa bên kia đường vẫn khép. Rồi nàng mở cửa nhẹ nhàng bước ra. áo dài trắng, quần trắng, đồng phục của trường đi đón ngày quốc khánh. Hai đứa nắm tay nhau đi trên đường phố vắng tanh. Không một bóng người. Như thành phố dành riêng cho ta. Vẫn chưa thể quen được với ý nghĩ mình có cả một người con gái để mình yêu quý. Có tên của người ấy để mình lên tiếng gọi. Cám ơn về tình em yêu anh. Cám ơn mẹ cha, mẹ cha sinh em ngày ấy để cho anh mười chín năm sau đó. Để bây giờ em là của anh. Để em đi bên anh và để anh yêu. Đi đâu bây giờ em? Còn sớm quá. Em dịu dàng và tinh khiết như bầu trời đêm trước lúc rạng đông này. Phố Tô Hiến Thành trong mơ. Ra tới phố Huế vẫn là trong mơ. Tay trong tay đi mãi trong phố vắng. Kia rồi một cửa hàng vừa mở. Mình và Ngọc là những người đầu tiên bước vào hiệu. Uống cà phê sữa. Nhìn nhau. Rồi chia tay khi trời rạng sáng. Nàng đi tới trường. Mình đến Ba Đình trong khối các cơ quan trung ương.

Buổi trưa nàng lại sang. Nàng đã tắm gội, tươi tắn lạ thường. Đến chiều hai đứa ra bờ hồ Hoàn Kiếm, tìm một chỗ ngồi từ lúc mặt trời vừa lặn để xí một chỗ cho đến tối. Để bảo đảm được nhìn thấy pháo hoa trên hồ. Những chùm pháo hoa trên bầu trời mịn như nhung có lẽ là những gì đẹp nhất, kỳ ảo nhất mà con người sáng tạo ra. Mình vừa ngước nhìn pháo hoa vừa quay lại nhìn nàng. Nàng mở to mắt nhìn trời. Cặp mắt nàng, gương mặt nàng với bao mầu sắc của pháo hoa ngày hội lướt qua. Nàng còn kỳ diệu hơn, xinh đẹp hơn mọi chùm pháo hoa đẹp nhất.

Và đây cuộc sống của họ sau khi kết hôn:

Ngồi bên giấy trắng. Một hạnh phúc tuyệt vời. Ngọn đèn chiếu một ô sáng. Cẩn thận hơn, hắn lấy một tờ báo, khoanh thành cái bù đài, úp chụp xuống để khỏi làm chói mắt vợ con đang nằm trong màn. Khi vợ con hắn đi nằm là lúc hắn ngồi bên giấy trắng. (...) Ngày đi làm, đêm hắn viết. Hắn có thói quen thức khuya. Hạnh phúc là được thức khuya trong yên lặng. Hạnh phúc là những dòng chữ kín từng trang. Là bóng tối mờ mờ trong phòng, và ở một góc buồng, màn buông, tiếng vợ con thở nhẹ nhàng trong giấc ngủ. Hạnh phúc là lúc đêm khuya cặm cụi, bỗng cảm thấy có người đứng sau lưng. Buông bút. Ngả người trên ghế, đầu đã chạm ngay vào ngực vợ. Linh cảm không nhầm.

Nàng đứng sau lưng tự bao giờ. Nàng đứng im lặng nhìn mình làm việc. Nàng đưa tay ép nhẹ đầu mình vào ngực nàng. Đầy đặn. ấm. Mềm. Mình dụi đầu vào đó và ngước mắt nhìn lên, thấy rõ dưới cằm nàng có một vết sẹo nhỏ, chỉ nhìn từ góc độ ấy mới thấy, vết sẹo khi nàng còn bé tí, bị vập vào miệng chum nước. Đứng phía sau, nàng ấp hai tay vào cằm mình, thì thào:

- Đói không?

Gật đầu. Thế là hai vợ chồng khoá trái cửa, để con ngủ trong màn, đi ăn phở khuya. Ông hàng phở Ngã Bẩy quen.

Bộ tiểu thuyết Chuyện kể năm 2000 của tôi được nhà Xuất bản Thanh Niên, cơ quan của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng Sản VN in, chưa phát hành đã có quyết định cấm, bị thu hồi tiêu huỷ. Nhưng nó vẫn được in chui hàng năm ròng sau đó với số lượng mà hiện nay chưa thể thống kê được (chỉ riêng một người bán sách ở Hà Nội cũng đã bán 1000 bộ) cũng như đã được đưa lên mạng để in và phát hành ở nước ngoài. Ngay lập tức quyển tiểu thuyết đã gây chấn động, trở thành sách bán chạy nhất dù phải bán chui ở trong nước và best seller trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Theo chỗ tác giả của nó được biết ở Canada, nhà xuất bản Thời Mới (Toronto) in 3 lần liên tiếp. Tác giả đã trông thấy 5 bản in khác nhau của 5 nhà xuất bản ở Mỹ. Tại Đức, có 2 bản in khác nhau. Tất cả các báo của cộng đồng người Việt trên các lục địa đều đăng tải dưới hình thức feuilleton. Đài BBC đã để ra 3 tháng đọc Chuyện kể năm 2000. Tôi đã nhận được hàng nghìn bức thư chia sẻ của những người Việt Nam và cả những người ngoại quốc từ các lục địa Châu Âu, châu Mỹ, châu úc và châu á. Tạp chí PEN International của Hội Văn bút Quốc tế đã trích đăng một chương. Tác giả của nó được vinh dự là hội viên danh dự của Hội Văn Bút Quốc tế và hội viên danh dự Hội Văn Bút Canada. Biết bao bạn đọc trong nước, ngoài nước đẫ đến với tôi. Họ cám ơn tôi và nói rằng tôi đã nói giúp họ những điều họ hằng suy nghĩ nhưng không nói được. Trong buổi tôi nói chuyện ở Viện Goethe Hà Nội, nhiều bạn đọc cảm động, khóc nức nở không nói được nên lời. Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên viết:

Bùi Ngọc Tấn viết văn trầm tĩnh và đôn hậu. Hình như đây là kết quả của sự kết hợp bản tính người và trải nghiệm đời nơi ông. Sau những gì đã xẩy đến với ông, nếu văn ông có giọng cay độc, chua chát cũng là điều dễ hiểu. Nhưng không! Ngay cả sự trầm tĩnh đôn hậu ở đây cũng không hề là phải cố ý, gồng mình, tỏ vẻ. Ông đưa lại cho người đọc những dòng văn tự nhiên dung dị, khi những oan trái khổ đau lặn vào sau câu chữ làm nên sức nặng, chiều sâu của những điều được viết ra. Một giọng điệu văn chương làm người đọc hiểu ông, tin ông, đồng cảm với ông và cùng ông đồng cảm với những phận người, những kiếp bụi nhân sinh. Cao hơn chuyện văn chương là chuyện cuộc đời. Bùi Ngọc Tấn là nhân vật của văn ông và đồng thời ông cũng là tác giả của những điều ông viết ra. Đó là văn chương của sự thật(...)

Ông đã gánh cây thập ác đi trọn con đường trần ai của mình.

Không vứt xuống.

Không chạy trốn.

Không gục ngã.

Không dừng bước.

Và dẫu không là Chúa, ông đã được phục sinh.

Còn đây là những đánh giá của nhà văn Nguyên Ngọc:

(...) Bùi Ngọc Tấn đã đi xa hơn được rất nhiều việc mô tả một tấn bi kịch cá nhân, thậm chí một bi kịch của chế độ - điều mà một số cuốn sách viết về nhà tù thường rất tập trung - để nói đến một tình thế phi lí của cuộc sống, và vô hình trung, cuốn sách trở thành như một thiên anh hùng ca, khiêm nhường mà cảm động về con người, con người có thể đi qua được tất cả những gì xấu xa đen tối nhất, đi qua tất cả bùn lầy, giữ vững chất người của mình chống lại tất cả những thế lực đen tối nhất muốn trừ tiệt chất người ở con người. Cuốn sách bị cấm, nhưng bằng nhiều cách vẫn được truyền tay đọc rộng rãi và tác giả của nó được sự kính trọng của toàn xã hội.”

Tôi cảm ơn tất cả các bạn đọc đã chia sẻ cùng tôi.

Cảm ơn trung tâm William Joiner đã tạo điều kiện để tôi có mặt ở đây hôm nay.

Cảm ơn các bạn đã có mặt cùng tôi tại đây.


Bùi Ngọc Tấn


Đôi lời nói thêm :

Về Việt Nam, tôi nhận được những thông tin trái chiều về bài nói chuyện của tôi tại Boston. Có những ý kiến khen, nhưng cũng có những ý kiến chê mà chủ yếu là:

1- Tôi đã đánh đồng tất cả các cuộc chiến vào làm một.

2- Tôi như một người con trong gia đình đòi cha mẹ hồi môn chiến thắng: Lịch sử phải viết về họ, văn họ phải viết về họ.

Về điều 1: Thực sự tôi chỉ làm cái việc thống kê những cuộc chiến tranh trong thế kỷ 20 mà dân tộc ta đã trải qua thôi:

Chỉ trong thế kỷ 20, dân tộc Việt Nam đã trải qua bốn cuộc chiến tranh: Chiến tranh chống Pháp, chiến tranh Nam Bắc và chống Mỹ, chiến tranh chống Pôn Pôt ở biên giới Tây Nam và chiến tranh chống Trung Quốc ở biên giới phía Bắc. Không có ý kiến phân tích về tính chất các cuộc chiến tranh lại càng không đánh đồng các cuộc chiến .

Về vấn đề thứ hai. có thể tôi đã chủ quan, nghĩ rằng ai cũng hiểu ý mình định nói. Tôi muốn đề cập đến một mặt khác của chiến tranh, chính xác hơn là nói đến những người tham gia chiến tranh một cách đặc biệt, chưa từng được nhắc đến trong các cuộc tổng kết, các buổi hội thảo, những người tham gia chiến tranh bằng việc đi tù. Những người đóng góp vào cuộc chiến không phải bằng sinh mạng của mình mà bằng tự do của mình. Với kinh nghiệm sống trong một đất nước liên tiếp có những cuộc chiến tranh, tôi hiểu chiến tranh không chỉ đến một mình. Bao giờ nó cũng có một người bạn đồng hành: Nhà tù. Đó là người anh em sinh đôi của chiến tranh.

Và:

Trong cuộc chiến tranh khốc liệt này, miền Bắc thực hiện chủ trương pha lê hoá hậu phương. Những người đã từng cộng tác với Pháp, với Mỹ, những người có biểu hiện thiếu lòng tin vào sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản, những phần tử đáng ngờ, những kẻ trộm cắp, du thủ du thực..., tóm lại tất cả những gì là vẩn đục so với yêu cầu trong như pha lê của một xã hội cần pha lê hoá, đều bị tập trung cải tạo và đó được coi là một biện pháp không thể thiếu. Hơn nữa, nó còn có ý nghĩa răn đe những người khác, hướng tất cả vào mục tiêu chung.

Tổng kết về một cuộc chiến tranh không được quên những người đó. Họ đã góp phần vào chiến thắng, bằng cuộc đời mình, bằng sự đóng góp phần cao quý nhất của mình: Tự Do!

Họ có quyền được chia sẻ niềm tự hào, dù là sự tự hào nhục nhã.

Dù họ chỉ là những người cam chịu lịch sử.

Lịch sử phải viết về họ.

Văn học phải viết về họ.

Ý tôi muốn nói trong đoạn văn trên là: Chiến thắng của miền Bắc được làm nên bởi nhiều nguyên nhân trong đó có những năm tháng tù đầy oan khuất của biết bao người. Lịch sử không được quên nguyên nhân ấy, không được quên những người ấy.

Văn học phải viết về họ. Vâng. Cho đến hôm nay, tôi tự hào là nhà văn duy nhất trong nước đã viết về họ. Những già Đô, những Nguỵ Như Cần, những Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Văn Phố, những Vũ Lượng, Min, Giang Văn Giang... Tôi đã đưa cuộc sống của họ vào văn học, ra xã hội.

Càng không phải tôi đòi chia quả thực, khi rõ ràng những bọn người tù đầy chúng tôi để thực hiện pha lê hoá hậu phương cho đến ngày hôm nay vẫn sống sự quản lý đặc biệt của nhà nước. Đòi chia quả thực gì đây?

Nếu chịu khó đọc ngay đoạn sau của bài nói chuyện thì thấy rõ ngay ý tôi định nói:

Thiết tưởng cũng cần nhắc lại ở đây quan điểm của Albert Camus về nhà văn và nghề văn được bày tỏ trong diễn từ nhận giải Nobel văn học tại Stockholm (Thuỵ Điển) ngày 10 tháng 12 năm 1957, cách nay hơn nửa thế kỷ: “Theo định nghĩa, nhà văn giờ đây không thể phụng sự những người làm ra lịch sử, anh ta phục vụ những kẻ cam chịu lịch sử. Nếu không anh ta sẽ cô đơn và đánh mất nghệ thuật của mình. Tất cả những đạo quân của bạo cường với hàng triệu người cũng sẽ không cứu nổi anh ta ra khỏi sự cô đơn, ngay cả và nhất là nếu anh ta thuận tình đi đều bước với họ. Nhưng sự im lặng của một người tù không quen biết ở tận cùng thế giới, bị bỏ mặc trong nhục nhằn, cũng đủ kéo nhà văn ra khỏi trạng thái lưu đầy ấy mỗi khi, giữa những đặc quyền đặc lợi của tự do, anh ta có thể vượt lên để không quên sự im lặng đó và làm cho nó vang lên bằng những phương tiện của nghệ thuật.”

Chính với những suy nghĩ như vậy tôi đã cầm bút viết văn trở lại sau hơn 20 năm im lặng.”

Có lẽ sự diễn đạt của tôi không được tốt, nên có thể hiểu theo nhiều cách trái ngược nhau.

Lỗi đó tại tôi.

Tôi xin nhận và rút kinh nghiệm trong khi viết.

B.N.T.

Nguồn : Bài nói chuyện tại WJC đã đăng trên trang web Bùi Ngọc Tấn và trên nhiều trang mạng khác. Chẳng hạn, ở đây bạn đọc sẽ được thấy hình bìa cuốn sách Chuyện kể năm 2000 do Nguyễn Trọng Tạo vẽ, NXB Thanh Niên, vừa in xong chưa phát hành thì bị thu hồi. "Đôi lời nói thêm" do tác giả gửi cho Diễn Đàn.

Share/Save/Bookmark
Related Posts with Thumbnails