Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân Văn Giai Phẩm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân Văn Giai Phẩm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 22 tháng 3, 2011

Phần XVI: Phan Khôi - Bài 2: Thời thanh thiếu niên

Nguồn : RFI

Thụy Khuê

Xuất thân trong một dòng họ mà người dựng nghiệp là Bà Cố, một phụ nữ độc lập, kiên cường, được giáo dục trong ý chí bất khuất của người thầy Trần Quý Cáp, chịu ảnh hưởng môi trường Duy Tân từ buổi thiếu thời, Phan Khôi có đầy đủ điều kiện để trở thành nhà trí thức tranh đấu cho dân chủ lừng danh của thế kỷ XX.


Ngày nay một phần tác phẩm Phan Khôi đã được in lại, nhưng cuộc đời thực của ông vẫn chưa được soi tỏ. Hệ thống xuyên tạc và bôi nhọ Phan Khôi trong hơn nửa thế kỷ đã tạo cho quần chúng sự e ngại khi nhắc đến tên ông, nỗi hoài nghi về con đường tranh đấu của ông.

Chúng tôi cố gắng tìm lại cuộc đời đích thực của Phan Khôi, ưu tiên qua những điều do chính ông viết ra, lượm lặt trong các truyện ký, truyện ngắn như: Lịch sử tóc ngắn, Chuyện bà cố tôi, Bạch Thái công ty thơ ký viên, Đi học đi thi, Ông Bình Vôi, Ông Năm Chuột và bài trả lời phỏng vấn, do bà Phan Thị Nga (vợ Hoài Thanh) viết lại, năm 1936. Những tài liệu của gia đình như Phan Khôi niên biểu của Phan Cừ, Phan An (Chương Dân thi thoại, Đà Nẵng, 1996) và Nhớ cha tôi (Đà Nẵng, 2001) của Phan Thị Mỹ Khanh, về niên biểu, cũng phỏng chừng, nhiều sự kiện trước sau lẫn lộn, có chỗ viết sai. Những bài đánh Phan Khôi của Nguyễn Công Hoan, Đào Vũ... dù rất nhơ bẩn, nhưng có vài chi tiết dùng được, bởi những người này đã có dịp gần Phan Khôi trong 9 năm kháng chiến, nghe ông kể nhiều chuyện rồi xuyên tạc đi, để buộc ông tội phản quốc.

Tóm tắt tiểu sử và niên biểu:

Sinh: 6/10/1887 (20/8/Đinh Hợi) tại làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Mất: 16/1/1959 tại Hà Nội. Cha: Phan Trân. Mẹ: Hoàng Thị Lệ, con gái tổng đốc Hoàng Diệu.

Bút hiệu: Chương Dân, Khải Minh Tử, Tân Việt (chung với Diệp Văn Kỳ, Nguyễn Văn Bá), Thông Reo (chung với Nguyễn An Ninh), Tú Sơn (phiên âm chữ Tout Seul-Một Mình, để nhại Tú Mỡ)... Riêng trên báo Sông Hương (1936-1937), có hơn 10 tên khác nhau: Phan Khôi, Sông Hương, Ngự Sử, Phan Nhưng, Tú Vườn, Bê Ca, K, PK, TV, ... chắc chắn là Phan Khôi; còn TT, TM, PTT... có thể cũng là Phan Khôi. Vì vậy việc xác định văn bản Phan Khôi không dễ dàng.

1906, đỗ tú tài Hán học (những nơi ghi 1905 là sai vì 1905 không có kỳ thi hương).

1906-1907: Bỏ khoa cử, học quốc ngữ và chữ Pháp (với Lê Thành Tài). Hoạt động trong phong trào Duy Tân. Theo Phan Châu Trinh cắt tóc ngắn, làm bài Vè cúp tóc.

16/2/1908 ra Hà Nội học tiếng Pháp ở trường Đông Kinh Nghiã Thục, nhưng tới nơi, trường đã bị đóng cửa. Lánh về Nam Định, học với Nguyễn Bá Học được 3 tháng thì bị bắt giải về Quảng Nam. Bị tù 3 năm. Trong tù, làm bài Dân quạ đình công, tự học tiếng Pháp, nhờ thầy Ưng Điển (các con ông ghi Ưng Diễn) ra bài. 1911, ra tù. 1912, vào học trường dòng Pellerin ở Huế được vài tháng, bà nội mất, trở về làng chịu tang, rồi ở lại quê.

1913 kết hôn với Lương Thị Tuệ, quê huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, con Lương Thúc Kỳ, đỗ cử nhân 1900, làm quan tại Huế; sau dậy trường Dục Thanh (trường đầu tiên của phong trào Duy Tân, mở năm 1905 ở Phan Thiết). 1908, Lương Thúc Kỳ bị bắt, bị tù Côn Đảo tới 1917. Bà Lương Thị Tuệ có 8 con: Phan Thao, Phan Cừ, Phan Thị Hựu Khanh, Phan Thị Bang Khanh, một con trai chết lúc 10 tuổi (năm 1935), Phan Thị Mỹ Khanh, Phan Thị Tiểu Khanh, Phan Trản. Bà Nguyễn Thị Huệ, vợ thứ nhì, gặp tại Hà Nội, chung sống từ 1935, có ba con: Phan Nam Sinh, Phan Thị Thái, Phan Lang Sa (sau tự đổi tên thành Phan An Sa).

1913-1916 Phan Khôi mở trường dậy học tại quê nhà.

1916 triều đình bỏ thi lối cũ (khoa thi hương cuối, ở Bắc: 1915 và ở Trung: 1918). Phan Khôi nghỉ dậy, trở lại trường học tiếng Pháp với thầy Lê Hiển (các con ông ghi Lê Hiên), cùng với học trò. Thái Phiên rủ tham gia kháng chiến vua Duy Tân, nhưng Phan không nhận. Lý do: không tin tưởng ở cách mạng bạo động, chọn con đường hoạt động văn hoá.

2/1918-5/1919, Nguyễn Bá Trác giới thiệu vào Nam Phong, viết bài quốc ngữ đầu tiên, trên Nam Phongsố 8 (2/1918), khai trương mục Nam Âm thi thoại, diễn đàn phê bình thơ sớm nhất ở Việt Nam. Đi Huế với Phạm Quỳnh dự tế Nam Giao (19/3/1918 - 3/4/1918).

6/1919, bỏ Nam Phong vào Sài Gòn, viết cho Quốc dân diễn đàn; rồiLục Tỉnh Tân Văn, ít lâu sau bị sa thải vì viết bài công kích một viên chức cao cấp Pháp sắp lên làm toàn quyền. Tháng 9/1919, trở về quê Quảng Nam.

3/1920 ra Hải Phòng, làm thư ký cho Bạch Thái Bưởi (1/5/1920 đến 31/12/1920).

Cuối 1920: Nhận việc dịch Kinh Thánh (dịch toàn bộ Tân Ước và 1/3 Cựu Ước) trong 5 năm (1920-1925) từ bản Hán và Pháp văn ra quốc ngữ.

1921-1922, viết cho Thực Nghiệp dân báo và Hữu Thanh ở Hà Nội.

1922 vào Nam, có thể đã liên lạc và hoạt động với nhóm Nguyễn An Ninh, Dejean de la Bâtie, khi Nguyễn An Ninh từ Pháp về lập báo La Cloche fêlée (1923).

1922-1925: Xuống Cà Mau ẩn náu. Học tiếng Pháp qua thư từ với Dejean de la Bâtie. Tiếp tục dịch Kinh Thánh.

1925 Phan Châu Trinh từ Pháp về, giao cho Phan Khôi việc viết lại lịch sử đời ông.

24/3/1926 Phan Châu Trinh mất: Phan Khôi soạn bản Hiệu triệu quốc dân đi dự đám tang Phan Châu Trinh và viết Lịch sử Phan Châu Trinh.

1926-1928: Phan Khôi viết cho các báo Thần Chung, Đông Pháp thời báo, Văn Học, ở Sài Gòn và Đông Tây ở Hà Nội. Tháng 5/1928, phê bình Trần Huy Liệu, đặt vấn đề Viết sử cho đúng trên Đông Pháp thời báo.

1929-1932: Thời kỳ hoạt động mạnh nhất, viết cho các báo Thần Chung, Phụ Nữ Tân Văn (PNTV), Trung Lập, ở Sài Gòn; Đông Tây, Phổ Thông, ở Hà Nội, đặt những vấn đề:

1929, Phê bình Khổng giáo trên Thần Chung. Nữ quyền Viết tiếng Việt cho đúng trên PNTV. 1930, Khai sinh thể loại bút chiến văn học với Phạm Quỳnh và Trần Trọng Kim trên PNTV. 1931, viết bài Cái cười của con rồng cháu tiên trên PNTV, phê bình cuốn Cay đắng mùi đời của Hồ Biểu Chánh: đây là bài phê bình văn học đầu tiên viết theo lối hiện đại. Đầu năm 1932, công bố bài Một lối "thơ mới" trình chánh giữa làng thơ và bài thơ Tình già, cả haiđược coi là bản tuyên ngôn của Thơ mới,trên Tập văn mùa xuân, báo Đông Tây, rồi PNTV.

1933 ra Hà Nội viết cho Thực Nghiệp và Phụ Nữ thời đàm. 1934 về Huế viết cho Phụ Nữ Tân Văn tái bản, rồi làm chủ bút báo Tràng An.

1936-1937: Lập báo Sông Hương tại Huế (1/8/1936-27/3/1937). Viết cho Hà Nội báo. Xuất bản Chương Dân thi thoại (1936).

1937-1941: Vào Sài Gòn dậy trường Chấn Thanh. Viết tiểu thuyết. In cuốn Trở vỏ lửa ra (1939). Viết báo Tao Đàn từ tháng 3/1939. 1940, viết cho Dân Báo. 1941 trường Chấn Thanh đóng cửa. Phan Khôi về Quảng Nam ở đến 1946.

19/8/1945: Việt Minh cướp chính quyền. 2/3/46: Thành lập chính phủ liên hiệp. 6/3/1946: Hồ Chí Minh ký hiệp định sơ bộ với Pháp.

Theo Nguyễn Công Hoan, tháng 6/1946, trong một buổi mít tinh ở Quảng Nam, Phan Khôi lên diễn đàn đả phá hiệp định sơ bộ. Phan Khôi được bầu làm Chủ nhiệm chi bộ Quảng Ngãi của Việt Nam Quốc dân đảng.

Theo Hoàng Văn Chí: Cán bộ địa phương định phá hủy nhà thờ Hoàng Diệu, Phan Khôi cực lực phản đối, họ toan bắt Phan Khôi, nhưng nể Phan Thao con trai ông, là cán bộ cao cấp. Phan Khôi viết thư cho Huỳnh Thúc Kháng (Bộ trưởng Nội vụ trong chính phủ liên hiệp) nhờ can thiệp. Hồ Chí Minh giải quyết khéo léo: viết thư mời Phan Khôi ra Hà Nội, nhưng giao cho Phan Bôi, em họ (tức Hoàng Hữu Nam, Ủy viên Trung ương đảng, Thứ trưởng bộ nội vụ), phụ trách việc quản thúc. Phan Khôi ra Hà Nội, nhưng không chịu ở nhà Phan Bôi, lên 80 Quan Thánh ở với Khái Hưng.

Theo Nguyễn Công Hoan, đêm 12/7/1946, công an bao vây nhà Khái Hưng,Phan Khôibị bắt tại đây. Theo Hoàng Văn Chí, sau ngày toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), Phan Bôi được lệnh đưa Phan Khôi lên Việt Bắc. Phan dịch sách và làm biên khảo. Theo Đào Vũ, nhà cửa, ruộng đất của gia đình Phan Khôi ở Điện Bàn bị tịch thu trong Cải cách ruộng đất.

1954-55: Về Hà Nội, gặp lại vợ con từ Quảng Nam ra. Ở số 51 Trần Hưng Đạo.

1956: Lãnh đạo tinh thần phong trào NVGP. Làm chủ nhiệm báo Nhân Văn.

1957: Được cử đi Bắc Kinh dự lễ kỷ niệm 100 năm sinh Lỗ Tấn, có Tế Hanh đi cùng.

1958: Nhân Văn Giai Phẩm bị thanh trừng. Phan Khôi bị đuổi khỏi 51 Trần Hưng Đạo, dọn về 10 Nguyễn Thượng Hiền, rồi 73 phố Thuốc Bắc.

Phan Khôi mất ngày 16/1/1959. Chôn ở nghĩa trang Hợp Thiện, phía đông Hà Nội. Trên mộ đề Chương Dân. Mộ phần bị "thất lạc" trong chiến tranh (theo gia đình).

Bà cố dựng nghiệp họ Phan ở Điện Bàn

1791, trước khi Gia Long lên ngôi 11 năm, tại làng Hoá Quê gần cửa Hàn, một người con gái ra đời. Đó là bà cố của Phan Khôi, người dựng nghiệp họ Phan ở Điện Bàn.

Phan Khôi viết: "Họ Phan chúng tôi, ông thỉ tổ nguyên ở Nghệ An vào lập làng tại Quảng Nam, kêu là Bảo An". Làng Bảo An do ba họ Nguyễn, Ngô và Phan lập ra. Họ Phan từ khởi thủy đến đời ông cố Phan Khôi, vốn "nghèo hèn, dốt nát". 1809, ông lấy bà cố, chung sống 15 năm, có 7 con thì ông mất; người con út (ông nội Phan Khôi) mới 2 tuổi. Bà cố buôn gánh ở Hội An, nuôi con trong 6 năm. Rồi bà tái giá, làm kế một ông Đội khá giả ở làng Hội Vực, nhưng bà ra điều kiện: phải để cho bà về nhà chồng trước trông nom con cái.

Theo lời những người già trong làng, bà thường cưỡi ngựa đi từ làng Hội Vực về Bảo An hay ngược lại, đồ vật chất đầy trên cổ ngựa, nhờ vậy mà các con bà được ăn học. Sáu năm sau, ông Đội mất, bà đem 2 con với ông Đội về nuôi cùng 7 con đời chồng trước. Nhờ có vốn, bà mở đại lý buôn đường với tàu Khách ở Hội An, trở thành người phụ nữ đầu tiên có hãng xuất cảng đường và thành "cự phú". Hai con trai bà, Hương Đạo và Bá Đức cũng giàu có tiếng trong vùng. Người con út, Phan Nhu (ông nội Phan Khôi) đậu cử nhân khoa Đinh Vị (1847), làm đến chức Án sát tỉnh Khánh Hoà thì bị cách chức.

Dù có công lớn với gia đình, nhưng vì tội tái giá, nên sau khi mất (ở tuổi 73), bà không được chôn ở đất công của làng. Vì vậy, Phan Khôi đòi kiện cái luật cổ hủ của xã hội thời ấy. [Theo Chuyện bà cố tôi của Phan Khôi, Phụ Nữ Tân Văn, số 25 (17/10/1929), in lại trong sưu tập Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1929 của Lại Nguyên Ân trang 228-234].

Từ bà cố, người phụ nữ độc lập, cưỡi ngựa nhảy qua hàng rào lễ giáo cổ hủ đầu thế kỷ XIX để xác định nữ quyền, nuôi chín con, lập sự nghiệp "tỷ phú". Đến người cháu, học giả phản biện, lãnh đạo tinh thần phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, là một dòng máu dân chủ và tự chủ nối dài. Phan Khôi đấu tranh cho quyền làm người của phụ nữ, ngay từ thập niên 30 của thế kỷ trước, khi Simone de Beauvoir, mẹ đẻ nữ quyền thế giới, chưa xuất hiện trên văn đàn. Đó là đặc điểm của Phan Khôi: tiên phongphản biện trong nhiều lãnh vực tư tưởng.

Như trên đã nói: Ông nội Phan Khôi là Phan Nhu, đỗ cử nhân khoa Đinh Vị (1947), làm đến chức Án Sát tỉnh Khánh Hoà thì bị cách chức.Cha là Phan Trân (1862-1944), đậu phó bảng, làm tri phủ Diên Khánh, có lần cãi nhau kịch liệt với viên công sứ. Năm 37 tuổi (1899), ông cáo bệnh từ quan, lúc đó Phan Khôi 12 tuổi. Phan Khôi chỉ có một người em gái (gia đình gọi là cô Ba), bà là vợ nhà văn Sở Cuồng Lê Dư và là mẹ của Hằng Phương (vợ Vũ Ngọc Phan), Hằng Phân (vợ Hoàng Văn Chí) và Hằng Huân (vợ tướng Nguyễn Sơn). Phan Khôi có người chú ruột là Phan Định, cha của Phan Thanh và Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam).

Phan Nhu và Phan Trân

Nhờ loạt bài Đi học đi thi (Ký ức lục của một vị lão Nho), ký Tú Vườn, trên Sông Hương 1937 (từ số 23 đến 30), chúng ta biết thêm về Phan Nhu, Phan Trân và Trần Quý Cáp (sẽ nói đến sau). Trong bài ký này, Phan "hư cấu" ra nhân vật lão Nho (ra đời khoảng 1875) để mô tả chân dung Trần Quý Cáp và kể lại những chuyện trước khi Phan ra đời (1887), nói lên hoàn cảnh u uất của sĩ phu khi mất nước và sự bất đồng tư tưởng trong gia đình họ Phan, từ đời ông, đời cha:

Kinh thành thất thủ [ngày 23/4 Ất Dậu (5/6/1885)], vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị, phong trào cần vương ở Quảng Nam nổi lên rầm rộ trong ba năm từ khi vua xuất bôn đến khi vua bị bắt [ngày 26/9 Mậu tý (30/10/1888)]. Phan Nhu cũng muốn tham dự phong trào cần vương, nhưng Phan Trân khuyên cha không nên vì biết không chống nổi Tây, "ông tôi ban đầu còn chưa chịu nghe, sau thầy tôi can mãi, nhiều khi đến nói mà vừa lạy vừa khóc, ông tôi mới thôi". Nhưng thời ấy, không theo nghiã đoàn thì có thể bị hại, nên hai cha con phải đem nhau đi trốn.

"Có một lần, chúng tôi ở trong một chiếc ghe, đậu bên gành núi. Đương đêm, vừa mưa vừa gió, trời tối đen như mực, ông tôi thức dậy, đốt đèn ngồi một mình rồi không biết vì nghĩ thế nào mà ông tôi khóc oà lên, trong lúc khóc, ông tôi kể lể nhiều lắm: Chốc lại kêu Hoàng thượng, chốc lại kêu Phu tử (...) Về sau, tôi mới đoán ra rằng lúc đó ông tôi kêu Hoàng thượng là chỉ đức Hàm Nghi, còn Phu tử là đức Khổng Tử".

Phan Nhu, tuy bị cách chức tổng đốc, nhưng vẫn một mực thờ vua và Khổng tử, vẫn tiếp tục bắt con cháu phải học để làm quan. Phan Trân muốn theo con đường duy tân, nhưng không dám trái ý cha, "Sau khi loạn yên, thầy tôi "thưa đơn tòng chánh" và ra làm quan là cũng bởi cực chẳng đã mà phải vâng lời ông tôi, nếu không thì ông tôi giận". Ra làm quan, tất phải đụng chạm với Pháp: "Lúc ở Hải Phòng, gặp Lê Bá Cử, ông ấy có kể cho tôi nghe khi ông làm phán sự toà sứ Nha Trang, thầy tôi làm Tri phủ, có lần cãi nhau kịch liệt với viên công sứ, chính ông đứng làm thông ngôn" (Ông Năm Chuột). Và sau cùng Phan Trân đã phải từ chức.

Sau này, trong khoảng từ 1911 đến 1917 (sau khi đi tù về), Phan Khôi muốn bỏ nhà đi theo chí hướng của mình, nhưng cũng lại bị cha cản trở, và ông cũng phải vâng lời. Vì vậy, Phan viết: "Làm con khác với làm người. Nhiều khi làm con không phải làm người! Thành thử trước mặt những người cha có học thức, chẳng cứ cái học thức ấy thế nào, thường thường cái tư cách làm người của những người con phải bị chôn đi. Thương hại cho thầy tôi, suốt đời ở vào cái hoàn cảnh đó!" (Đi học đi thi). Bi kịch cha con thời Khổng Mạnh đã khiến sau này, Phan Khôi chống Tống Nho một cách quyết liệt. Và cũng vì thế mà ông để các con Phan Thao, Phan Cừ, tự do theo Cộng sản, đi con đường trái ngược với tư tưởng của ông.

Tinh thần bất khuất từ nhỏ

Thủa nhỏ Phan học chữ nho và chịu ảnh hưởng ông nội nhiều hơn cha. Năm lên bảy, mẹ qua đời. Khi cha đi nhậm chức tri phủ Diên Khánh, gửi Phan về bên ngoại cho người cậu làm tri phủ, là con cả Tổng đốc Hoàng Diệu trông nom. Ông phủ mướn thày dạy học con trai và Phan Khôi, nhưng ít lâu sau, Phan xin cha cho học nơi khác. Tại sao? Phan không nói rõ.

Nhưng sau này qua lời Ông Năm Chuột, Phan gián tiếp cho biết: Ông ngoại (Tổng đốc Hoàng Diệu) hết sức thanh liêm, làm Tổng đốc mà không có tiền lợp lại mái nhà (do ông bà để lại) đã tróc ngói. Người cậu làm tri phủ ba năm đã mua được mươi mẫu ruộng. Ông ngoại đánh Pháp, tuẫn tiết mà chết. Người cậu theo Pháp đàn áp nghiã quân.

Điều này chứng tỏ: từ lúc 8 tuổi, Phan đã nhìn rõ hành động của người cậu tri phủ, và đó chính là lý do khiến Phan xin cha cho học chỗ khác. Phan Trân gửi con cho Trần Quý Cáp. Phan Khôi học Trần Quý Cáp 10 năm, từ 9 tuổi đến 19 tuổi. Trần Quý Cáp là người thầy tiếp tục vun xới tinh thần ái quốc ở Phan Khôi.

Trong Đi học đi thi, Phan Khôi viết: "Tôi từ nhỏ có tư bẩm thông minh lạ. Lên 13 tuổi đã "cụ thể tam trương": Nghiã là về lối văn khoa cử, kinh nghiã ở trường nhất, thi phú trường nhì, văn sách trường ba tôi đều làm được cả trong tuổi ấy. Ông nội tôi và ông thân tôi đều để hy vọng vào tôi nhiều lắm. Ông nội tôi sống đến năm tôi 16 tuổi, đi thi khoa đầu, hỏng trường nhất, rồi người mới mất".

- 16 tuổi, Phan Khôi đi thi lần đầu (khoa 1903) hỏng trường nhất.

- 19 tuổi (1906), thi lần thứ nhì, chỉ đậu tú tài. Phan Khôi tức giận lắm.

Bởi từ khoa Giáp Ngọ (1894) trở đi, các học quan bắt đầu ăn đút lót, chấm gian, và đến khoa Bính Ngọ (1906) thì bị kiện. Phan Khôi viết: "Tôi là một kẻ đứng đơn với bọn Dương Thưởng kiện sự "thủ sĩ bất công" hồi khoa Ngọ, tôi đã làm cho mấy ông quan trường bị giáng bị cách thì tôi còn sợ gì mà chối?"

Vì vụ kiện này mà những kỳ thi sau, chính phủ bảo hộ phái người vào kiểm soát.

Và đó cũng là một trong những lý do tại sao Phan Khôi bỏ lối học khoa cử.

Ngoài ra Phan còn cho biết: Nguyễn Bá Trác (1881-1945) đi thi năm Bính Ngọ (1906) không phải để đỗ, mà để làm bài thuê, kiếm tiền cho phong trào Đông du, rút cục lại đỗ cử nhân. Chính Nguyễn Bá Trác đã rủ Phan Khôi bỏ học. Phan học tiếng Pháp với Phan Thành Tài tại trường Diên Phong (trường đầu tiên của phong trào Duy Tân ở Quảng Nam). Sau Phan Thành Tài tham gia cuộc chính biến vua Duy Tân (1916), bị xử tử.

Năm 1906, đánh dấu ngõ quặt quan trọng trong cuộc cách mạng duy tân và cuộc đời Phan Khôi: bỏ học, theo Phan Châu Trinh cắt tóc ngắn, cổ động cắt tóc và làm bài Vè cúp tóc.

1906: cắt tóc và làm vè cúp tóc

Việc cắt tóc và mặc âu phục do Phan Châu Trinh chủ trương năm 1906, là một hành động duy tânphản kháng: chống cổ hủ. Hai năm sau, khi vụ biểu tình chống thuế xẩy ra (còn gọi là Trung Kỳ dân biến, 1908), chính quyền bèn kết hợp: việc cúp tóc với việc biểu tình chống thuế, thành hành động nổi loạn, chống lại nhà cầm quyền.

Trong bài tự truyện Lịch sử tóc ngắn đăng trên báo Ngày Nay năm 1939, Phan Khôi kể lại đầy đủ các chi tiết: Từ 1906 trở về trước, đàn ông Việt vẫn để tóc dài rồi búi lại đằng sau ót thành một cái đùm. Ngoài Bắc thì đàn bà vấn tóc, còn từ Huế trở vào, đàn bà cũng búi tóc, thành thử nhìn sau lưng có thể lẫn lộn đàn bà với đàn ông. Giữa lúc toàn dân đang còn để tóc dài, thì vua Thành Thái đã cắt tóc ngắn, mặc đồ Tây và ông bắt cận thần phải cắt tóc. Năm 1905, vua ngự giá vào Quảng Nam, bị dân chúng chế nhạo. Năm sau, phong trào cắt tóc được Phan Châu Trinh phát động:

"Mùa đông năm 1906, thình lình ông Phan Châu Trinh đi với ông Nguyễn Bá Trác đến nhà tôi. Đã biết tin ông Phan mới ở Nhật về, tiên quân tôi chào mừng một cách thân mật với câu bông đùa này:“Cửu bất kiến quân, quân dĩ trọc!” Bấy giờ tôi có mặt ở đó, câu ấy khiến tôi phải chú ý xem ngay đầu ông Phan. Thấy không đến trọc, nhưng là một mớ tóc ngắn bờm xờm trong vành khăn nhiễu quấn.

Ở chơi nhà tôi ba hôm, lúc đi, ông Phan rủ tôi cùng đi sang làng Phong Thử, nơi hiệu buôn Diên Phong, là một cơ quan của các đồng chí chúng tôi lúc bấy giờ mới lập được mấy tháng. Tại đó, gặp thêm ông cử Mai Dị nữa, rồi bốn người chúng tôi cùng đi thuyền lên Gia Cốc, thăm ông Học Tổn (...) Giữa bữa cơm sáng đầu tiên, khi ai nấy đã có chén hoặc ít hoặc nhiều, ông Phan mở đầu câu chuyện, nói:

− Người đời, nhất là bọn nhà nho chúng ta, hay có tánh rụt rè, không dám làm việc. Mỗi khi có việc đáng làm, họ thường tìm cớ trách trút, có khi họ nói: Việc nhỏ, không xứng đáng. Trong ý họ, đợi đến việc lớn kia. Nhưng nếu họ đã có ý không muốn làm thì đối với họ việc nào cũng sẽ là nhỏ cả, thành thử cả đời họ không có việc mà làm!...

Ông Phan lúc đó gặp ai cũng hay diễn thuyết. Những câu chuyện luân lý khô khan như thế, mấy hôm nay ông đem nói với bọn tôi hoài, thành thử khi nghe mấy lời trên đó của ông, không ai để ý cho lắm, cứ tưởng là ông phiếm luận. Thong thả, ông nói tiếp:

− Nếu lấy bề ngoài mà đoán một người là khai thống hay hủ lậu thì trong đám chúng ta ngồi đây duy có ba anh − vừa nói ông vừa chỉ ông Trác, ông Dị và tôi − là hủ lậu hơn hết, vì ba anh còn có cái đùm tóc như đàn bà.

Cả mâm đều cười hé môi. Ba chúng tôi bẽn lẽn. Ông Phan lại nói:

− Nào! Thử “cúp” đi có được không? Đừng nói là việc nhỏ; việc này mà các anh không làm được, tôi đố các anh còn làm được việc gì! Câu sau đó, ông nói với giọng rất nghiêm, như muốn gây với chúng tôi vậy. Ông Mai Dị đỏ mặt tía tai:

− Ừ thì cúp chứ sợ chi!

− Thì sợ chi!

− Thì sợ chi!

Ông Trác rồi đến tôi lần lượt phù họa theo (...) Ông Mai Dị được hớt trước rồi đến hai chúng tôi. Mỗi người đều đầy ý quả quyết và tin nhau lắm, chẳng hề sợ ai nửa chừng thoái thác (...) Ở Gia Cốc về, chúng tôi chưa về nhà vội, còn định trú lại Diên Phong mấy ngày. Ở đó, chúng tôi yêu cầu các ông Phan Thúc Duyện, Phan Thành Tài, Lê Dư cũng làm như chúng tôi; luôn với năm, sáu mươi vừa người làm công, vừa học trò, đều cúp trong một ngày. Rồi hễ có vị thân sĩ nào đến chơi là chúng tôi cao hứng lên diễn thuyết, cổ động, khuyến họ cúp thảy cả. Trong số đó có ông tiến sĩ Trần Quý Cáp, thầy chúng tôi và các ông tú Hữu, tú Bân, tú Nhự, còn nhiều không kể hết. Ít hôm sau, ông Huỳnh Thúc Kháng ở Hà Đông ra, cũng cúp tại đó, chính tay ông Lê Dư cầm kéo hớt cho ông Huỳnh dù ông Lê chưa hề biết qua nghề hớt là gì.

Hôm ở Diên Phong về nhà, tôi phải viện ông Lê Dư đi về với. Thấy hai chúng tôi, cả nhà ai nấy dửng dưng. - Trước tôi mảng tưởng về nhà chắc bị quở dữ lắm, nhưng không, thầy tôi tảng lờ đi, bà tôi càng lạnh lùng hơn nữa, chỉ ba chặp lại nhìn cái đầu tôi mà chặc lưỡi. Dò xem ý bà tôi, hẳn cho rằng tôi đã ra như thế là quá lắm, không còn chỗ nói! (...)

Qua đầu năm 1907 giở đi, thôi thì cả tỉnh nơi nào cũng có những bạn đồng chí về việc ấy (...) Lúc này không còn phải cổ động nữa, mà hàng ngày có những người ở đâu không biết, mang cái búi tóc to tướng đến xin hớt cho mình. Bởi một ý đùa, tôi đặt một bài ca dao cho Đoan để mỗi khi hớt cho ai thì ca theo nhịp đó:

“Tay trái cầm lược,

Tay mặt cầm kéo,

Cúp hè! Cúp hè!

Thẳng thẳng cho khéo!

Bỏ cái hèn mầy,

Bỏ cái dại mầy,

Cho khôn, cho mạnh,

Ở với ông Tây!” v.v…

"Giữa lúc đó có lời phao đồn ở Diên Phong, chúng tôi hay cưỡng bách người ta hớt tóc, đến nỗi khuyên không nghe mà rồi đè xuống cắt đi, thì thật là thất thực, không hề có thế bao giờ. Sự cưỡng bách ấy nếu là có trong vụ “xin xâu” năm 1908, do những kẻ cầm đầu đoàn dân thi hành. Tôi vắng mặt trong vụ ấy, nhưng sau nghe nói lại rằng mỗi một đoàn dân kéo đi, giữa đường nếu có ai xin gia nhập thì đều buộc phải hớt tóc; hoặc khi đoàn dân nghỉ ở một cái chợ thì người cầm đầu đứng ra diễn thuyết, bắt đàn ông trong chợ đều phải hớt tóc rồi mới cho nhập bọn đi theo mình. Cũng nhờ vậy mà sau vụ này, thấy số người tóc ngắn tăng giá lên rất nhiều. Hớt tóc cũng là một cớ buộc tội trong vụ án năm 1908 ở mấy tỉnh Trung Kỳ. Làm người không có việc gì cả, chỉ đã hớt tóc mà cũng bị ghép vào mặt luật bất ưng vi trọng, phải 18 tháng tù. Lại, cuộc phiến loạn năm 1908 ấy, trong các ký tài của người Pháp cũng gọi là “cuộc phiến loạn của đảng hớt tóc” (Révolte des cheveux tondus). Xem đó đủ thấy hớt tóc ở thời đại ấy bị coi là nghiêm trọng dường nào".

(Trích Lịch sử tóc ngắn, Tự truyện của Phan Khôi, Ngày Nay số 149, 15/2/1939).

1908: Trung Kỳ dân biến- Phan Khôi bị bắt, bị tù 3 năm

Việc Phan Khôi ra Hà Nội nằm trong chương trình hành động của nhóm Duy Tân Quảng Nam: gửi học trò ra Bắc học tiếng Pháp ở trường Đông Kinh Nghiã Thục. Phan Châu Trinh xác định có hơn 10 người ở Quảng Nam được gửi ra Hà Nội học tiếng Pháp, trong đó có Nguyễn Bá Trác, Phan Khôi, Mai Dị... Theo tài liệu mật thám, tháng 10/1907, Phan Châu Trinh ra Hà Nội, mang tiền quyên được ở Quảng Nam ra Bắc.

Tháng 2/1908, (nhiều tài liệu ghi tháng giêng vì không đổi ngày ta qua ngày tây) Trần Quý Cáp - đang làm Giáo thọ ở Thăng Bình - bị đổi đi Ninh Hoà. Hai thầy trò gặp nhau trước khi lên đường. Ngày 16/2/1908, Phan Khôi đi Hà Nội.

Khi Phan Khôi và các bạn ra đến Hà Nội thì Đông Kinh nghiã thục đã bị rút giấy phép.

Xin nhắc lại: trường khai giảng tháng 3/1907. Tháng 5/1907 chính thức được phép. Tháng 1/1908, giấy phép bị thu hồi. Ban giám đốc phải thủ tiêu hết sách vở chứng từ, cụ Phương Sơn đốt trọn ba đêm mới hết. Pháp bắt những người cầm đầu; bổ một số người ôn hoà vào ty giáo huấn, chức huấn thụ (dậy học) hoặc đi tri huyện, có người không nhận. Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Duy Tốn bị bắt, bị dẫn vào Hà Đông, nhưng chỉ bị giam một ngày rồi được thả, có lẽ vì Hoàng Trọng Phu biết họ không chủ trương bạo động (theo Nguyễn Hiến Lê, Đông Kinh Nghiã Thục, chương XI).

Việc đổi Trần Quý Cáp vào Khánh Hoà nằm trong chủ trương khủng bố của nhà cầm quyền: đóng cửa Đông kinh nghĩa thụcĐăng cổ tùng báo. Phân tán lực lượng Duy Tân.

Tháng 3/1908 (nhiều nơi ghi tháng 2, vì không đổi ngày ta sang ngày tây), mới bùng nổ vụ Trung Kỳ dân biến: đây là cuộc biểu tình chống thuế đầu tiên, bắt đầu ở huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam rồi lan rộng khắp miền Trung.

Trần Quý Cáp bị bắt tại Khánh Hoà, bị xử tử ngày 15/6/1908 (17/5/Mậu thân). Huỳnh Thúc Kháng bị bắt ở Quảng Nam. Phan Châu Trinh bị bắt ngày 2/3/1908 tại Hà Nội. Ngô Đức Kế bị bắt từ 1907, đến 1908 bị đày Côn Đảo cùng với những người khác.

Các thanh niên Quảng Nam được gửi ra Hà Nội học Đông Kinh Nghiã Thục, tới nơi thì trường đã bị đóng cửa, bèn chạy về Nam Định, học tiếng Pháp với Nguyễn Bá Học. Phan Khôi bị bắt giải về Quảng Nam. Nguyễn Bá Trác trốn ở trong Nam một năm rồi chạy qua Thái Lan, Nhật và Tàu. Sở Cuồng Lê Dư có lẽ đã đi Nhật từ trước, sau sang Tàu...

Số phận những người bị bắt hoặc đi trốn

1- Trong bản hỏi cung số 24, phiên xử ngày 12/7/1908, Phan Khôi khai:

"Ngày 15 tháng 1 năm nay (16/2/1908), khi tôi xuống Đà Nẵng để ra Hà Nội học, tôi đã gặp thày giáo cũ của tôi là ông Trần Quý Cáp (Giáo thọ) đang đi đến nhận nhiệm sở mới. Ông nhờ tôi nếu tôi gặp ông Phan Châu Trinh thì nói với ông ấy xem có thể tìm giúp cho ông một chỗ làm trong thư viện hay trong một toà báo và viết thư báo cho ông ấy biết. Đến Hà Nội, tôi có gặp Phan Châu Trinh và tôi nhắc lại điều ông Trần Quý Cáp đã dặn. Sau đó, tôi nhờ ông nếu có viết thư cho ông Trần Quý Cáp thì xin ông ghi ở cuối thư rằng tôi đã tới Hà Nội an toàn. Sau đó, tôi đi Nam Định để học tiếng Pháp. Tôi không hề viết thư cho thày giáo cũ của tôi, ông Trần Quý Cáp. Đoạn thư có liên quan tới tôi mà người ta thấy trong bức thư đó chắc hẳn là do ông Phan Châu Trinh viết. Vả chăng, từ khi tôi từ biệt ông để đi Nam Định, tôi không còn gặp ông nữa. Do đó, tôi không biết chính xác là ông có viết thư cho ông Trần Quý Cáp hay không" (tài liệu của Lê Thị Kinh, in lại trong Nhớ cha tôi Phan Khôi của Phan Thị Mỹ Khanh, Đà Nẵng, 2001, trang 282).

2- Về việc Phan Khôi bị bắt, Phan Thị Nga phỏng vấn Phan Khôi, viết lại như sau:

"Ông xuống Nam Định học với ông Nguyễn Bá Học, gặp thầy hay, ông thấy sức học mình tấn tới, nhưng rủi mới học được ba tháng ông lại bị bắt giải về Quảng. Người ta kết án ông. Ông Phan Thành Tài người Quảng Nam (Bảo An Tây) trước làm phán toà sau về dạy học can vào việc vua Duy Tân, bị xử tử" (Phan Thị Nga, Lối tự học của những bậc đàn anh nước ta, Hà Nội báo, số 10, 11/3/1936). 1916, cuộc khởi nghiã Duy Tân thất bại, Phan Thành Tài bị xử tử.

3- Về việc chạy trốn, Nguyễn Bá Trác viết:

"Kể từ năm 1908 bước chân ra đi, đến năm 1914, trở về Sài Gòn giữa ngày tháng 8 (...) Loanh quanh trong nước mất một năm, tạm trọ Xiêm La hơn mười ngày, khách qua Nhật Bản hơn một tháng, rồi lại sang Trung Hoa, bao nhiêu thương phụ to, tỉnh thành lớn: như Ba Thục miền Tây, U-Yên đất Bắc, Quế Việt cõi Nam, đều là chỗ mình có để ít nhiều vết xe dấu ngựa (...) Ngày tháng giêng năm 1908, tôi cùng mấy người bạn ra chơi Bắc Kỳ, định ở lại Nam Định mà học. Đến tháng 3 nhân việc ngăn trở, phải đáp tàu về Đà Nẵng (Tourane). Khi về đến nơi không tiện lên bờ, bèn chạy thẳng vào Quy Nhơn. Đến đấy đổ bộ đi xuyên sơn vào Phú Yên, lẩn lút trong chừng 8, 9 tháng. Ngày 24 tháng chạp năm ấy, mới đáp mành vào Nam Kỳ. Từ cửa bể Xuân Đài mà ra khơi. Đến ngày 7 tháng giêng năm 1909, tới Mỹ Tho, lần vào Bến Tre, đến làng Tân Hướng tìm chỗ ngồi bảo trẻ. Ngày tháng tư năm ấy, nhân theo bạn lên Sài Gòn mua sách vở. Đêm nằm nhà trọ nghe người một bên nói chuyện đi Xiêm, nghe lỏm được kỳ tầu và cách đi, bèn xuống tầu mà châm chước với một người thủy thủ. Được người ấy chịu lời rồi đêm mồng ba tháng tư xuống tầu mà làm khách xuất dương từ đấy" [trích Hạn mạn du ký (Bài ký của người đi chơi phiếm) của Nguyễn Bá Trác, nguyên tác chữ Hán, dịch in trên Nam Phong số 19 tháng 11/1919].

Hạn mạn du ký là một áng văn hay, một tư liệu quý về số phận những thanh niên theo Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, như Lê Dư, Nguyễn Bá Trác, trong vụ khủng bố 1908 phải chạy trốn: sang Nhật. Nhật đuổi. Sang Tàu. Cuối cùng, nhớ nước, phải quay về đầu thú.

4- Bản án số 9, ngày 3/8 năm Duy Tân thứ hai (29/8/1908), có đoạn liên quan đến Phan Khôi, như sau:

"Trương Huy, Lê Dư càn quấy diễn thuyết mỗi nơi chỉ trích, phỉ báng quan lại; Mai Dị, Nguyễn Bá Trác và Phan Khôi không xin phép, tự tiện đi Bắc Kỳ, dịch phục cải trang [mặc âu phục] (...) Xét tình đó, thì tự Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng xướng xuất, mà bọn này là phụ họa đấy thôi. (...) Lê Dư, Mai Dị, Nguyễn Bá Trác, Phan Khôi, Đặng Huyên, Lê Vỹ, Mai Luyện, Nguyễn Nhự, Võ Kiền, Lê Lượng và Lê Cơ, xin đều xử trượng 100, đồ 3 năm. Tựu trung Nguyễn Bá Trác tại đào, xin nên gia đẳng xử trượng 100, đày 2000 dặm, chờ bắt được, chiếu án thi hành." (Trích châu bản số 9, triều Duy Tân, Nguyễn Thế Anh, Cuộc kháng thuế miền Trung năm 1908 qua các châu bản triều Duy Tân, Văn Vĩ dịch, Bộ Văn hoá Giáo dục và Thanh niên xuất bản tại Sài gòn 1973, in lại trong Phong trào Duy Tân, Nguyễn Q. Thắng, Văn hoá thông tin, 2006, trang 671-674).

5- Phan Châu Trinh viết: "Ông cử nhân Nguyễn Bá Trác và Phan Khôi, Nguyễn Mai, cùng bạn học hơn 10 người ra Hà Nội học tập Pháp văn; sau vụ dân biến, đều đánh điện sức về hết. Bạn đồng học năm, sáu người tuân lệnh về làng; tức thì bị bắt làm án. Ông cử nhân ấy sợ trốn ra ngoại quốc, nghe nói cha ông ta bị bắt giam, bức bách đủ cách, nhà ông trước cũng khá giàu, nay thì đã nghèo xơ xác, mà cái lệnh bắt bớ đến nay [1911] cũng chưa đình, như vậy thì không khác gì đẩy người ta ra ngoại quốc vậy.

Bà con của thân sĩ Quảng Nam và những người vô tội bị bắt giam đánh khảo, nhiều không kể siết, án tù khổ sai từ 2 tháng đến 3 năm ước hơn trăm." (Phan Châu Trinh, Trung kỳ dân biến thỉ mạt ký, bản dịch Nguyễn Q. Thắng và Lê Ấm, in trong Phan Châu Trinh cuộc đời và tác phẩm, Văn Học, 1992, trang 321-322).

6- Kết toán các sự kiện: Phan Khôi bị bắt khoảng tháng 6/1908 ở Nam Định (Phan ra Hà Nội giữa tháng 2, xuống Nam Định học với Nguyễn Bá Học được ba tháng thì bị bắt).

Theo bản án triều Duy Tân ngày 29/8/1908, Phan Khôi bị đánh 100 gậy và bị tù 3 năm, vì tội "tự tiện đi Bắc Kỳ không xin phép, và mặc đồ Tây".

Sau khi ra tù Phan Khôi còn bị quản thúc khá lâu:

"Ra tù từ năm 1911, cho đến năm 1917, chẳng có cơ hội nào cho mình vượt khỏi cổng làng. Điều ấy, tự tôi lấy làm uất ức đã đành, mà tiên quân tôi, người lại còn lo cho tôi hơn nữa. Muốn ra đi, cái chí của tôi ở chỗ khác; nhưng thầy tôi thì chỉ mong làm sao cho tôi có đường xoay xở hầu mau thoát cái lốt tù" (Bạch Thái Công Ty thơ ký viên, Dân báo, Sàigòn, số 201, số Tết 1940, tài liệu Lại Nguyên Ân).

7- Về sự kiện này, Nguyễn Công Hoan đã xuyên tạc Phan Khôi bằng những dòng như sau: "Trong những người bị bắt, người thì bị tử hình, người thì bị chung thân khổ sai, hoặc hai mươi năm, mười năm, không rõ Phan Khôi đã khai báo như thế nào, hắn chỉ bị giam một thời gian ngắn" (Nguyễn Công Hoan, Hành động và tư tưởng phản động của Phan Khôi cho đến thời kỳ toàn quốc kháng chiến, Văn Nghệ số đặc biệt thứ hai chống NVGP, số 12, tháng 5/1958, trang 14).

Người thầy đầu tiên: Trần Quý Cáp

Phan Khôi học Trần Quý Cáp 10 năm, từ 1896 đến 1906.

Trần Quý Cáp (1870-1908), tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1904), Huỳnh Thúc Kháng đậu hoàng giáp cùng khoa, và Phan Châu Trinh, đậu phó bảng (1901), là ba nhà lãnh đạo Duy Tân. Sau khi đỗ đạt, năm 1905, ba ông rủ nhau đi Nam và phát động phong trào Duy Tân: chủ trương bài xích cử nghiệp, đề xướng tân học.

Trong ba người, Trần Quý Cáp nguy hiểm hơn cả, bởi ông trực tiếp dậy học, hướng dẫn tư tưởng thanh thiếu niên. Học trò Trần Quý Cáp có đến nhiều ngàn người. Phan Khôi, sau khi mẹ mất, được cha gửi đi trọ học trường Trần Quý Cáp, thôn Thái La, làng Bất Nhị, trong 10 năm, từ 9 đến 19 tuổi. Phan tả lại cảnh trường như sau:

"Ở trong một xóm cuối làng, dân cư lơ thơ, nhà ở xen với những đám ruộng thổ, một nếp nhà tranh đôi khi ở trong rừng miá rậm, ấy là nhà của thầy tôi và cũng là trường học đó. (...) Thầy tôi là trang quân tử thanh bần, thiên hạ đều biết, quân trộm cướp cũng đã thấy mà chê rồi, nên dù ở đó cũng chẳng ngại chi. Còn một lẽ nữa là cái cảnh tĩnh mịch đìu hiu lại rất lợi cho sự học. Cái nhà ba gian hai chái, sườn bằng gỗ, rộng lòng căn. Trong nhà trừ ba gian bàn thờ và một cái buồng ở góc, còn thì liệt ván cả. Một bộ ván cao ở giữa là chỗ thầy ngồi; còn bao nhiêu ván thấp, cho học trò" (Đi học đi thi).

Khoảng 1889-1896, học trò đông nhất, hàng ngày đến "nghe sách" có đến trăm rưởi, hai trăm. Người không đến nghe, chỉ nộp bài, cũng tám chục, một trăm. Mỗi kỳ khảo hạch, thầy phải chấm ba trăm quyển. Học trò đến từ các nơi, có khi cả Phú Yên, Bình Định nghe tiếng trường lớn cũng ra học. Phan Khôi viết:

"Thầy bước lên thì ngồi đó [ván cao kê giữa nhà], quay mặt ra phía ghế xuân ý [ghế để nghiên son bút son], coi rất nghiêm, vì bao giờ cũng khăn đen áo rộng.

Sách giảng hàng ngày là kinh, truyện, sử, mà cứ ngày chẵn ngày lẻ đổi khác nhau. Như ngày chẵn: Kinh thi, truyện Luận ngữ, sử Hán, thì ngày lẻ: Kinh dịch, truyện Mạnh tử, sử Đường. Rồi theo đó cứ luân lưu mà giảng tiếp.

Thầy ngồi yên rồi, dưới nầy một trò nào chẳng hạn, chiếu theo ngay mà mở ba cuốn sách, nhằm chỗ tiếp với hôm trước, theo thứ tự đè chồng lên nhau và đem đặt lên ghế xuân ý, trước mặt thầy.

Đọc đi! Thầy truyền. (...) Rồi một người tốt giọng bắt đầu đọc. Đọc chậm rãi mà ngân ngợi. Được vài ba tờ, tới chỗ thầy bảo dứt thì dứt. Đến phiên thầy cắt nghiã."

Về "lương bổng" của thầy: "thầy đối với chúng tôi như chẳng thèm kể đến công dậy dỗ. Mỗi một năm hai lễ tết, đoan dương [đoan ngọ] và chánh đán [nguyên đán], trò nào đi bao nhiêu thì đi, thầy chẳng hề nói ít nhiều (...) Vì vậy nên một trường lớn như trường thầy tôi mà mỗi lễ tết, thầy thâu vào không đầy trăm bạc". (Đi học đi thi).

Năm 1906, Trần Quý Cáp được bổ chức Giáo Thọ (quan trông việc học ở một phủ) phủ Thăng Bình. Ban đầu ông không nhận, nhưng vì cảnh mẹ già, nghèo túng, và các bạn khuyên, ông nhận.

Huỳnh Thúc Kháng viết: "Khi tới trường, tiên sinh mời thầy chữ Tây về dậy chữ quốc ngữ và chữ Tây, làm cho phong khí tỉnh nhà được mở mới, như Diên Phong, Phú Lâm, Phước Bình. (...). Vì thế Tiên sinh thành ra tấm bia cho phái cựu học nhắm vào". [Tiểu sử Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng viết ngày 20/2/Mậu Dần (21/3/1938), bản dịch của báo Minh Tân số 63, năm 1959, in lại trong Trần Quý Cáp của Lam Giang, Đông A, Sài Gòn, 1971, trang 10-16)]. Rồi Trần Quý Cáp viết bài Sĩ phu tự trị luận công kích đám "trung đẳng sĩ phu". Vì thế, tháng 1/1908, ông bị đổi vào Ninh Hoà.

Tháng 3/1908, bùng nổ vụ Trung Kỳ dân biến. "Tiên sinh tuy đã vào miền Nam, nhưng vì cớ lãnh tụ phái tân học, lại đề xướng dân quyền tự do, cũng như cụ Tây Hồ vậy, làm cho nhà đương đạo Khánh Hoà chú mục, kiểm soát thư từ ra vào thấy có đôi câu cho là chủ động, kết án "Mạc tu hữu" [xử tội chẳng cần án]. Tiên sinh lên đoạn đầu đài, thật là thê thảm! Trong lịch sử huyết lệ, Tiên sinh là người thứ nhất!" Huỳnh Thúc Kháng ghi rõ ngày 17/5 Mậu Thân (tức ngày 15/6/1908), Trần Quý Cáp bị xử tử tại Nha Trang.

Phan Châu Trinh viết: "Không ngờ quan Pháp và quan Nam tỉnh ấy, dụng tâm ám hiểm, bắt ông giáo thọ ấy và giam không đầy một ngày một đêm, không xét hỏi gì, liền kết án xử tử, lập tức đem chém tại chỗ. Nghe nói đích xác là mới đầu, quan tỉnh là Phạm Ngọc Quát xử án "lăng trì" [cắt từng miếng thịt], rồi sau đổi ra "trảm quyết" (chém ngay). Chém được một giờ, thì được dây thép quan toàn quyền sức giải đi Côn Lôn, nhưng mà đã giết chết rồi, không làm sao sống lại được!" (Phan Châu Trinh, Trung kỳ dân biến thỉ mạt ký, bản dịch của Nguyễn Q. Thắng, Nguyễn Ấm, sđd, trang 311).

Phan Bội Châu viết: "Nhớ khi ông ra tới trường chém, dao đã kề cổ, còn thung dung xin với quan giám trảm, cho đặt án đốt hương, áo mão nghiêm trang, bái tạ quốc dân ngũ bái, rồi khảng khái tựu hình, sắc mặt in như khi nhóm trò giảng sách." (Phan Bội Châu, Văn khóc cụ nghè Trần Quý Cáp, in trong Thi văn quốc cấm, Thái Bạch soạn, Sài Gòn, 1968, trang 390)

Trần Quý Cáp là người hay chữ nhất trong ba vị lãnh tụ Duy Tân. Về văn bản, Huỳnh Thúc Kháng cho biết: "Về thi văn của Tiên sinh không lưu bản cảo, chỉ có đồng nhân cùng tôi còn nhớ đôi bài lượm lặt chép thành tập, gửi nơi Tiêu Đẩu Nguyễn Bá Trác".

Trần Quý Cáp bị xử chém ngang lưng. Cái chết thảm khốc này đã in dấu sâu đậm trong đời Phan Khôi và ảnh hưởng sâu xa đến đường lối văn hoá và sự tranh đấu bất bạo động của Phan Khôi sau này.


Share/Save/Bookmark

Chủ Nhật, 27 tháng 2, 2011

Phần XVI : Phan Khôi - Bài 1: Phan Khôi và sự chôn vùi Phan Khôi

Nguồn : RFI
Phan Khôi
Phan Khôi
DR
Thụy Khuê

Phan Khôi là khuôn mặt học giả phản biện duy nhất của Việt Nam trong thế kỷ XX. Là lãnh đạo tinh thần của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, Phan Khôi đã bị bôi nhọ trong "sử sách", qua từ điển, qua những bài của các học giả, nhà văn, nhà báo lão thành như Hồng Quảng, Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Công Hoan, Phùng Bảo Thạch.

Sau Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Phan Khôi tiếp tục xây dựng những nền móng mới cho Việt học, bằng phương pháp độc đáo: phân tích, phê bình và phản biện, mà những người trước và sau ông cho tới nay chưa mấy ai đạt được: Phải viết lịch sử cho đúng, kể cả các chi tiết nhỏ. Phải viết tiếng Việt cho đúng từng câu, từng chữ, từng chữ cái, từng chấm, phẩy. Phải dùng từ Việt và từ Hán Việt cho thích hợp. Phải hiểu Khổng học cho đúng. Sự tìm hiểu nguồn gốc ngôn ngữ và triết học Tây phương đi từ Thánh Kinh. Nữ quyền bắt đầu với Võ Tắc Thiên. Phan Khôi luôn luôn tìm đến nguồn cội để giải thích vấn đề. Là một nhà báo, nhưng không phải nhà báo bình thường. Là một học giả, nhưng không phải học giả cổ điển chỉ biết nghiên cứu. Phan Khôi là khuôn mặt học giả phản biện duy nhất của Việt Nam trong thế kỷ XX.

Tạ Trọng Hiệp là người đầu tiên, tại hải ngoại, đặt vấn đề nghiên cứu lại Phan Khôi trong buổi trả lời phỏng vấn RFI năm 1996. Chỉ vào tập ronéo cao vài thước, ông nói: "Tôi đã xin được của Thanh Lãng, lúc đó còn là giáo sư đại học văn khoa Sài Gòn đã sưu tầm những bài viết trên báo xưa, bỏ tiền thuê người đánh máy, cho sinh viên học, trong đó có khoảng 5, 6 trăm trang của Phan Khôi viết trên Phụ Nữ Tân Văn. Thế nào chúng ta cũng phải đọc và giới thiệu Phan Khôi với giới trẻ ngày nay trong nước, vì họ chẳng biết gì về ông này cả!". Về tiểu sử Phan Khôi, Tạ Trọng Hiệp xác nhận: Bản đầy đủ nhất về tiểu sử Phan Khôi là bản của Hoàng Văn Chí viết trong Trăm Hoa đua nở trên đất Bắc. Đó là tình trạng năm 1996.

Năm 2010, nhà thơ Lê Hoài Nguyên (tên thật Thái Kế Toại, nguyên Đại Tá công an, trực thuộc A 25, đặc trách về NVGP) cho biết tình trạng chung hiện nay như sau:
"Tại miền Bắc cuốn Bọn Nhân Văn Giai Phẩm trước toà án dư luận là tài liệu duy nhất tập hợp các bài tổng kết phê phán chính thống về NVGP. Một số người nghiên cứu do không có tư liệu, thường dựa viết theo cuốn này khi phải nói về giai đoạn 1954-1960(...) Như vậy trong nước chưa có một cơ quan nghiên cứu nào, một nhà nghiên cứu nào thực sự bắt tay nghiên cứu về NVGP. Hầu như toàn bộ các thế hệ sau không biết mặt mũi các ấn phẩm NVGP là thế nào, người ta chỉ lặp lại các luận điệu chính thống mỗi khi nói về nó. (...) Ở một số cuốn hồi kí khi đến giai đoạn này người ta chỉ lướt qua một vài dòng, kể cả hồi kí của Đào Duy Anh, Vũ Đình Hoè, Gia đình Phan Khôi, Vũ Ngọc Phan, Tố Hữu... Nghĩa là việc nói lại một cách rành mạch về NVGP vẫn còn là một việc cấm kỵ hoặc ít ra là khó nói!

Trong phần kết luận, Lê Hoài Nguyên viết:
"Trong một xã hội đã kéo dài hơn nửa thế kỷ về sự mê muội dân trí, về sự độc tài về chính trị, sự lừa dối, sự đầu độc để có sự đồng thuận về vụ NVGP và các nhân vật của nó thật khó như đáy bể mò kim… Nhưng trong đêm tối không phải không có những người đã nhìn thấy ánh sáng của chân lý. Sẽ có nhiều người phản đối tôi. Nhưng chẳng lẽ cứ im lặng mãi. Mỗi người chỉ là một góc của thế giới, và người ta bị thôi miên nữa, người ta cả tin. Tôi nghĩ đau khổ nhất của con người là đánh mất lý trí, là không hiểu, không thấy được thế giới thật đang ở bên mình. Họ đã sống và tàn sát đồng loại và tự biện minh bằng một cái mục đích hão huyền vô nhân tính. Vào những năm đầu đổi mới, tôi đã viết trong bài thơ "Thế giới đang tồn tại": "Bi kịch thay cho những dân tộc chỉ tin vào những thần tượng, những tín điều."
(Lê Hoài Nguyên, Vụ Nhân Văn- Giai Phẩm từ góc nhìn một trào lưu tư tưởng dân chủ, một cuộc cách mạng văn học không thành, mạng nguyentrongtao tháng 8/2010).

Đây là bài viết công khai đầu tiên của một người trong ngành công an, đã từng có trách nhiệm trong hơn 20 năm về hồ sơ NVGP. Một bài viết can đảm. Không những cho chúng ta những thông tin mới, những nhận định ngay thẳng, mà còn đòi hỏi sự sòng phẳng với quá khứ về mặt văn học và lịch sử.

Hoạ sĩ Trần Duy, trong bài viết nhân dịp kỷ niệm 120 năm sinh Phan Khôi (6/10/1887-6/10/2007), không được đọc trong buổi lễ, viết:
"Ông Phan Khôi không còn nữa, nỗi oan khuất của đời ông vẫn chưa có người giải!
"Nỗi oan của nàng Đậu Nga" trong Kinh kịch nổi tiếng của Trung Quốc đã được minh oan. Nỗi oan trái của gia đình Nguyễn Trãi − Thị Lộ đã được minh giải. Nguyễn Du chưa đến ba trăm năm sau đã được đồng bào của mình thấu hiểu. Riêng nỗi oan của Phan Khôi, cái mà ông quý nhất, gìn giữ nhất là phẩm giá, thì đã bị bôi nhọ, bị chà đạp. Ai là người minh giải?
Tiếng thở dài và tiếng chép miệng của ông trong những ngày cuối cùng như còn vọng lại. Sinh thời, mỗi lần ông nói đến một nỗi oan khuất nào đó của người đời, ông vẫn thường nhắc đến tiếng cóc kêu với trời! Gió mưa là do chuyển hoá Đông - Tây của thời tiết, nhưng vẫn có người tốt bụng tin rằng: Trời mưa nhờ có cóc kêu."
(Trần Duy, Tưởng niệm về Phan Khôi đăng trên Talawas ngày 18/6/2008)

Công trình sưu tập của Lại Nguyên Ân

Từ giữa năm 2000, Lại Nguyên Ân bắt đầu sưu tầm tác phẩm Phan Khôi. Đến nay đã ra được 4 tập Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo, từ 1929 đến 1932 và cuốn Phan Khôi viết và dịch Lỗ Tấn, do các nhà Đà Nẵng, Hội Nhà Văn và Tri Thức in. Tổng cộng: 4706 trang, không kể sưu tập năm 1932, khổ lớn (16x24). Các sách này đều có trên website của Lại Nguyên Ân: lainguyenan.free.fr. Bản điện tử có vài chỗ sửa lại chữ của Phan Khôi, ví dụ tấn sĩ thành tiến sĩ, có lẽ không nên. Những công trình này, cho giới nghiên cứu, là bước đầu cơ bản tiến tới một tuyển tập Phan Khôi, ngắn gọn hơn cho mọi từng lớp độc giả.

Sưu tập của Thanh Lãng trước 75, cũng được xuất bản, dưới tiêu đề 13 năm tranh luận văn học 1932-1945, 3 tập (Văn Học, tp Hồ Chí Minh, 1995). Bộ sách này so với bản ronéo của Thanh Lãng có chỗ bị cắt, không hoàn toàn trung thành với bản chính như việc làm của Lại Nguyên Ân. Ngoài ra, còn có sưu tập Sông Hương (1/8/1936-27/3/1937) của Phạm Hồng Toàn (Lao Động và Đông Tây, 2009). Hiệnhững bài viết của Phan Khôi trong khoảng 1918-1928 và 1933-1942, chưa được sưu tầm.

Tác phẩm đã in: Chương dân thi thoại (Đắc Lập, Huế, 1936), Tiểu thuyết Trở vỏ lửa ra [Phổ thông bán nguyệt san số 41; (16/8/1939), Hà Nội], Việt ngữ nghiên cứu (Văn Nghệ, Hà Nội, 1955). Về dịch thuật, ngoài bộ Lỗ Tấn, tác phẩm đồ sộ nhất của Phan Khôi là Bộ Kinh Tân Ước và 1/3 Kinh Cựu Ước của Hội Tin Lành. Đây là cuốn sách tiếng Việt được quảng bá rộng rãi nhất từ 1926 đến ngày nay nhưng không mấy ai biết là công trình của Phan Khôi.

Tạ Trọng Hiệp: Phan Khôi, người xa lạ

Trong buổi nói chuyện trên RFI, thu thanh ngày 10/7/1996, phát trên RFI tháng 12/96 sau khi ông qua đời về bệnh ung thư ngày 25/10/1996 tại Paris, Tạ Trọng Hiệp nói:
"Nếu tôi có can đảm viết, có thì giờ, và tôi không đau ốm quá, thì tôi sẽ viết về Phan Khôi, và sẽ đặt nhan đề là Phan Khôi: Người Xa Lạ. (...)
Tôi gọi Phan Khôi là Người xa lạ, là vì từ những năm 56, 57 trở đi, qua hiện tượng đấu tranh của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, thì sau đó có một cuộc đàn áp ghê gớm của nhà cầm quyền Hà Nội. Và từ đó đến nay, đã có rất nhiều thay đổi về tình hình trong nước (...) đã gần như không còn chỉ thị cấm kỵ gì nữa. Nhưng hình như với riêng một số người -chứ không phải toàn bộ- cứng đầu nhất trong Nhân Văn Giai Phẩm, trong đó có Phan Khôi, thì những cấm kỵ ấy vẫn còn, còn dưới nhiều hình thức lắm.

Thứ nhất là không nói đến Phan Khôi. Không nói đến Phan Khôi, làm như là không có hiện tượng Phan Khôi. Phan Khôi không xuất hiện ở trên trái đất này.
Nhưng tìm nhiều thì thấy có một vài trường hợp không thể tránh khỏi, nên miễn cưỡng, họ phải làm ra một tiểu sử về Phan Khôi. Trong một cuốn sách ra cũng lâu lắm rồi, từ năm 1972, tập 2 của bộ Lược Truyện Các Tác Gia Việt Nam, thì ở mục số 50, có một trang rưỡi dành cho Phan Khôi. Nội dung bài viết và phong cách câu văn làm ta sống lại những năm chung quanh vụ đàn áp Nhân Văn Giai Phẩm, mà đỉnh cao là về sau, xuất hiện dưới hình thức một cuốn gọi là Bọn Nhân Văn Giai Phẩm trước toà án dư luận, in năm 1959 (...) Người nào có cuốn ấy thì thấy trong đó có ba, bốn bài gì đó, tập trung nện cụ Phan Khôi bằng đủ mọi cách, bằng những bịa đặt rất là bẩn thỉu, để chứng minh rằng ngay từ khi còn thiếu niên, Phan Khôi đã là người không ra gì. Và người viết không phải là người lơ tơ mơ đâu, đây là những người nổi tiếng có cá tính bướng bỉnh và có tinh thần phê phán rất ghê gớm như Nguyễn Công Hoan. Nếu tôi là con cháu Nguyễn Công Hoan, thì có lẽ lúc này tôi sẽ tìm những nơi nào có cuốn sách đó, đốt đi, để xóa một giai đoạn không tốt cho Nguyễn Công Hoan.

Còn riêng cá nhân tôi, Tạ Trọng Hiệp, thì tôi lại chủ trương ngược lại: Nhân dịp ta ra 1 hay 2 đặc san về Phan Khôi, thì cũng nên in lại vài bài, kiểu bài của Nguyễn Công Hoan hay là của một vài người khác đã viết về Phan Khôi, để ta nhớ lại, nhất là để giáo dục thanh niên ngày hôm nay, là đã có những thời gian mà trình độ văn hóa và đạo đức trong nước nó sa đọa đến một cái mức thấp mà không ai có thể ngờ được. Đây có tính cách giáo dục, mở đường cho tương lai. Ngày hôm nay thì những cấm kỵ, phần lớn đã được bỏ rồi. Nhưng mà người ta vừa bỏ cấm kỵ, vừa muốn cho chúng mình nghĩ rằng trong quá khứ có một vài sự hiểu lầm chứ chẳng bao giờ sa đọa đến nỗi bẩn thỉu như thế.
Đấy là chuyện nó cắt nghĩa tại sao tôi muốn gọi cụ Phan Khôi là người xa lạ. (...)
Tôi tiếp tục cái ý Phan Khôi, người xa lạ là người ta hình như cố tình xóa dấu vết về Phan Khôi .

Để chứng minh luận điểm này, Tạ Trọng Hiệp đưa ra những bằng chứng:
1- Sự cố tình xoá tên Phan Khôi:
"Tôi cho một bằng chứng rất gần đây là Phan Khôi trong những năm 30 có một số bài tranh biện với cụ Trần Trọng Kim, sau khi cuốn Nho Giáo tập I, tập II của cụ Kim được in ra. Những bài của cụ Kim đáp lại Phan Khôi được nhà xuất bản Tân Việt, khi in cuốn Nho Giáo lần thứ 3, cho vào phần Phụ lục.(...) Bây giờ, muốn xóa dấu vết Phan Khôi cho tốt, thà là ta bỏ phắt cái phụ lục đi. Và quả nhiên, năm 1991, khi tái bản Nho Giáo ở Sài Gòn, người ta bỏ hẳn phần phụ lục ấy. Ta có thể đọc hết cuốn Nho Giáo mà vẫn không biết là Phan Khôi đã giới thiệu, đã có công rất lớn để giúp cho cuốn Nho Giáo của Trần Trọng Kim được giới có học, tạm gọi là trí thức hồi đó, tìm đọc. Và nhờ những biện luận của Phan Khôi mà có một số điểm sai lầm trong Nho Giáo được sửa lại. Như vậy là riêng về một tác phẩm mà Phan Khôi có công, và cái công đó đã hoàn toàn bị xoá bỏ, khi người ta tước cái phần phụ lục ấy đi".

2- Về nhà văn Sở Cuồng Lê Dư, em rể Phan Khôi:
"Ông Vũ Ngọc Phan, tác giả bất hủ của bộ Nhà Văn Hiện Đại, mà tôi cũng như mọi người, mang ơn rất nhiều trong thời còn trẻ (...) Những năm cuối đời, có đủ thì giờ, ông viết hồi ký rất tường tận. Đặc biệt ông dành riêng gần 100 trang để tả lại cái buổi ban đầu lưu luyến ấy, ông được gặp người yêu của ông và sau ông cưới làm vợ. Đó là cô Hằng Phương, người có quan hệ gia đình với Phan Khôi.
Tại sao tôi nhớ đến Vũ Ngọc Phan khi nói về Phan Khôi? Tôi muốn đưa ra một minh họa, đố ai chối cãi, rằng người ta cố ý, hay là quá sợ, người ta không dám nói đến Phan Khôi:
Ông Vũ Ngọc Phan, nhà anh hùng văn hóa này, ông anh hùng đến nỗi kể về cô gái đẹp như tiên, ông tả Hằng Phương tóc dài mượt. Cái gì cũng đẹp cả. Thế thì bố cô Hằng Phương là ai? Đọc hết cả tập hồi ký của Vũ Ngọc Phan nhan đề Những Năm Tháng Ấy (...) cả thẩy 423 trang (...) vẫn không biết ông ấy tên là gì!

Ông bố của Hằng Phương là nhà văn Sở Cuồng, tên thật là Lê Dư!
Lê Dư, hồi trẻ, có một giai đoạn bồng bột, nghe theo tiếng gọi của nhiệt huyết yêu nước, xuất ngoại Đông du. Có sang Tầu, sang Nhật. Về sau ông ấy học khá giỏi tiếng Nhật. Nhưng sau một thời gian -mà tôi chưa nghiên cứu rõ, tôi chưa biết là bao lâu- ông ấy trôi giạt ở Thượng Hải. Vì đói quá, ông chuồn về Việt Nam. Và lại gặp lúc mật thám Pháp đang tìm cách dụ những người trí thức chống đối, về làm việc với nó, vì nó đang muốn mở ra một lối thoát cho trí thức nho học duy tân: Các anh đi con đường chống chúng tôi thì chết; nhưng nếu các anh đừng chống chúng tôi, mà lại có một hoạt động văn hóa, có lợi cho cả các anh lẫn chúng tôi, thì các anh sống được. Tức là bằng sự mở tờ Nam Phong. Một người có tư tưởng ôn hòa như Phạm Quỳnh đứng chủ trương.
Cụ Lê Dư về được bổ nhiệm làm chủ bút, giữ phần Hán văn của Nam Phong[thực ra Nguyễn Bá Trác làm chủ bút phần Hán Văn, Lê Dư cộng tác sau]. Thì chỉ vì những năm đó mà về sau Lê Dư bị mang một nhãn hiệu -sau khi Cộng Sản lên cầm quyền- gần như là một người phản cách mạng.

Cho nên Lê Dư cũng bị một số phận -tuy không nặng bằng Phan Khôi, nhưng cũng gần như thế- là trong bộ sách quý báu mà tôi hay dùng, Lược Truyện Các Tác Gia Việt Nam, tập II, ở mục số 19, có một tiểu sử Lê Dư, mà người cán bộ viết sách đó, lúc đó đang sống ở Hà Nội, có con gái cụ Lê Dư là bà Hằng Phương, con rể cụ Lê Dư là ông Vũ Ngọc Phan, con gái út cụ Lê Dư là vợ tướng Nguyễn Sơn, còn đang sống lúc bấy giờ ở giữa Hà Nội, mà họ dám viết tiểu sử Lê Dư bằng hai câu đầu như thế này: Không biết năm sinh và năm mất ở đâu. Lúc đó, cụ Lê Dư đang sống phây phây ở giữa Hà Nội (...) Vợ ông Lê Dư là em ruột Phan Khôi (...) tôi rất bất mãn khi ghi chép tiểu sử người ta, mà cứ giấu cái này, giấu cái kia. Nhất là cuốn hồi ký của Vũ Ngọc Phan, là người tôi mến trọng ngày xưa bao nhiêu, thì sau khi đọc cuốn hồi ký, tôi mất đi nhiều thiện cảm với ông ấy, chỉ vì cái chuyện hèn nhát của ông ấy: Tên bố vợ không dám nói, chỉ nói ông cụ làm ở Bác Cổ (...) Suốt mấy chục trang nói về ông bố của người mà mình sắp đến xin cưới con gái, không dám nói đến tên ông cụ là Lê Dư!

3- Về cụ Phan Trân, cha Phan Khôi:
"Điểm thứ ba, khi nói về tên ông ngoại của vợ mình là cụ Phan Trân. Trong suốt cả cuốn hồi ký đó, mỗi lần nhắc đến cụ thì cứ gọi cụ là cụ Phan Trần.(...) Ai có cuốn sách Những Năm Tháng Ấy của Vũ Ngọc Phan: Tên cụ là Phan Trân chứ không phải Phan Trần..
Và qua sự chắp nối với một vài điều đọc ở chỗ khác, thì dần dần tôi thử phác họa Phan Khôi là con cái nhà ai, sinh năm nào? Ở đâu? Đấy, cái này đã bắt tôi bỏ ra nhiều thời gian tìm kiếm, nó là khía cạnh khiến tôi đi đến một quyết định là nếu viết bài, thì tôi đề tựa: Phan Khôi: Người xa lạ? Với một dấu hỏi rất lớn vì quả thật là gốc gác, lý lịch và dấu vết về đời cụ Phan Khôi ngày nay gần như bị xoá hết cả rồi. (Tạ Trọng Hiệp trả lời phỏng vấn RFI, phát thanh những ngày 15, 22 và 29/12/1996).

Tạ Trọng Hiệp qua đời ba tháng sau khi nói những lời "thịnh nộ" này.

Đánh Phan Khôi, những văn bản ô nhục của trí thức : Các học giả

Cuốn Lược truyện các tác gia Việt nam, quyển II, của Trần Văn Giáp, Nguyễn Tường Phượng, Nguyễn Văn Phú, Tạ Phong Châu, mục từ số 50, có đoạn như sau:

" 50. Phan Khôi (... -1960) (...) Phan Khôi đã được Mác-ty (Marty) gọi ra làm việc cạnh nó và viết báo Nam Phong. Trong phòng kín, Phan đã bí mật tố giác một số nhân sĩ yêu nước và bí mật hiến mưu dập tắt phong trào cách mạng"... Trong tạp chí Nam Phong, Phan đã viết những bài văn và bài thơ lừa dối (...) Phan đã tuyên truyền rầm rộ cho giặc dưới cái nhãn hiệu phỉnh nịnh là "Rồng Nam phun bạc".

Những việc làm của Phan Khôi "đã đẹp lòng bọn mật thám Mác-ty nhưng chỉ đem lại cho sĩ phu hồi đó sự căm giận khinh bỉ. Phan Khôi là một nhà Nho không những không có sĩ khí văn phong gì, mà đã tụt xuống bại vong quốc nô vô sỉ" (Xem bài Một nhà nho "tiết tháo" Phan Khôi của Phùng Bảo Thạch, đăng trong tập Bọn Nhân Văn - Giai Phẩm trước toà án dư luận, Nhà xuất bản Sự Thật, 1969, trang 76, 78). (...) Nhóm phá hoại Nhân Văn - Giai Phẩm đã bị vạch mặt và bị dư luận phê phán nghiêm khắc. Cuộc đời nhơ nhớp, phản bội cách mạng của Phan Khôi lần này được phơi bày ra ánh sáng. Hai năm sau, 1960, Phan Khôi chết ở Hà Nội." (mục từ Phan Khôi, sđd, trang 141).

Các "học giả" đã chép lại những đoạn vu khống nhơ bẩn nhất của Phùng Bảo Thạch để viết văn học sử, đại loại: "trong phòng kín, Phan đã bí mật tố giác" (nếu xẩy ra trong phòng kín, tại sao các "học giả" biết được?). Chúng tôi đọc tất cả những bài Phan Khôi (Chương Dân) viết trên Nam Phong, tuyệt nhiên không thấy chữ nào là "Rồng Nam phun bạc". Phùng Bảo Thạch, Hoàng Tích Chu và Tạ Đình Bính (cha của Tạ Trọng Hiệp) là những người sáng lập báo Đông Tây (1929-1932)màPhan Khôi cộng tác năm 1930-1931.
Trong cuốn sách này, có ba học giả bị kết án nặng nhất: nhưng Nguyễn Văn Vĩnh (mục từ 24) chỉ bị coi là thân Pháp. Phạm Quỳnh (mục từ 48), dù bị thủ tiêu, cũng chỉ bị coi là "tay sai đắc lực của đế quốc Pháp trong lãnh vực văn hoá và một tên Việt gian lợi hại chống cách mạng". Đặc biệt Phan Khôi bị bôi nhọ một cách bỉ ổi hơn cả.

Sự bôi nhọ Phan Khôi được chuẩn bị một cách hệ thống, chắc chắn phải do lệnh từ trên cao nhất của lãnh đạo, bởi Trường Chinh, Tố Hữu không đủ thẩm quyền để đánh Phan Khôi và họ cũng không có hiềm khích gì với Phan Khôi, và phải dùng những học giả, nhà văn, nhà báo lão thành như Hồng Quảng, Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Công Hoan, Phùng Bảo Thạch.

1- Hồng Quảng
Hồng Quảng làtên giả của một trong những học giả hàng đầu, là người chủ chốt. Bài Tính chất Phan Khôi hay ngựa quen đường cũ ký tên Hồng Quảng đăng trên Văn Nghệ số 11 tháng 4/1958, là bài chỉ đạo: Trầm tĩnh, lịch sự tối thiểu, không mày tao, chi tớ, có lúc còn gọi Phan Khôi là tiên sinh (dù trong nghiã mỉa mai), nhưng dần dần tiệm tiến "chứng minh" Phan Khôi là kẻ "phản quốc". Lập luận chính: "Phan Khôi chỉ học mót của Hồ Thích chứ không có tư tưởng gì cả". Hồng Quảng là "thủ trưởng" vụ đánh Phan Khôi, nhưng viết bài mà không dám ký tên thật luôn luôn là một hành động phức tạp: ở những kẻ có "tên tuổi", đây là hành động "kẻ cả", tỏ mình là "bề trên", không nhúng tay vào những việc nhỏ mọn. Nhưng đồng thời cũng chứng tỏ tác giả không tin vào điều mình viết, thậm chí còn xấu hổ nữa, nên không dám ký tên thật. Là ai chăng nữa, thì việc ký tên giả luôn luôn chứng tỏ người viết là kẻ tráo trở hai mặt, ném đá giấu tay. Tên giả thường chỉ xuất hiện một lần trong một "vụ việc" nào đó, rồi hết. Khác với việc nhà văn dùng nhiều bút hiệu để phân biệt lối viết và cách trình bày tư tưởng khác nhau của mình trên mặt báo.

Sự chỉ đạo của Hồng Quảng được Nguyễn Đổng Chi gián tiếp nói ra:
"Khi viết bài này, bạn Hồng Quảng ở tạp chí Văn nghệ (số 11) đã vạch cho ta thấy Phan Khôi “không phải độc lập sáng tạo” mà chỉ học mót lại những cái Hồ Thích đã nói từ lâu. Đúng thế. Phan Khôi là một tên học trò vụng về của Hồ Thích, mà Hồ Thích thì là một tên lính xung phong của thực nghiệm chủ nghĩa hay thực dụng chủ nghĩa của giai cấp tư sản phản động của đế quốc Mỹ do bọn Đi-uy (Dewey), Ram (James) và Mát (Mach) v.v… sáng tạo" (Nguyễn Đổng Chi, Quan điểm phản động, phản khoa học của Phan Khôi phải chăng là học mót của Hồ Thích? Tập san nghiên cứu Văn Sử Địa, Hà nội, số 41, tháng 6/1958, tài liệu Talawas).

Nguyễn Đổng Chi chỉ lập lại hai ý chính của Hồng Quảng: "Phan Khôi học mót của Hồ Thích" "Phan Khôi có bộ óc dương nô" (nô lệ Tây Phương), để buộc Phan vào tội "vong bản, phản dân tộc". Ngày nay, nếu có phương tiện, cũng nên xác định Hồng Quảng, kẻ chỉ đạo việc đánh Phan Khôi trong giới học giả là ai, để hoàn lại cho người viết, cái trách nhiệm văn bản của mình. Bởi người cầm bút luôn luôn phải chịu trách nhiệm về những điều mình đã viết ra

2- Phan Khôi có "học mót" của Hồ Thích không?
Theo các "học giả" nói trên, thì những chủ đề Phan Khôi đưa ra trên báo, từ thời Phụ Nữ Tân Văn (1929) đến Sông Hương (1936) đều là "học mót" của Hồ Thích cả.
Vậy chúng ta thử xem Phan Khôi viết gì về người thày quý hoá này?

1- Trong bài "Lý với thế: Hồ Thích với Quốc dân đảng", năm 1929, Phan Khôi viết:
"Trong thời cuộc nước Tàu độ mười lăm năm trở lại đây, phải kể Hồ Thích là một người quan hệ lắm, quan hệ cả về mặt văn hóa và về mặt chánh trị. Thế mà mới ba năm gần đây, Hồ trở nên một người không hợp với thời cuộc, trái với dư luận, ấy là tại va gặp cái thế của Quốc Dân Đảng.
Độ Dân Quốc gây dựng được năm bảy năm chi đó, Hồ Thích bắt đầu xướng ra cái thuyết dùng bạch thoại thế cho văn ngôn, làm cho văn thể nước Tàu biến đổi ngay và từ đó tư tưởng người Tàu cũng phát đạt mau. Hồ là một tay Hán học uyên thâm mà lại đậu Tấn sĩ văn khoa nước Mỹ, bấy giờ vachỉ viết báo mà cổ động sự cải cách văn thể chớ đích thân va thì còn ở bên nước Mỹ chưa về. Lúc đó bọn thanh niên nước Tàu trông va về lắm, trông va về để làm người lãnh tụ dìu dắt bọn thanh niên lên trong đường cải cách.
Khi va về, trường Đại học Bắc Kinh liền rước làm thầy giáo (professeur) dạy khoa triết học. Ở đó vài năm, va làm được một cuốn "Trung Quốc triết học sử đại cương" là sách rất có giá trị trong học giới Tàu ngày nay". ("Lý với thế: Hồ Thích với Quốc dân đảng, Đông Pháp thời báo, Sàigòn, số 807 (18/12/1928, Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1928, trang 123-124)".

Bài viết có giọng của một người đàn anh (Phan hơn Hồ 4 tuổi) khen người đàn em, tuy trẻ tuổi mà đã nổi đình đám lắm, nhưng cũng chê Hồ không ít. Phan viết về một bữa tiệc ở Thượng Hải: "Hồ, chừng như cho mình là nhà triết học ngôn luận phải khác chúng mới được, bèn đứng lên nói một cách sỗ sàng. Đại lược va nói rằng thành phố phải độc lập về đường chánh trị (...) Va nói như vậy có gì lạ đâu, chẳng qua theo cái phép đô thị tự trị thì phải như vậy. Mới rồi các ông hội đồng quản hạt ta nói về việc tự trị của thành phố Vũng Tàu cũng nói như vậy mà có ai cãi? Cho nên khi Hồ nói xong thì có ý tự đắc".

Phan Khôi gọi Hồ Thích bằng va. Va là có ý coi thường. Không ai gọi thầy mình là va cả, nhất là một người dùng tiếng Việt như Phan Khôi, và cũng không ai "nhận định" về "người thầy tư tưởng" bằng một bài viết như thế. Phan Khôi gọi Trần Quý Cáp là thầy tôi; Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của là đại sư; gọi Lương Khải Siêu, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh (kém Phan 5 tuổi), là tiên sanh.

2- Việc Phan Khôi viết văn tự nhiên và rành mạch, không phải do ông học mót của Hồ Thích việc dùng bạch thoại. Trong bài trả lời phỏng vấn Phan Thị Nga (vợ Hoài Thanh) trên Hà Nội báo (11/3/1936), Phan Khôi cho biết: nhờ nghiên cứu cái logique trong tiếng Pháp (do Phạm Quỳnh chỉ) nên từ khi viết cho Đông Pháp thời báo, tức là từ 1925 trở đi, ông viết theo lối này. Có lẽ còn những lẽ khác nữa: Từ 1922 trở đi, Phan giao du và chịu ảnh hưởng của nhóm trẻ Nguyễn An Ninh (kém Phan 13 tuổi) Dejean de la Bâtie (dạy Phan tiếng Pháp), Bùi Thế Mỹ (cùng quê)... là những người bạn làm báo, học trường Tây. Về nguyên nhân sâu xa, Phan đã học được lối viết hài đàm trong sáng của Nguyễn Văn Vĩnh trên Đăng Cổ Tùng Báo, và đã áp dụng lối văn trong sáng này trong bản dịch Kinh Thánh từ 1920-1925, chúng tôi sẽ phân tích văn bản Kinh Thánh trong một kỳ tới.


3- Tại sao các "học giả" lại chọn Hồ Thích để gán cho Phan Khôi? - Vì lý do chính trị:
Hồ Thích (1891-1962) là người được đào tạo ở Mỹ, du học năm 1910, đậu Ph.D (tiến sĩ) rồi về nước năm 1918. 1938, làm đại sứ cho Tưởng Giới Thạch tại Mỹ. Gán cho Phan Khôi "học mót" Hồ Thích, để dễ đi đến kết luận: Phan Khôi phản quốc, trước làm bồi Tây, sau bồi Mỹ.
Việc triệt hạ Phan Khôi ở các học giả, nếu dùng chữ của Phan Khôi, thì đó là cách hạ độc thủ của "các bạn đồng chí, những người quân tử". Về việc này, vẫn trong bài báo đã dẫn ở trên, khi nói đến việc Hồ Thích bị bọn đồng chí trong Quốc Dân Đảng hạ thủ, Phan Khôi viết: "Thà chịu cái độc thủ của kẻ cường quyền, của bọn tiểu nhân; không thà chịu cái chó má của bạn đồng chí, của người quân tử!"

Ba mươi năm sau, Phan Khôi bị rơi vào đúng trường hợp của Hồ Thích.


Các nhà văn nhà thơ

Tế Hanh

Chiến dịch đánh Phan Khôi được tổ chức khá quy mô, sử dụng những người có tiếng hiền lành như Nguyễn Đổng Chi, Tế Hanh, vừa dễ sai bảo, vừa được quần chúng tin cậy. Tế Hanh là người đi cùng với Phan Khôi sang Tàu nhân dịp kỷ niệm Lỗ Tấn, 1956.

Tế Hanh đã làm những câu thơ như sau:
Chống Pháp lại đi ôm đít Pháp
Chửi vua rút cuộc liếm giầy vua
Há mồm lại nói nền dân chủ
Đạo đức ba que quả trái mùa (Thơ họa "Con rùa đá” của Tế Hanh - 1957).

Trong bài "tường trình" về chuyến đi Trung quốc, Tế Hanh kể rặt tội của Phan Khôi trong suốt chuyến đi: lúc nào cũng tìm cách nói xấu đảng. Nhưng còn một việc tệ hơn nữa: Phan Khôi đặt tên con trai út là Phan Lang Sa. Trong bài tự trào, gửi cho gia đình từ Việt Bắc năm 1949, ông viết:
Hai nhà cộng lại có mười con
Năm gái năm trai nhắm cũng giòn.
Gả cưới tạm yên nguyền một nửa
Sữa măng riêng mũi máu ba hòn
Tư trào thôi hẳn đành chia rẽ
Nhân cách còn mong được vẹn tròn
Bé nhất Lang Sa mới ba tuổi
Tên mầy ghi cái nhục sông non.
(Phan Thị Mỹ Khanh, Nhớ cha tôi, trang 161)

Bài này nói lên gia cảnh và ý chí của Phan Khôi: Hai vợ, mười con. Một nửa đã lập gia đình. Ba con vợ hai còn nhỏ. Vì theo tư trào (chỉ cách mạng), mà phải chia lìa. Mong giữ vẹn toàn nhân cách. Con bé nhất ba tuổi, đặt tên là Lang Sa (Pháp) để ghi cái nhục sông núi (mất nước). Tinh thần bài thơ đi đôi với lời Phan thường chỉ trích những hạng người "vong bổn", mới đi Tây vài năm mà đã khoe là quên hết tiếng Việt; hoặc không biết tiếng Tây mà cũng đặt tên con là Trần thị Tờ roi, Trần văn Xết. [Cái thói nói tiếng Lang Sa, Đông Pháp thời báo, số 733 (19/6/1928)]

Nhưng Tế Hanh đã "thuật" lại rằng nhân dịp ghé Nam Ninh thăm người con học ở đây tên Phan Lang Sa, Phan Khôi "nói" như sau: "Thằng này sinh ngày 9 tháng 3 năm 1945. Ngày Nhật đảo chính Pháp. Tôi đặt tên nó để cho những người nào vui mừng việc Nhật lật Pháp biết là Pháp sẽ trở lại cho coi". Và Tế Hanhkết tội: "Phan Khôi đã đáp lại lòng thù ghét của nhân dân ta đối với thực dân Pháp như thế. (...) Chỉ có một tâm hồn vong bản loại Phan Khôi mới mong Pháp trở lại mà thôi". [Độc Lập số 357 (1/5/1958, in lại trong Bọn NVGP trước toà án dư luận, trang 138-139].

Như vậy đủ biết sự xuyên tạc và vu khống, từ những ngòi bút có tiếng hiền lành, chân thực có tác động nguy hiểm như thế nào. Bao nhiêu kẻ khác đã chép lại giai thoại bịa ấy mà buộc Phan vào tội "phản quốc". Đến con ông, cũng phải đổi tên mình thành Phan An Sa.

Nguyễn Công Hoan

Nguyễn Công Hoan làm thơ:
Nhắn bảo Phan Khôi khốn kiếp ơi
Thọ mi mi chúc chớ hòng ai
Văn chương! Đù mẹ thằng cha bạc
Tiết tháo! Tiên sư cái mẽ ngoài
Lô-gích, trước cam làm kiếp chó
Nhân văn, nay lại hít gì voi
Sống dai thêm tuổi cho thêm nhục
Thêm nhục cơm trời chẳng biết gai. (Thơ họa của Nguyễn Công Hoan - 1957)

Những lời lỗ mãng luôn luôn là thứ gậy ông đập lưng ông, chỉ hại đến tư cách tác giả. Nguy hiểm hơn là bài Hành động và tư tưởng phản động của Phan Khôi, đăng trên Văn Nghệ số 12, tháng 5/1958, bản điện tử trên Talawas, mà Tạ Trọng Hiệp đã nói đến ở trên.
Nguyễn Công Hoan là người biết nhiều về Phan Khôi hơn cả. Bài viết của ông có những chi tiết về ngày tháng khá rõ, có thể dùng được trong tiểu sử Phan Khôi. Nhưng dựa vào những sự kiện mình biết, Nguyễn Công Hoan thêm thắt, xuyên tạc, để "chứng minh" Phan Khôi là người bán nước, đã làm "chỉ điểm" cho Pháp trong suốt cuộc đời. Bài này vói bài Phùng Bảo Thạch là hai "kiệt tác" về sự ô nhục của trí thức. Ở đây chỉ nhắc đến vụ Nam Phong.

Về việc Phan Khôi cộng tác với Nam Phong, Nguyễn Công Hoan viết: "Làm chỉ điểm cho Pháp, cố nhiên Phan Khôi được sở mật thám Pháp tin dùng. Báo Nam Phong của tên chùm mật thám Đông dương Lu-y Mác-ty sáng lập, cho hai tên phản cách mạng phụ trách, Phạm Quỳnh làm chủ bút phần quốc văn, Nguyễn Bá Trác làm chủ bút phần Hán văn. Nguyễn Bá Trác được lệnh của Mác Ty dùng Phan Khôi.
Từ đó, đời Phan Khôi xoay ra làm báo để reo rắc những tư tưởng phản động, có lợi cho thực dân hơn nghề làm chỉ điểm cho chúng".

Những lời trên đây tiêu biểu cho lối buộc tội Nam Phong, thường được dùng để đánh Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác, đặc biệt với Phan Khôi, Nguyễn Công Hoan đi đến đỉnh cao xuyên tạc. Lập luận xoáy vào 3 điểm chính:
- Báo Nam Phong do Pháp bảo trợ.
- Do trùm mật thám Louis Marty và Nguyễn Bá Trác điều hành chung với Phạm Quỳnh.
- Phan Khôi, "vốn nghề chỉ điểm" nên được Marty tin dùng.

1- Về điểm đầu tiên, không chỉ Nam Phong mà hầu hết các báo quốc ngữ, từ khởi thuỷ đều do người Pháp sáng lập: Gia Định báo (1865): Ernest Potteaux sáng lập-Trương Vĩnh Ký chủ bút. Nông cổ mín đàm (1901): Canavaggio-Lương Khắc Ninh. Đại Việt tân báo (1905): Ernest Babut-Đào Nguyên Phổ. Lục tỉnh Tân văn (1909): Pierre Jeantet-Trần Nhất Thăng. Đăng cổ tùng báo (1907-1908) và Đông Dương tạp chí (1913): Schneider-Nguyễn Văn Vĩnh... Vậy việc Nam Phong do Marty sáng lập cũng chỉ nằm trong chủ trương của chính quyền thuộc địa lúc bấy giờ: thúc đẩy trí thức hoạt động văn hoá để họ không chống đối chính quyền. Việc người trí thức lợi dụng lại khí giới này để truyền bá quốc ngữ và văn hoá Tây phương, là mặt trái của mề đai.

2- Nguyễn Bá Trác:
Phan Khôi và Nguyễn Bá Trác đều theo phong trào Duy Tân từ 1906 và được gửi ra Hà Nội học tiếng Pháp năm 1908. Khi phong trào bị đàn áp, Phan Khôi bị bắt ở Nam Định. Nguyễn Bá Trác trốn ở trong nước, rồi sang Xiêm, sang Nhật, sang Tầu.
Lược truyện các tác gia Việt Nam, mục từ 59, ghi: "... Trác được vào học lớp cán bộ quân sự ở Quảng Tây cùng với Trần Huy Lực (xem Phan Bội Châu niên biểu, trang 111). Nhưng rồi Trác làm mật thám cho Pháp, vào làm phòng báo chí của phủ toàn quyền. Lúc đầu, Trác được giao cho việc làm tờ Công thị báo bằng chữ Hán. Năm 1917, khi tên trùm mật thám Mác-ty (Marty) sai Phạm Quỳnh làm chủ bút tờ Nam Phong thì Trác được giữ gìn phần chữ Hán của tạp chí đó. Vì có công lao ấy, Trác được bổ ra làm Tá lý bộ Học ở Huế rồi làm Tuần phủ Quảng Ngãi, y đã đàn áp nhân dân và tàn sát nhiều nhà cách mạng."

Những "thông tin" trên đây vừa lộn xộn vừa đáng ngờ: Nguyễn Bá Trác làm mật thám lúc nào? Ở Quảng Tây hay ở Hà Nội? Vì làm mật thám nên được vào phủ toàn quyền hay vào phủ toàn quyền rồi làm mật thám? Ở Quảng Ngãi, Nguyễn Bá Trác đã giết những ai? Tên họ các nạn nhân là gì? Mà bảo là "tàn sát nhiều nhà cách mạng"? Chúng tôi chỉ nhắc đến cuốn Lược truyện các tác gia Việt Nam, vì đây là cuốn sách chính mà những người đi sau, thường sao chép lại. Từ điển văn học thì loại hẳn tên ông ra ngoài.

Phần lớn khi người ta nhắc đến Nguyễn Bá Trác, thường có ý úp mở như thể ông là Việt gian. Sau này, Nguyễn Văn Xuân trong Phong Trào Duy Tân có nói đến việc Mai Dị "gởi cho Nguyễn Bá Trác một bức thư chửi rủa thậm tệ, được nhiều người truyền tụng" (Phong Trào Duy Tân. Là Bối, Sài gòn, 1970, trang 213). Điều này cũng chẳng chứng tỏ được gì.

Điểm đáng chú ý là Huỳnh Thúc Kháng khi viết tiểu sử Trần Quý Cáp, năm 1938, có câu: "Về thi văn của Tiên sinh không lưu bản cảo, chỉ có đồng nhân cùng tôi còn nhớ đôi bài lượm lặt chép thành tập, gửi nơi Tiêu Đẩu Nguyễn Bá Trác". [Huỳnh Thúc Kháng, Tiểu sử Trần Quý Cáp, in lại trong Trần Quý Cáp của Lam Giang, Đông A, Sài Gòn, 1971, trang 10-16)]. Vậy Nguyễn Bá Trác vẫn được các bạn đồng hành tín nhiệm, trao giữ tác phẩm của thầy Trần Quý Cáp.

Chúng ta biết chắc: Nguyễn Bá Trác (con rể Nguyễn Bá Học) và Lê Dư là những thanh niên theo phong trào Duy Tân từ đầu. Khi bị lùng bắt, họ chạy sang Nhật, Nhật đuổi, chạy sang Tàu, rồi không chịu được kham khổ và nhớ nước, họ trở về đầu thú. Vì vậy, Sở Cuồng Lê Dư (cha của Hằng Phương) bị coi là phản cách mạng, Vũ Ngọc Phan trong hồi ký không dám nhắc đến tên bố vợ.

Nguyễn Bá Trác (1881-1945), làm báo Nam Phong từ tháng 7/1917 đến khoảng tháng 9/1919, thì được vời vào Huế làm quan, đến chức tổng đốc, sau bị Việt Minh xử bắn năm 1945. Theo Phạm Thị Ngoạn (con Phạm Quỳnh) trong cuốn Introduction au Nam Phong (Tìm hiểu tạp chí Nam Phong): Nguyễn Bá Trác là đàn anh của Phạm Quỳnh về cả tuổi tác (hơn Phạm Quỳnh 11 tuổi), lẫn danh vị (đỗ cử nhân), và nhờ "uy tín của một quá khứ mạo hiểm đã khiến ông nổi danh lịch duyệt".

Những trước tác trên Nam Phong, chứng tỏ ông là một người thơ văn lỗi lạc, tác giả bản dịch Hồ Trường (thơ Nguyên Quân, Trung Hoa), một trong những kiệt tác dịch thơ. Khi kết cho người ta cái tội tầy đình: làm mật thám, hoặc phản quốc, phải có chứng cớ rõ ràng. Nếu không thì xin miễn.

3- Về trùm mật thám Louis Marty:
- Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại ghi Marty là một ông quan cai trị Pháp.
- Phạm Thế Ngũ cho biết: 1907, Marty vào nghạch tham sự hành chánh, làm việc tại phủ Thống sứ Bắc kỳ. 1914, làm phụ tá trưởng phòng chính trị phủ toàn quyền, được đặc phái qua Bắc Kinh. 1915, thăng trưởng phòng chính trị, phụ trách việc lấy tin để đối phó với âm mưu tấn công vào Đông Dương do Đức cầm đầu. Cơ quan gián điệp ấy sau trở thành Tổng cục an ninh Đông Dương. 1934, Marty bị toàn quyền Robin đẩy đi Khâm sứ Ai Lao. (Theo Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 3, Đại Nam in lại tại Mỹ, chú thích trang 128).

- Hoàng Văn Chí viết:
"Mai [Đặng Thai Mai] và Giáp [Võ Nguyên Giáp] đều là “con nuôi” của Louis Marty, giám đốc phòng chính trị của phủ toàn quyền. Marty kiếm việc cho Mai dạy học ở trường Gia Long mà giám đốc là Bailey, một người Pháp, và giao Giáp, hãy còn là sinh viên, cho Mai trông coi. Trong khi những đảng viên Tân Việt khác bị tù đày hoặc cầm cố thì hai người ung dung sống ở Hà Nội cho đến ngày Giáp được Pháp đưa sang Tầu theo Việt Minh chống Nhật. Giáp có theo học lớp “chiến tranh du kích” do Mỹ mở ở Tĩnh Tây, nhưng không bao giờ lên Diên An." (Hoàng Văn Chí, Từ thực dân đến cộng sản, chương IV, chú thích trang 83, Chân trời mới, 1962, bản điện tử lưu trữ trên Talawas).

- Đặng Thai Mai viết: "Tôi tham gia đảng Phục Việt, tiền thân của đảng Tân Việt (...) Khoảng 1928, tôi vào dạy trường Quốc học Huế. Ở đây tin tức không có bao nhiêu. Năm 1930-1931 tôi bị tù. Năm 1932 tôi ra Hà Nội dạy học trường Gia Long, sau dạy ở trường Thăng Long. (...) Ở trường Thăng Long lúc đó có đồng chí Phan Thanh [em họ Phan Khôi], Võ Nguyên Giáp và tôi. Tôi được giao một vài công tác góp phần vào việc mở Hội truyền bá quốc ngữ, viết báo đảng bằng quốc ngữ và tiếng Pháp" (Hồi ký Đặng Thai Mai, Tác Phẩm Mới, 1985, trang 355-356).

- Nguyễn Vỹ, trong Tuấn chàng trai nước Việt, dành chương 39, quyển II, (trang 381- 394) để viết về Đặng Thai Mai và Võ Nguyên Giáp, thời kỳ 1932- 1940 mà ông có dịp gặp gỡ thường xuyên, nhất là về người vợ đầu của ông Giáp và người con gái của Đặng Thai Mai sau này trở thành vợ thứ nhì của ông Giáp. Đáng chú ý là đoạn này :

"Võ Nguyên Giáp, sinh viên cao đẳng luật khoa, Hà Nội, vừa thi đỗ chứng chỉ 2, cấp bằng cử nhân Luật, tháng 6 năm 1937. Nhưng năm sau, 1938, anh lại thi rớt cấp bằng Luật pháp Hành chánh. Số đông sinh viên Luật Hà nội thi đậu chứng chỉ cử nhân Luật liền học một năm về "Droit administratif (Hành chánh Luật), thi đậu cấp bằng này được bổ ra làm Tri huyện, theo Hành Chánh Nam triều, hoặc "commis" [tham tá] làm tại phủ toàn quyền, hoặc các toà Thống sứ, Khâm sứ, Thống Đốc, nếu phục vụ cho chính quyền thuộc địa.
Võ Nguyên Giáp lúc bấy giờ có ước vọng làm commis, nhưng thi rớt nên bỏ học luôn, và tiếp tục làm giáo sư sử địa trường trung học Thăng Long" (Nguyễn Vỹ, Tuấn chàng trai nước Việt, quyển II, trang 381-382).

Những thông tin trên đây cho thấy:
- Marty là một nhân vật khôn khéo: liên lạc và giúp đỡ tất cả những thanh niên "có đầu óc" không phân biệt chính kiến.
- Tình trạng thanh niên Việt Nam lúc bấy giờ không đơn giản. Chống Pháp hay ra làm quan với Pháp chỉ cách nhau một bước: Nếu Võ Nguyên Giáp thi đỗ, cuộc đời ông có thể đã thay đổi hoàn toàn.
- Việc phân biệt chính, tà, là một vấn đề hết sức phức tạp. Không nên thần thánh hoá bất cứ một nhân vật lịch sử nào. Sự bôi nhọ Phan Khôi trong hơn nửa thế kỷ. Sự kết tội Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác, về việc làm báo Nam Phong, nếu giúp chúng ta rút ra được một bài học nào, là trong cái nghiã đó.

Share/Save/Bookmark

Thứ Bảy, 20 tháng 11, 2010

Phụ lục : Nguyễn Ái Quốc, lai lịch và văn bản (Phần 2b)

Nguồn : RFI

Báo "Tiếng chuông rè" gắn chặt với hai tên tuổi Phan Văn Trường và Nguyễn An Ninh.
Báo "Tiếng chuông rè" gắn chặt với hai tên tuổi Phan Văn Trường và Nguyễn An Ninh.
Thụy Khuê

Việc xác định những văn bản ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc là của Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn An Ninh, dẫn tới vai trò chủ yếu của Phan Văn Trường, những năm đầu và của Nguyễn Thế Truyền, những năm cuối, trong hoạt động của nhóm Người An Nam yêu nước (1919-1927). Đó là cơ sở đầu tiên của những ngòi bút chống thực dân trên đất Pháp.


4. Bút pháp Nguyễn Thế Truyền, qua hai bài trên cùng tờ Le Paria, ra ngày 1/12/1922

Trong ngày 1/12/1922, Trên báo Le Paria có hai bài, một bài ký tên Nguyễn Thế Truyền, một bài ký tên Nguyễn Ái Quốc. Khảo sát hai văn bản này, chúng ta có thể xác định Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Ái Quốc là một.

Nguyên văn bài Un Bolchevick jaune (Một người Bôn-sơ-vich da vàng) ký tên Nguyễn Thế Truyền, in trên Le Paria ngày 1/12/1922, như sau:
"Nguyễn Ái Quốc có phải là một "kẻ đầy tham vọng, không nhân cách và không đại diện cho ai", như ý kiến của La Dépêche (Điện văn) rất coloniale (thực dân) kia. Những lời phỉ báng như thế, hiển nhiên phản ảnh sự nghiêng mình (hommage) của cái thấp hèn trước cái cao cả. Vì thế, đáng được trả lời.
Tham vọng? Hẳn thế, Nguyễn Ái Quốc đầy tham vọng. Nhưng tham vọng gì? Tham vọng giải phóng anh em rơi vào vòng nô lệ, bị bọn "diều hâu thực dân" bóc lột dã man. Có tham vọng nào cao quý hơn?
Kẻ viết bài giấu tên trên báo La Dépêche Coloniale kia, vì ngươi không biết đến nhân cách của Nguyễn Ái Quốc, nên ta cho ngươi biết.
Trong xứ, Nguyễn Ái Quốc sống hạnh phúc bên cạnh người thân. Khi còn rất trẻ, một hôm thấy Pháp chặt đầu đồng bào. Quốc không hiểu tại sao. Phẫn uất, Quốc ra đi, xa lánh bất công, để có thể kêu gào: "Công lý!" ở nơi khác. (...) Hôm nay, anh cương cường tranh đấu cùng những người anh em châu Phi, châu Âu. Với nghề khiêm tốn "sửa ảnh", vất vả để kiếm sống, nhưng anh trong sạch hơn bao nhiêu quan chức, quá quan cách, ở các Thuộc địa, kia.
Ồ! Không! Quốc không hề như họ. Chẳng tiền hô hậu ủng, không diêm dúa mề đai, không cồng kềnh "ấn trát", nhưng anh mang nguyện ước của đồng bào, kỳ vọng của Dân tộc bị áp bức. Năm ngoái, trở lại Đông Dương, tôi được nghe những lời cảm động về anh, bí mật truyền miệng mọi người. Một cụ bà kể: tôi có hai đứa cháu bị Pháp bắt đi đầy (vì tư tưởng); cụ hỏi tôi: "Cậu ơi, Cậu có biết Nguyễn Ái Quốc không?" - Một em bé dễ thương nhớ lại người cha, nhân sĩ nổi tiếng, bị tình nghi vì tư tưởng, một ngày kia bị cảnh sát Tây lôi đi như con chó; trong đầu đầy hình ảnh anh hùng huyền thoại, đứa nhỏ hỏi tôi: "Nguyễn Ái Quốc có phải là người bằng xương, bằng thịt không?"
- Này, người của La Dépêche Coloniale, ngươi không hiểu gì hết, ngươi đang phỉ báng một chân lý lớn lao, một sự hy sinh cao cả, hãy câm đi!" Nguyễn Thế Truyền.

Bài này, không nói lên lòng "tôn thờ" Nguyễn Ái Quốc (Tất Thành) của Nguyễn Thế Truyền, như Thu Trang nhận xét, mà Nguyễn Thế Truyền vinh danh một người anh hùng vô hình, nói khác đi, một người anh hùng huyền thoại, vì thế ôngđặt vào miệng bà cụ câu: Có ai gặp Nguyễn Ái Quốc không? Đặt vào miệng đứa nhỏ câu: Nguyễn Ái Quốc có phải là người bằng xương bằng thịt không? Đó là ý chính của Nguyễn Thế Truyền: hóm hỉnh xác định Nguyễn Ái Quốc là một huyền thoại.
- Là người chống Pháp không khoan nhượng, Nguyễn Thế Truyền mạnh tay (tát tổng đốc Vi Văn Định), mạnh bút, luôn luôn đánh thẳng vào thực dân vói lời lẽ quyết liệt: Bài này tát kẻ viết bài trên báo La Dépêche Coloniale, hèn, giấu tên (có thể là người Việt), không hiểu thế nào là sự hy sinh cao cả cho một chân lý.
- Bài báo còn cho thấy văn phong sắc, gọn, của Nguyễn Thế Truyền, sự kiêu kỳ, lối chơi chữ của ông và xác định một thông tin: khi Nguyễn Thế Truyền về nước, giữa năm 1920, cái tên Nguyễn Ái Quốc đã được mọi người truyền tụng.
- Lối viết của Nguyễn Thế Truyền khác Phan Văn Trường và Nguyễn An Ninh: Câu ngắn, rất ngắn, giọng khiêu khích, châm biếm và hay chơi chữ.

Trên cùng số báo Le Paria, ra ngày 1/12/1922, có bài A propos de Siki, (Về vụ Siki), ký tên Nguyễn Ái Quốc, viết về sự kiện Siki, boxeur da đen hạ Carpentier, boxeur da trắng. Chúng tôi trích một đoạn, phần tiếng Pháp trước, để độc giả thấy bút pháp của Nguyễn Thế Truyền:

"Depuis que le colonialisme existe, des blancs ont été payés pour casser la g... aux noirs. Pour une fois, un noir a été payé pour en faire autant à un blanc. Adversaire de toute violence, nous désapprouvons l'un et l'autre procédé. Mais le fait est là, nous n'avons qu'à le constater. Constatons.
D'un coup de poing - sinon scientifiquement envoyé, du moins formidablement placé - Siki déplaca proprement Carpentier de son piédestal pour grimper dessus lui-même.
Le championnat de la boxe a changé de mains, mais la gloire sportive nationale n'a pas souffert, puisque Siki, enfant du Sénégal, est parconséquent, fils de France, donc Français.
Malgré cela, il arrive que chaque fois que Carpentier triomphe, c'est naturellement par son adresse et par sa science. Mais toutes les fois qu'il est battu, c'est toujours par la force brutale d'un Dempsey ou la mauvaise jambe d'un Siki. C'est pourquoi, au match de Buffalo, on a voulu déclarer - on a même fait déjà la déclaration - que Siki, bienque gagnant, était vaincu "quand même".

"Từ khi có chế độ thuộc địa, người da trắng được trả tiền để đánh bể mặt người da đen. Bận này, một anh da đen lại được trả tiền để nện anh da trắng. Chống mọi bạo lực, chúng tôi không tán thành cả hai cách này. Nhưng sự kiện sờ sờ ra đó, chúng ta chỉ việc ngó qua. Xem nào.
Một cú đấm -nếu không được gọi là khoa học, thì ít ra thì cũng trúng boong- Siki rành rành hạ bệ Carpentier và leo lên thế chỗ.
Giải vô địch đánh bốc đã đổi chủ, nhưng hào quang thể tháo quốc gia không hề hấn gì, vì Siki, đứa con Sénégal, tức, con Pháp, vậy, là người Pháp.
Ấy thế mà mỗi khi Carpentier thắng thì tất nhiên là nhờ tài trí và phương pháp khoa học của anh. Còn lần nào thua thì y như rằng là vì một tên Dempsey nào đó, đánh ác hay một tên Siki nào đó, đá hiểm. Vì vậy, trong trận đấu Buffalo, người ta những muốn tuyên bố - người ta đã tuyên bố rồi - rằng Siki dù thắng, "vưỡn" bại!" (trích bài A propos de Siki (Về vụ Siki), ký tên Nguyễn Ái Quốc.
Rất khó xác định những lời này của Nguyễn Tất Thành, vì một người mới học tiếng Pháp vài năm mà viết được như thế thì quả là phép lạ, nhất là tính cách hóm hỉnh, cũng không hề tìm thấy trong các văn bản sau này của Hồ Chí Minh.

5. Tư tưởng Nguyễn An Ninh

Nguyễn An Ninh có hai lối viết, một lối viết tranh luận, đôi khi cũng sát phạt không kém gì Nguyễn Thế Truyền, một lối viết hoà nhã, gần với văn phong Phan Văn Trường.
Bài Lettre à Monsieur Outrey (Thư gửi ông Outrey) đăng trên Le populaire ngày 14/10/1919, là lối văn tranh luận, với những chi tiết nói lên sự đụng độ kịch liệt giữa Outrey và Nguyễn An Ninh:
Sự việc có thể đã phát xuất từ bài L'Indochine et la Corée; une intéressante comparaison (Đông dương và Triều tiên) in trên Le populaire 4/9/1919. Trong bài này Nguyễn An Ninh so sánh sự bảo hộ Triều tiên của Nhật bản và sự bảo hộ Đông dương của Pháp. Ông buộc tội Pháp đã đầu độc người da vàng bằng những lời hứa hão và dùng bọn bồi bút để ca tụng chính quyền thuộc địa. Ernest Outrey, từng làm Thống đốc Nam Kỳ. Năm 1914, đắc cử dân biểu, đại diện cho thực dân ở Sàigòn tại quốc hội Pháp.
Ngày 18/9/1919, tại Hạ viện, Outrey đánh thẳng vào "bè lũ" Nguyễn Ái Quấc và đồng bọn An Nam yêu nước. Được tin, Nguyễn An Ninh đang nghỉ ở Biarritz viết lá thư ngỏ cho Outrey, gửi đăng trên báo Le Populaire, phản pháo mãnh liệt, đồng thời xác định mình là Nguyễn Ái Quốc, ông viết:
"Ông đã nói đi nói lại [ở hạ viện] rằng tôi bị truy nã ở Đông Dương vì âm mưu chống Pháp. Vậy hãy nói cho biết, lúc nào, toà án nào, âm mưu gì?"
Outrey và Nguyễn An Ninh cùng ở Nam Kỳ nên biết rõ hành tung của nhau: Outrey biết rõ gốc gác và hành động của Nguyễn An Ninh. Nguyễn An Ninh cũng biết rõ âm mưu của Outrey ở Nam Kỳ. Nhưng tới năm 1919, Nguyễn An Ninh chưa hề bị bắt, vì vậy Ninh mới thách Outrey tìm ra chứng cớ ông bị bắt năm nào, ở đâu? Về phần Outrey, khi đọc văn, y đoán chắc Nguyễn Ái Quấc là Nguyễn An Ninh, nên trong lời buộc tội ở hạ viện, Outrey đã mô tả Nguyễn Ái Quốc như Nguyễn An Ninh. Cuối cùng Nguyễn An Ninh cũng đã "đáp lễ" Outrey tới nơi tới chốn.

Khía cạnh thứ hai: Nguyễn An Ninh là ngòi bút của văn chương và tư tưởng.
Trong bài La France et L'Indochine, Nguyễn An Ninh viết:
"Trong những năm gần đây, mặc dù thực dân hết sức tìm cách giam hãm người An Nam, nhưng dưới lực đẩy của phong trào thanh niên Tây du, một vài người đã có thể đến Pháp, quan sát đời sống hàng ngày và tìm hiểu bí quyết về sức mạnh vật chất của Âu Châu. Họ mang về nước tư tưởng dân chủ, tinh thần phê phán của Châu Âu; hơi thở Tây phương đã làm sống lại niềm tin và nghị lực của họ. Họ đã nhận tận tay người Pháp bản án chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương. Thực dân không thể ngăn cấm người An nam biết tiếng Pháp đọc Montesquieu, Rousseau, Voltaire.
Và, cùng một lúc, tinh thần phê phán Tây phương, giúp thanh niên An nam, mang trong tâm hồn giống nòi họ, giải thoát triết học Khổng Tử và Mạnh Tử khỏi lớp bụi dầy của đạo lý Khổng Mạnh suy đồi. Đã có một số xu hướng nổi lên và xác định, tìm cách cổ động quần chúng bỏ khát vọng phục thù bằng bạo lực và dấn thân vào con đường tranh đấu mới: Đòi hỏi những tự do căn bản để bảo tồn phẩm giá con người, đòi hỏi những cải cách, trùng hợp tinh thần dân chủ của dân tộc An nam với tư tưởng Tây Phương. Họ không còn chấp nhận, như quần chúng đã phải chấp nhận, như kẻ bại trận trên chiến trường đã phải chấp nhận, cái luật chiến tranh, cái đắc ý thô bạo của kẻ thắng và cái nhục nhã của người thua. Họ cũng không còn chiến đấu bí mật với lòng yêu nước thuần tuý nữa mà họ tranh đấu công khai, nhân danh nguyên tắc nhân quyền 1789. Và bọn thực dân không còn dám dựa trên cớ "chủ quyền nước Pháp bị đe doạ" để bắt họ đi đày hoặc xử tử.
Như thế, chính sách người bóc lột người ở Đông Dương đã được báo trước sự phá sản không thể tránh khỏi.
Hoặc là, biện pháp đán áp, điên cuồng vì thất bại, vẫn cố chấp, mặc kệ dấu hiệu báo trước những biến cố sắp tới, vẫn tiếp tục đè nặng trên con mồi đang vùng vẫy; như thế thảm họa chung sẽ xẩy ra: nước Pháp mất hết thanh danh và lợi ích -"sứ mệnh giáo hoá" của châu Âu sẽ lộ bộ mặt thật của nó- và nước An Nam, sau những kinh hoàng, thống khổ, sẽ được tự do hơn để hoàn tất sứ mệnh của mình.
Hoặc là, nước cộng hoà Pháp đến Đông Dương để thay thế bè lũ thực dân; như thế, không những, thanh danh và lợi ích của Pháp sẽ được bảo toàn, mà Pháp còn được hưởng sự tri ân của một dân tộc sẽ ủng hộ uy danh của họ ở châu Á.
Cách đây khoảng 15 năm, để trả lời tiếng kêu của những người bị họ đán áp, những kẻ thực dân, đã viết trên báo của họ như sau: "Nước Pháp không đến đây với (đoản) Kiếm và Luật (pháp). Chỉ có Kiếm". Hình như rằng, sau sáu mươi năm bị đô hộ và chịu ảnh hưởng Pháp, ngày nay, đất Nam kỳ đã được công bố là đất Pháp, người An nam có quyền đòi hỏi nước Pháp phải mang sang Đông Dương, không những Luật, mà cả thanh Kiếm để bảo vệ Luật. Sự hoà hợp giữa lý tưởng cộng hoà Pháp và tư tưởng dân chủ của một xã hội xây dựng trên nền móng tư tưởng Khổng Mạnh, không vượt trên sự tiến hoá tự nhiên, như thực dân vẫn muốn cho người ta tưởng. Phong trào giải phóng ở Á châu không đi theo những quy luật chi phối sự tiến hoá chậm rãi từ xã hội dã man lên xã hội Âu châu tân tiến.
Phải là thực dân trong nghĩa ngu xuẩn nhất mới có có thể tin được "nghiã vụ giáo hoá" của những người Âu châu sang "thuộc địa hoá" Đông Dương. Ở Ấn Độ, sự tuyên ngôn về "nghiã vụ giáo hoá" Tây phương gợi trong lòng một Tagore ý thức giáo hoá Đông phương. Ở Trung hoa, giới thanh niên đã đi học ở Âu châu, đặt câu hỏi trên báo chí như một thách đố với châu Âu: "Bạn có thể nói cho chúng tôi biết, nước bạn đã có văn minh chưa? (...)
Về chính sách thực dân mà nước Pháp áp dụng ở Đông Dương, chúng tôi nhận thấy:
1- Rằng, ở Đông Dương, nước Pháp chẳng những không áp dụng những nguyên tắc lớn mà họ đã tuyên thệ, mà còn tiêu diệt tư tưởng dân chủ của xã hội An Nam.
2- Rằng, nước Pháp, thừa nhận tự do và quyền công dân Pháp cho những người, hôm qua, vẫn còn là nô lệ, nhưng lại áp đặt chế độ nô lệ ở Đông Dương cho một dân tộc tự do, đã có một nền văn minh, từ khi cư dân sống trên đất Pháp vẫn còn ăn lông ở lỗ (vivait dans des cités lacustres)". (Trích La France et L'Indochine, đăng trên Europe, số 31, ra ngày 15/7/1925)

Bút pháp thứ hai này, có thể hiện diện trong cuốn "La France en Indochine", nay không còn dấu tích. Nhưng bài viết La France et L'Indochine mà chúng tôi vừa trích dịch một đoạn trên đây, có thể tóm gọn tư tưởng đấu tranh của Nguyễn An Ninh.
Theo Đặng Hữu Thụ, cuốn "La France en Indochine" tháng 4/1925, in 2000 bản tại nhà A et F Debeaufauve Tournefort Paris. Nguyễn An Ninh trao cho Nguyễn Thế Truyền 150 bản. Nguyễn Thế Truyền nhờ các thủy thủ Việt nam đem về phổ biến trong nước. Ngoài ra, sách cũng được gửi tặng một số dân biểu, nghị sĩ Pháp, hội Nhân quyền và báo chí viết về thuộc địa.
Khi đáp tàu về nước ngày 28/5/1925 cùng Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh mang theo một số cuốn. Nhưng Bộ thuộc địa biết, đánh điện về Phủ toàn quyền, và sách đã bị tịch thu khi tàu cập bến. (ĐHT, trang 64).
Một cuốn sách, mang tên Đông dương (1923-1924) được dịch và đưa vào Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, phải chăng, đây chính là tác phẩm La France en Indochine mà Nguyễn An Ninh đã cho in năm 1925?

6. Le procès de la colonisation française (Bản án chế độ thực dân Pháp) và Đông Dương (1923-1924)

"Bản án chế độ thực dân Pháp" có thể được coi là một sáng tác tập thể, mà Nguyễn Thế Truyền làm "chủ biên" và viết lời giới thiệu. Cuốn sách in năm 1925, sau khi Nguyễn Tất Thành đi Nga hai năm. 1946, in lại lần đầu ở Hà Nội.

Trong hồi ký Trần Dân Tiên, viết khoảng 1948, Hồ Chí Minh không nói gì đến cuốn Đông dương (1923-1924), chắc ông không biết có cuốn sách này. Đông Dương cùng bố cục như Bản Án chế độ thực dân Pháp, nhưng lời văn điềm đạm hơn, gần với lối viết của Nguyễn An Ninh và Phan Văn Trường. Điểm chung của hai tác phẩm là cùng dùng những mẩu chuyện, những nhân chứng trong các bài ký tên Nguyễn Ái Quốc. Đông dương nói đến tình trạng ở nước ta, còn Bản Án chế độ thực dân Pháp viết chung cho nhiều dân tộc.

Về "Bản án chế độ thực dân Pháp" Hồ Chí Minh chỉ nói một câu: ""Ông Nguyễn chỉ viết một quyển sách duy nhất là quyển: "Bản án chế độ thực dân Pháp"; quyển này gồm những tài liệu chống thực dân Pháp, trích trong những sách của người Pháp viết để ở thư viện quốc gia". (Trần Dân Tiên, trang 37).
Việc ông cho rằng: "quyển này gồm những tài liệu chống thực dân Pháp, trích trong những sách của người Pháp viết để ở thư viện quốc gia", chứng tỏ ông chưa đọc "Bản án chế độ thực dân Pháp" khi ông viết dòng chữ này, và ông đã vô tình hạ giá tác phẩm: chẳng có cuốn sách nào của người Pháp lại viết về tội ác của một thành phần dân tộc mình, như thế, lưu trong thư viện, để cho ông chép lại.

Theo những tài liệu hiện có, ngòi bút Nguyễn Ái Quốc xuất hiện đều đặn trên các báo từ tháng 8/1919 đến đầu năm 1920: thời gian này chủ yếu là Phan Văn Trường và Nguyễn An Ninh chấp bút. Trong năm 1920, rất ít văn bản, có thể vì Phan Văn Trường bận việc toà án, đi về giữa Paris và Mayence, Nguyễn An Ninh về Sàigòn (2 lần, để cưới vợ và ly dị người vợ đầu) và Nguyễn Thế Truyền về Việt nam một năm (8/1920-8/1921).
Thời điểm tung hoành mạnh mẽ nhất là khoảng 1921-1922, khi cả ba người đều có mặt ở Paris: bút hiệu Nguyễn Ái Quốc xuất hiện trên nhiều tờ báo một lúc. Mùa thu 1922, Nguyễn An Ninh về Sàigòn. Cuối năm 1923, Phan Văn Trường về nước. Còn lại Nguyễn Thế Truyền, một mình, ký cả tên Nguyễn Ái Quốc và tên thật Nguyễn Thế Truyền.

Tóm lại, có thể nói, những bài xuất hiện trên Le Paria và L'humanité, phần lớn là của Nguyễn Thế Truyền; những bài trên Le Libertaire, phần lớn là của Nguyễn An Ninh; những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc sau khi Nguyễn Tất Thành đi Nga, từ 1923 đến 1927, trên Le Paria và trên Inprekorr, báo Nga ấn bản pháp ngữ, cũng của Nguyễn Thế Truyền.

Bản án chế độ thực dân Pháp, được viết và soạn vào khoảng 1923, từ những thông tin, những đoạn, những ý tưởng đã có trong các bài ký tên Nguyễn Ái Quốc và những thông tin khác đến từ các thuộc địa châu Phi. Tác phẩm không chỉ đưa ra bộ mặt lầm than, thống khổ của một dân tộc Việt Nam mà còn của tất cả những người dân da màu khác đang bị đô hộ. Vì vậy nó có tính chất nhân loại. Khó có thể xác định ai là tác giả, vì nội dung cho thấy bàn tay của nhiều người: Nguyễn Thế Truyền, trước tiên, vì ông đã có công soạn thảo, chỉnh đốn, viết tựa. Phan Văn Trường và Nguyễn An Ninh, về mặt luật pháp. Phan Văn Trường về phía công binh. Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền, Phan Văn Trường trên những chân dung toàn quyền và các chính sách dã man của thực dân Pháp trên đất nước ta. Nhưng còn có những đóng góp khác của các nhà văn châu Phi, và thư từ độc giả từ các nơi gửi về...

III- Kết luận

Georges Pompidou, tổng thống Pháp, lúc còn sống có lần khuyên một môn sinh: muốn làm chính trị, phải biết lịch sử. Ông có thể nói: Làm người phải biết lịch sử. Bởi lịch sử một dân tộc, được xây dựng bằng lịch sử của mỗi con người. Và lịch sử nhân loại xây trên nền lịch sử mỗi dân tộc. Nếu lịch sử nhỏ của mỗi cá nhân bị xoá bỏ, bị bôi nhọ, hay bị man trá đi, thì, lịch sử dân tộc ấy sẽ như thế nào? Lịch sử của một người gồm thâu tất cả những hành động thể xác và tinh thần của người ấy trong đời. Nếu ta thấy lịch sử của chính mình bị đánh tráo cho người khác, thì phản ứng của ta ra sao? Vậy sống, không chỉ là tồn tại, mà còn là hình thành và bảo vệ lịch sử của chính mình và của người khác. Vì thế, cần phải biết rõ hành trình sống của dân tộc mình, biết rõ công việc những người đi trước đã làm, tìm hiểu những thành công và thất bại của họ, để rút kinh nghiệm cho tương lai.

Vì thế, không thể để cho lớp trẻ học mãi những điều mạo nhận: Bất cứ một người có suy nghĩ nào, khi đọc cuốn Hồ Chí minh toàn tập cũng phải hồ nghi về xuất xứ các văn bản in trong tập sách nhiều nghìn trang này. Vậy sự vơ vét liều lĩnh các văn bản khác nhau của những người viết khác nhau vào trong một toàn tập của một tác giả mà học sinh phải học như kinh điển, là không thể chấp nhận được.
Bởi giáo dục quần chúng với những "toàn tập" ngụy tạo như thế có khác gì tiêu diệt giáo dục ngay từ đầu. Cho nên, vấn đề tái tạo lại các tác giả, đối với dân tộc Việt nam, là cốt tử. Bởi nền giáo dục của chúng ta cần được xây dựng trên một nền tảng lành mạnh không ngụy tạo.
Dạy cho học sinh sự ngụy tạo lịch sử từ lúc mới đến trường, có khác nào dạy trẻ nói dối từ bé?
Dường như thanh niên ngày nay vẫn còn loay hoay với những khẩu hiệu vô nghiã: nhờ ơn bác, nhờ ơn đảng, vì họ được đào tạo trong một môi trường ngụy tạo lịch sử. Nói như George Orwel: Khi sự ngụy tạo được lập đi lập lại không ngừng, nó sẽ trở thành sự thực vĩnh viễn. Hãy còn kịp, nếu chúng ta muốn viết lại lịch sử của Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường... và bao nhiêu người khác đã hy sinh cuộc đời cho hai chữ tự do, dân chủ. Hãy còn kịp để nói lại với thanh niên ngày nay rằng tên tuổi những nhà cách mạng đích thực ấy sẽ không bị chôn vùi hoặc bức tử mãi mãi, mà bổn phận của tuổi trẻ là phải tìm tòi, để viết lại lịch sử, một lịch sử không ngụy tạo.
Việc nghiên cứu văn bản Nguyễn Ái Quốc, để xác định ai là tác giả, cũng nằm trong chiều hướng đó: Tái tạo sự thật lịch sử để góp phần xây dựng một nền giáo dục chân chính.

Chú thích:
Nhờ những chi tiết, hoặc tư tưởng, hoặc văn phong trong bài, chúng tôi có thể xác định một số bài sau đây là của:
Phan Văn Trường: Tâm địa thực dân, Vấn đề dân bản xứ (L'Humanité 2/8/1919), Những kẻ bại trận ở Đông dương (La vie ouvrière số 101, ngày 8/4/1921), Quyền của những người lính (La vie ouvrière số 105, ngày 7/5/1921), Phong trào cộng sản quốc tế Đông dương (La revue communiste, số 15, tháng 5/1921), Vụ âm mưu ở Đông Dương (17/8/1921)...
Nguyễn An Ninh: Đông dương và Triều tiên (Le populaire, 4/9/1919), Thư gửi ông Outrey (Le populaire, 14/10/1919), Phong trào cách mạng ở Ấn Độ (La revue communiste, số 18-19 tháng 8-9/1921). La civilisation supérieure (Nền văn minh thượng đẳng) (Le Libertaire, 23/9/1921), Tội ác của chủ nghiã thực dân (La vie ouvrière, số 126, ngày 30/9/1921), Sự quái đản của công cuộc khai hoá (Le Libertaire, ngày 30/9 và 7/10/1921). Aimez la France qui vous protège (Hãy yêu Pháp, nước bảo hộ bạn) (Le Libertaire, ngày 14/10/1921)....
Nguyễn Thế Truyền: Zoologie (Thú vật học) (Le Paria số 2, ngày 1/5/1922) Mấy ý nghĩ về vấn đề thuộc địa (L'humanité ngày 25/5/1922), Paris (L'humanité, 30 -31/5/1922), Lời than của bà Trưng Trắc (L'humanité, 24/6/1922), Les cilivisateurs (Những kẻ đi khai hoá) (Le Paria số 4, ngày 1/7/1922), La haine des races (Hận thù chủng tộc) (Le paria số 4, ngày 1/7/1922) 1/7/1922, Lettre ouverte à M. Albert Sarraut (Thư ngỏ gửi ông Albert Sarraut), (Le journal du peuple, 25/7/1922), Khai hoá giết người (Le paria số 5, 1/8/1922), La femme annamite et la dominatinon française (Phụ nữ An nam và sự đô hộ của Pháp) (Le Paria số 5 ngày 1/8/1922), Nhân đạo thực dân (Le paria, số 6-7 (tháng 9 và 10/1922), Le martyre d'Amdouni et Ben Belkhir (Amdouni và Ben Belkhir chịu nhục hình) (Le Paria, số 8, 11/1922), A propos de Siki (Về vụ Siki) (Le Paria, số 9, 12/1922), Indigène à la mode (Le Paria số 10, 15/1/1922)....


Share/Save/Bookmark
Related Posts with Thumbnails