Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoàng Sa - Trường Sa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoàng Sa - Trường Sa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2009

QUẦN ĐẢO HOÀNG SA

Nguồn : Tập san sử địa 29 đặc khảo Hoàng Sa, Trường Sa
HOÀNG XUÂN HÃN


Quần đảo Hoàng Sa là đất của Việt Nam, hoặc nói cho hợp hơn, là đất của Đại-Việt từ khi dân Việt định cự ở phủ tư Nghĩa, tức là đất Quảng Ngãi ngày nay.

Bút chứng cũ nhất và đầy đủ nhất thấy trong sách Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quý Đôn soạn vào năm 1776, với những tư liệu của các Chúa Nguyễn. Sau đó, các sử gia, địa gia đời vua Nguyễn đều dựa theo đó và thêm thắt việc mới vào. Về đồ vẽ, các “bản đồ” và “lộ đồ” đời Lê cũng có ghi một cách sơ sài cái “bãi cát vàng” hoặc “bãi Trường sa” ấy.

Sau đây tôi sẽ trích văn dịch từ bản của Viện sử học Hà Nội xuất bản năm 1964 (Hoàng Lộc dịch, nhà xuất bản Khoa học phát hành). Muốn cho văn dịch rõ nghĩa, tôi có sửa chấm câu và có thêm một vài chữ để trong hai dấu ngoặc.

Trích văn gồm hai đoạn, một ngắn, một dài.

Đoạn đầu, trang 119:

Phủ Quảng Ngãi, ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, có núi gọi là Cù lao ré, rộng hơn 30 dặm. Trước có phường Tứ chinh, dân cư trồng đậu. Ra biển bốn canh thì đến.

“Phía ngoài nữa lại có đảo Đại-tràng-sa. Trước kia có nhiều hải vật và những hóa vật của tàu (bị đắm), (đã) lập đội Hoàng Sa để lấy. Đi ba ngày đêm thì mới đến. (Ấy) là chỗ gần xứ (không đúng ý) Bắc Hải.”

Đoạn sau, trang 123:

“Phủ Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh ở gần biển. Ngoài biển về phía Đông Bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày, hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt.

“Trong đảo có bãi cát vàng dài ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy. Bên đảo có vô số yến sào. Các thứ chim có hàng nghìn hàng vạn, thấy người thì đậu vòng quanh không tránh. Bên bãi vật lạ rất nhiều. Ốc vân thì có ốc tai voi, to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng đầu ngón tay, sắc đục, không như ngọc trai, các vỏ có thể đẽo làm tấm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà. Có ốc xà cừ, để khảm đồ dùng. Lại có ốc hương. Các thứ ốc đều có thể muối và nấu ăn được.

“Đồi mồi thì rất lớn. Có con hải ba, tục gọi là trắng bông (hình) giống đồi mồi mà nhỏ, vỏ mỏng có thể khảm đồ dùng. Trứng bằng đầu ngón tay cái, có thể muối ăn được. Có hải sâm tục gọi là con đột đột, bơi lội ở bên bãi. Lấy về, dùng vôi xát qua, bỏ ruột, phơi khô. Lúc ăn thì ngâm nước cua đồng, cạo sạch đi; nấu với tôm và thịt lợn càng tốt.

“Các thuyền ngoại phiên bị bão thường đậu ở đảo này. Trước, họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào. Cắt phiên, mỗi năm cứ tháng 2, nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng. Đi bằng năm chiếc thguyền câu nhỏ, ra biển ba ngày ba đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy, tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hóa vật của tàu (đắm), như gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ. Đồi mồi, vỏ hải ba, hải

sâm, hạt ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng 8 thì về, vào Cửa Eo đến thành Phú Xuân nộp. Cân và định hạng xong, mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng, trở về. Lượm được nhiều ít không nhất định. Cũng có khi về người không.

“Tôi đã xem sổ của một cai đội cũ là Thuyên Đức Hầu, biên rằng:“Năm Nhâm Ngọ (1762) lượm được 30 hốt bạc (12 ki-lô); Năm Giáp Thân (1764) được 5100 cân thiếc (3 tấn, 24); năm Ất Dậu được 126 hốt bạc; từ năm Kỉ Sửu đến năm Quí tỵ (1769-1773) năm năm ấy, mỗi năm chỉ được mấy tấm đồi mồi, hải ba. Cũng có năm được khối thiếc, bát sứ và hai khẩu súng đồng mà thôi”

“Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tứ chinh ở Bình Thuận (trên kia có phường Tứ chinh ở Cù lao Ré) hoặc người xã Cảnh Dương (ở Quảng Bình?) ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần, đò. Cho đi thuyền câu nhỏ ra xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tàu (đắm) và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm. Cũng sai cai đội Hoàng Sa cai quản. Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, còn vàng bạc, của quí, ít khi

lấy được.

“Hoàng Sa chính gần phủ Liêm châu đảo hải Nam. Người đi thuyền có lúc gặp thuyền đánh cá Bắc Quốc, hỏi nhau ở trong biển.Tôi đã thấy một đạo công văn của quan chánh đường huyện Văn xương (thuộc) Quỳnh châu gửi cho Thguận Hóa nói rằng “Năm Kiên-long thứ 18 (1753), có 10 tên quân nhân xã An Vĩnh, đội Cát liềm, huyện Chương Nghĩa, phủ Quảng Ngãi, nước An Nam, ngày tháng 7 đến Vạn lý Tràng sa tìm kiếm cát thứ. Có 8 tên lên bờ tìm kiếm, chỉ 2 tên giữ thuyền, bị gió đứt dây thuyền, giạt vào Thanh-lan cảng. Quan ở đây xét thật, đưa trả về nguyên quán. Nguyễn Phúc Chu sai cai bạ Thuận Hóa là Thức-lượng hầu làm thư trả lời”” (Hết lời Lê Quý Đôn)

Về vụ cuối này, sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên quyển 10, trang 24 bản khắc của Quốc sử quán, soạn vào đời Minh Mạng có chép sơ lược hơn. Chính văn-dịch như sau:

“Năm Giáp Tuất (1754 chứ không phải 1753) mùa thu tháng 7, dân đội Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi cưỡi thuyền đi quần đảo Hoàng Sa, gặp gióto, giạt vào hải phận Quỳnh Châu thuộc nước Thanh. Quan tổng đốc nước Thanh cấp cho hậu và sai đưa về. Chúa sai viết thư gửi trả lời”

So với lời Lê Quý Đôn , thì cái thời điểm tháng 7 năm Giáp Tuất là lúc trả lời, một năm sau khi thuyền đội Hoàng Sa bị nạn. Trong sách Thất-Lục có thêm chú thích về quần đảo và đội Hoàng Sa. Lời gần như trích ở sách Phủ biên nhưng rút ngắn. Có thêm rằng “tên tục là bãi Vạn lý Tràng-sa”.

Sách Hoàng Việt địa dư chí bản khắc năm 1833, tức là phần Dư địa chí của tập Lịch Triều Hiến Chương loại chí tác giả là Phan Huy Chú, cũng đã lược văn của Lê Quí Đôn mà viết hai mục Bãi Hoàng sa Đội Hoàng sa trong phần viết về phủ Tư Nghĩa (quyển 1 trang 10b).

Các bản đo vẽ đất ta thời Lê (xem phụ trương) tuy rất sơ sài và bất xác, nhưng đã muốn ghi rõ đất Hoàng sa. Những bản đồ ấy chắc cũng có một gốc trước khi Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa, có lẽ từ đời Lê Thánh tông. Nhưng những bản còn lại ngày nay đều có thêm những sự thay đổi sau khi Trịnh-Nguyễn phân tranh, nhất là những dinh lũy của hai họ xây dựng trên đất Nam Nghệ An và Bắc Quảng Bình. Các bản đồ ấy đều vẽ trên bể trước đất Quảng Ngãi một dải đất dài có đề tên hoặc Đại Tràng Sa hoặc bãi cát vàng. (Xem các bản đồ phụ trương). Theo những bản vẽ thì nó ở áp gần các cửa sông Tam kì, sông Trà Khúc, sông Vệ, hình như một bãi cát lớn. Nhưng sự thực thì, như thấy rõ trong các bản đồ ngày nay, trong khoảng bờ bể Việt Nam này không có bãi cát dài như những bãi Tiểu-Tràng-sa và Đại-Tràng-sa dọc các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, và Thừa Thiên. Henri Maspéro có để lại một sách Toản tập Thiên nam lộ đồ (các bản khác có thêm hai chữ Tứ chí nghĩa là đi bốn phương) vẽ năm Cảnh hưng thứ 2, 1741. Trong sách này, bãi cát ấy mang tên Tràng sa và trên hình nó có thêm ba chữ Quá nhất-nhật, nghĩa là đi đến đó phải hơn một ngày. Hình đảo ở xa ngoaì bể. Giữa khoảng bể từ cửa Sa-kì (cửa sông Tam kì) đến bãi Tràng sa có vẽ hình một đảo có núi đề tên Du-tràng sơn (viết lầm ra Chữ Tràng là dài, chính phải viết chữ Trường là xưởng, là nhà…).

G.Dumontier đã vẽ lại trong sách Étude sur un Portulan Annamite du XV siècle một bản đồ tuy cùng gốc với sách nói trên, nhưng có nhiều chi tiết hơn Bức XIX có vẽ bãi cát đề tên Bãi Cát vàng, và đảo Du trường nhưng chữ Trường lại lầm ra chữ Ái vì tự-dạng (trong sách này còn có khá nhiều chữ lầm như vậy: trong bức này, huyện Mộ hoa đã lầm ra Qui hoa vì tự dạng). Đảo Du-trường này chắc là Cù lao Ré ngày nay, thuộc phường An Vĩnh phụ trách việc đội Hoàng Sa, mà tên nôm là cát vàng (theo Tabert thì gọi là Cồn

vàng. Bản Giao Châu chí, cũng của H.Maspero để lại, là do tay tiến sĩ Nguyễn Tông vẽ, có bức đồ Quảng Nam xứ (đời Lê) với hình Bãi cát vàng ở xa ngoài khơi (trang 19b).

Xét các bức đồ ấy, thì ta chắc rằng trong ý địa-đồ-gia xưa, Đại-Tràng-sa hay là Bãi Cát vàng đều trỏ quần đảo Tràng Sa hoặc Hoàng Sa hoặc vạn lý Tràng Sa mà người Âu gọi là parcel hay Paracel. Và trong các địa đồ của Âu châu đang thời khi vẽ vẽ Paracel cũng vẽ như một bãi cát rất dài chắn trước hải phận phần giữa nước ta.

Sách Hồng Đức bản đồ xuất bản ở Sài Gòn năm 1963 cũng chỉ là một toản tập những địa đồ nước ta đến cuối đời Lê. Nhân tiện, xin mách một sự lầm trong sách ấy về tên vị đốc suất Đoan quận-công sai vẽ bản Giáp ngọ niên Bình Nam đồ. Đó không phải là Nguyễn Hoàng như chú thích ở trang 139 đã ghi. Ấy là Bùi Thế Đạt, làm đốc suất coi trấn Nghệ An năm Giáp Ngọ 1774 (Đại Việt Sử kí tục biên). Vậy những bản đồ này vẽ năm ấy. Tuy ở trang 149 có vẽ bãi, trên đề: Đại Tràng sa dĩ hạ, nhưng hình như chỉ muốn nói bờ bể từ cửa sông Thu bồn đến cửa sông Tam kì mà thôi.

Lại có sách Thuận Hóa Quảng Nam địa đồ Nhật trình nối sau bản Giao Châu chỉ. Về bãi Tràng sa, vẽ ở ngoài xã Du Trường (Cù lao Ré), có đề: “Bãi Tràng sa hành nhị nhật. Tam tổng cư thử, đa điền sản”, nghĩa là: đây là bãi Tràng sa, đi hai ngày; ba tổng ở đó, có nhiều vật ở ruộng sinh ra. Hoặc giả phải đọc hải sản thay Điền sản chăng? Còn nói đến ba tổng thì ý ra sao. Hoặc có tổ chức Hoàng sa chia ra làm ba tổng chăng?

Kết luận về các bản đồ trước đời Gia long cho biết rằng “Bãi” Tràng sa, hoặc Cát vàng được coi là phần quan trọng của đất Việt.

Đời Gia long, tháng giêng năm Ất Hợi 1815, sai đội Hoàng Sa là bọn Phạm Quang Ảnh ra đảo hoàng Sa thăm dò đường bể (Đại Nam Thực lụcChính biên đệ nhất kỉ, quyển 50). Ý chừng bấy giờ, thấy các người Tây-dương chiếm các đất chung quanh bể Đông, cho nên triều Nguyễn đã sai đội Hoàng Sa ra đó để biểu thị bản quyền về Việt Nam.

Trong tờ báo của Á-châu hội của người Anh tại xứ Bengale, linh mục Tabert đã có viết bài dài về Việt Nam trong hai số báo, số 6 và số 7. VềHoàng Sa, nguyên văn bằng Anh ngữ như sau:

Pracel or Paracels (Cồn vàng)

Although this kind of archipetago presents nothing but rocks and great depths which promises more inconveniences than advantages, the king Gia Long thought he had increased his dominions by this sorry addition. In 1816, he went with solennity to plant his flag and take formal possession of these rocks, which it is not likely anybody will dispute with him.

(Note on the geography of Cochinchina by the Right Rev, Jean Louis, Bishop of Isauropolis. Vic. Apost. Of Cochin ChinaThe Journal of the Asiatic Society of Bengal, Vol. VI, page 745)

Dịch nghĩa: Pracel hoặc Paracels (Cồn Vàng). Tuy rằng cái thứ quần đảo này không có gì ngoài đá tảng và những cồn lớn nó hứa hẹn nhiều bất tiện hơn lợi, vua gia Long đã nghĩ tăng lãnh thổ bằng cách chiếm thêm cái đất buồn bã này. Năm 1816, ông đã tới long trọng cắm cờ ông và chính thức giữ chủ quyền các hòn đá này, mà hình như không một ai tranh giành với ông.

Trong bài Geography of the Cochinchinese empire đăng trong tập san Journal of the Geographical Society of London, Gutzlaff có` chép khá dài về Hoàng Sa. Nguyên văn như sau:

We should not mention here the Paracels (Katvang) which approach 15-20 leagues to the coast of Annam, and extend between 15-17 N. lat. and 111-113 E. longitude, if the king of Cochinchina did not claim these as his property, and many isles and reefs, so dangerous to navigators. Whether the coral animals or other causes contribute to the growth of these rocks we shall not determine; but merely state that the islets rise every year higherand higher, and some of them are now permanently inhabited, through which the waves, only a few years ago, broke with force. They would be no value if the fisheries were not very productive, and did not remunerate all the perils of the adventurer. From time immemorial, junks in large number fromHaenan, have annually visitted all these shoals, and proceeded in their excursions as far as the coast of Borneo. Though more than ten percent are annually wrecked, the quantity of fish taken is so freat as to ensure all loss, and still leave a very good profit. The Annam government, perveiving the advantages which it might derive if a toll were raised, keeps revenue cutters and a small garrison on the spot to collect the duty on all visitors, and to ensure protection to its own fishermen. A considerable intercourse has thus gradually been established, and promises to grow in importance on account of the abundance of fish which come to these banks to spawn. Some isles bear a stunted vegetation, but fresh water is wanting; and those sailors who neglect to take with them a good supply are often put to great straits.

(vol. the 19th– 1849 – page 93)

Dịch nghĩa:

Đây chúng tôi đáng lẽ không kể đến quần đảo Cát vàng nó ở gần bờ be An-nam 15 đến 20 dặm và lan giữa các vĩ tuyến 15 và 17 độ Bắc, và các kinh tuyến 111 và 113 độ Đông, nếu vua xứ Cochin-China đã không đòi quần đảo ấy là của mình, với nhiều đảo và ghềnh rất nguy hiểm cho người hàng hải. Không biết vì san hô hay vì lẽ khác mà các ghềnh đá ấy lớn dần; nhưng rõ ràng nhận thấy rằng các đảo ấy càng năm càng cao, và một vài cái bây giờ đã có người ở vĩnh viễn, thế mà chỉ mấy năm trước sóng đã vỗ mạnh đập qua. Những đảo ấy đáng lẽ không giá trị nếu nghề chài ở đó không phồn thịnh và không bù hết mọi nguy nan cho kẻ phiêu lưu. Từ lâu đời, những thuyền phần lớn từ Hải Nam tới, đã hằng năm đến thăm các bãi nổi này và tiến hành cuộc viễn du xa xa đến tận bờ đảo Borneo. Tuy rằng hằng năm hơn phần mười bị đắm, nhưng cá đánh được rất nhiều, đến nỗi không những bù hết mọi thiệt thòi, mà còn để lại món lợi rất to. Chính phủ An nam thấy những lợi có thể mang lại nếu một ngạch thuế đã đặt ra, bèn lập ra những trưng thuyền và một trại quân nhỏ ở chỗ này mà mọi người ngoài tới đây đều phải trả, và để bảo trợ người đánh cá bản quốc. Vậy nên, một cuộc giao dịch lớn được dần dà gây nên và có cơ bành trướng nhờ sự có rất nhiều cá tới trên các bãi này đẻ trứng. Một vài đảo có cây cối cằn cỗi, nhưng thiếu nước ngọt; và những thủy thủ nào quên mang theo nước trữ đầy đủ, thường bị lâm vào cơn khốn đốn lớn.

(Trích tập san Á châu hội tại London năm 1849)

J. B. Chaigneau (nguyễn Văn Thắng) đã ghi lại chuyện vua Gia Long khẳng định bản quyền trên quần đảo Hoàng sa, Nguyên văn bằng tiếng Pháp ngữ như sau:

La Cochinchine don’t le sourverain prote aujourd’hui le titre d’empereur, comprend la Cochinchine proprement dite, le Tonquin, uneportion du Royanme de Cambode, quelques isles habitées peu éloignées de la cote et l’archipel de Paracel, composé d’ilots d’écueils et de rochers inhabités.

C’est senlement en 1816, que l’empereur actuel a pris possession de cet archipel.”

(Le mémoire sur la Cochinchine par J. B. Chaigneau)

Bulletin des Amis du Vieux Hué, No 2, 1923, page 257

Lời dịch: Nước Cochinchine mà vua bây giờ lấy hiệu Hoàng đế gồm xứ Cochinchine thật hiệu, xứ Đông kinh, một phần xứ Cao miên, một vài đảo có dân cư không xa bờ bể và quần đảo paracel hợp thành bởi những tiểu đảo, ghềnh, đá không dân cư. Chỉ đến năm 1816, mà Hoàng đế bấy giờ mới lấy chủ quyền trên quần đảo ấy.

Đời minh Mạng, triều đình chú tâm đến Hoàng Sa về phương diện che chở thuyền mành và thủy thủ trong hải phận quần đảo ấy. Thủy thủ tất cả mọi nước khi qua Đông Hải đều rất sợ quần đảo Hoàng Sa. Nhiều tàu bể bị cạn hoặc bị đắm trong vùng ấy. Eugène Chaigneau, cháu điệt Nguyễn Văn Thắng (Jean Baptiste chưởng cơ quản tàu Phi long đời Gia Long) khi sang làm phó lãnh sự ở nước ta năm 1830 đi tàu Saint Michel bị đắm ở đó. Lời y kể (trích từ Le Consulat de France à hué par H. Cordier, trang 127): “Khốn nỗi, tàu này đã đắm ngày mồng 9 tháng 8 năm 1830 trên ghềnh đá thuộc Paracels cách Tourane chừng 80 hải lý (450 km)…”

Tháng 8 năm Quí-tị 1833:

“Vua (Minh Mạng) bảo bộ Công rằng: “Trong hải phận Quảng Ngãi, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một màu, không pâh nbiệt được nông sâu. Gần đây, thuyền buôn thường (mắc cạn) bị hại. Nay nên dự bị thuyền mành, đến sang năm sẽ phái người tới đó dựng miếu lập bia, và trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to lớn xanh tốt, người ta dễ nhận biết, ngõ hầu tránh khỏi được nạn mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời”

(Đ.N.T.L. Chính biên Đệ nhị kỷ quyển 104,

Theo bản dịch nhà xuất bản Khoa học Hà Nội 1965 Tập 13, trang 53)

Tháng ba năm sau 1834:

“Sai giám thành đội trưởng Trương Phúc Sĩ cùng thủy quân hơn 20 người đi thuyền đến đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi vẽ bản đồ. Khi trở về, vua hỏi về những thứ sản vật ở đấy. Sĩ tâu: “Nơi này là bãi cát giữa bể, man mác không bờ, chỉ có người nhà Thanh đi lại đánh cá bắt chim mà thôi”. Nhân đem dâng vua những thứ chim cá, ba ba, ốc, sò, ngao, đã bắt được ở nơi đó, đều là những vật lạ ít thấy.

“Vua vời thị thần đến xem và thưởng những những người đi về, tiền bạc, có khác nhau”

(Sách trên, quyển 122, bản dịch quyển 14, trang 189)

Ý vua Minh-mệnh muốn xây miếu thờ thần bể ở Hoàng Sa phải đợi đến năm sau mới thi hành được. Một sự-ngạc-nhiên là phát giác rằng trước đã có miếu, có bia rồi. Sách ĐNTL chép: về tháng 6 năm Ất Mùi:

“Dựng đền thờ thần 9ở đảo) Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi. Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi, có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh um. Giữa cồn cát có giếng, phía tây nam có miếu cổ, có tấm bài khắc bốn chữ VẠN LÍ BA BÌNH

Chú thích: Cồn Cát trắng chu vi 1070 trượng (5 cây số), tên cũ là núi Phật tự. Bờ đông , tây, nam, đều đá san hô, thoai thoải uốn quanh mặt nước. Phía bắc giáp với một cồn toàn đá san hô sừng sững nổi lên, chu vi 910 trượng (1 cây số rưỡi), cao một trượng ba thước (6,11 mét), ngang với Cồn Cát. Tên gọi là Bàn-than thạch

Năm ngoái, vua toan dựng miếu lập bia ở chỗ ấy, bỗng vì sóng gió không làm được. Đến đây, mới sai cai đội thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính thợ giám-thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình định chuyên chở vật liệu đến dựng miếu, cách toà Miếu cổ 7 trượng (33 mét). Bên tả Miếu, dựng bia đá, phía trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong, rồi về”

(Sách trên quyển 154, bản dịch quyển 16, trang 309)

Sách Đại Nam Nhất thống chí quyển Tỉnh Quảng-nghĩa chép khá dài về đảo Hoàng Sa, đại để lặp lại những chi tiết đã thấy trong Hoàng Việt địa dư chí Đại Nam Thật lục nhưng cũng cho biết thêm một vài điểm: một là Hoàng sa cũng gọi là Hoành-sa, nghĩa là bãi bể chắn ngang; hai là: “Năm Minh mệnh thứ 16 (tức là 1835, xem trên), sai thuyền công chở gạch đá đến đây xây đền, dựng bia đá ở phía tả đền để ghi dấu và tra hột các thứ cây ở bamặt tả, hữu và sau. Binh phu đắp nền miếu đào được lá đồng và gang sắt có đến hơn hai nghìn cân (1,3 tấn)”

(bản dịch Viện Sử học Hà Nội 1970, quyển 2, trang 370)

Về những biến cố liên quan đến quần đảo Hoàng Sa về thời Pháp thuộc và sau vụ đại chiến trang 1939-1945, giáo sư Nguyễn Khắc Kham đã trình khá tường trong bài Lịch sử hai quần đảo Trường sa và Hoàng sa.

Cuối cùng tôi xin mách một bút ký cảm tưởng sợ hãi của thủy thủ Việt đối với Hoàng sa trong khi vượt bể.

Năm 1832, một sai nhân Việt đi tàu sang phi Luật Tân, suýt bị cạn ở Hoàng Sa. Ấy là Lí Văn Phức, một văn nhân rất có tiếng đời Minh Mệnh. Ông đã ghi cảm tưởng kinh khủng khi thấy bóng bãi cát ấy trong bài tựa và bài thơ đề: “Vọng kiến Vạn lí tràng sa tác. Bài tựa rằng:

“Vạn lí Tràng sa là một dải cát trắng từ bể nổi lên, phía tây tiếp dương phận trấn Quảng Ngãi, phía giáp đông dương phận nước Lữ Tống (Lưu xông), phía bắc tiếp dương-phận các tỉnh Quảng đông và Phúc Kiến. Giằng-dặc kéo ngang, không thể lu72ng đo được. Ấy là chỗ rất hiểm đệ nhất có tiếng từ xưa đến nay. Tàu thuyền qua đó, thường thường kiêng dè sự không thấy nó. Ấy vì chân bãi cát ra rất xa. Một khi lầm (đi đụng phải) thì không thể trở lại.

“Ngày 14 tháng 5 năm Nhâm Thìn (1832), thuyền (Định tường) rời khỏi cõi Quảng Ngãi, đã vào hải-phận trấn Bình Định. Trù tính là không lầm, một đường thẳng vo, lấy hướng kim Mão-ất (đông, hơi xế nam) mà tiến. Không dè gió trái, nước xiết, con thuyền không tiến. Thình lình trưa hôm sau, ngóng trông thấy nó. Sắc cát lờ mờ, khắp chân trời đều trắng. Tất cả người trên thuyền, trong lòng bừng bừng, nước mắt rưng rưng. Trên thuyền, ngoảnh hỏi đà-công (người cầm lái). Y là một tay lão luyện Tây dương. Nó nói rằng: lấy thước Đạc thiên (lục phân, sextant) mà đo thì may thuyền chưa phạm vào chân bãi cát, còn chuyển buồm kịp”.

“Bèn lấy hướng kim Dậu (Tây), nhằm Quảng Ngãi mà lùi. May nhờ phúc lớn của triều đình, về đến cửa bể Thái-cần mà tạm đỗ. Cuối cùng không việc gì.”

(Sách Đông hành thi thuyết thảo của Lí Văn Phức)



16
17
18

Share/Save/Bookmark

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2009

Tham luận của Linh mục Thiên Cẩm tại Tọa đàm khoa học Biển Đông và Hải Đảo Việt Nam

Nguồn : X-Cafe
Linh mục Thiên Cẩm
TỪ TRƯỜNG SƠN ĐÔNG TỚI SONG TỬ TÂY

Tôi mới chỉ đi được mấy Km trên đường Hồ Chí Minh, khi từ Đà Nẵng về Kon Tum, thậm chí cũng không biết nơi đó thuộc Trường Sơn Đông hay Trường Sơn Tây, mà chỉ nghĩ đó là Trường Sơn Đông, vì năm bên phía Tây của dãy Trương Sơn. Tuy nhiên điều đó không quan trọng, vì dù sao tôi cũng đã từng đặt chân ở Trường Sơn Tây, cho nên khi đi từ Càng Cát Lai ra quần đảo Trường Sa, đặc biệt là lúc đặt chân lên đảo Song Tử Tây, tôi mới ý thức được rằng mình thật hãnh diện vì đã cảm nghiệm được một cách sống động hiện hữu của đất trời và biển cả Việt Nam : thật bao la xinh đẹp và đáng yêu!

Thật vậy, từ trước tới nay, tôi đã có dịp đặt chân lên nhiều bờ biển Việt Nam, từ Hạ Long qua Thuận An, Đà Nẵng, Quy Nhơn, tới Đại Lãnh, Nha Trang, Khánh Hoà, rồi Phan Rang, Mũi Né, Vũng Tầu… cho tới tận Mũi Cà Mau, nhưng từ những bờ biển đó, tôi vẫn chưa có được một cái nhìn về chiều rộng mênh mông, bát ngát của biển trời Việt Nam. Phải đi ba ngày hai đêm, qua vùng biển, đôi khi không thấy một bóng chim bay hay cá lượn, hoặc một con tầu nào ở đàng xa, mà chỉ có mặt biển mênh mông bát ngát hầu như vô tận, ta mới có cảm tưởng rằng tổ quốc ta không chỉ là sông núi, mà còn là biển cả vô biên. Và khi đặt hân lên hòn đảo nhỏ bé xanh tươi có tên gọi là Song Tử Tây, ta mới ý thức được rằng: Trường Sơn Đông và Song Tử Tây của quần đảo Trường Sa nay, cũng chỉ là một giang sơn, một tổ quốc Việt Nam.

Như tôi đã viết trong bài “Trường Sa trong trái tim ta”, đăng trên Tuần báo CG&DT : “Nhận thức đầu tiên của tôi từ lúc bước chân lên tàu HQ 957, rời bến cảng Cát Lái lúc 8 giờ ngày 8-4-2009, chạy theo hướng Vũng Tàu, và tiến thẳng ra biển khới, đó là : bầu trời và biển khơi mênh mông hầu như vô tận, mà từ trước tới nay tôi vẫn nghĩ là của chung thiên hạ, nhất là xưa kia, người ta vẫn gọi là Mer de Chine : Biển Trung Quốc ! chứ không phải là Biển Việt Nam, hay ít ra là Biển Đông hay Thái Bình Dương ! Nhưng bây giờ thì đã rõ, đây là Trời Việt Nam, đây là Biển Việt Nam, bởi vì vùng biển trời mênh mông này sẽ nối dài tới tận Trường Sa, quần đảo mà chúng tôi đang đi tới.“

Tôi đã kể lại chi tiết cuộc viếng thăm Trường Sa, trong bài báo nói trên, ở đây chỉ xin ghi lại những cảm tưởng vẫn còn lắng sâu trong tâm trí.

Trước hết, nên nhớ rằng huyện đảo Trướng Sa là một quần đảo gồm nhiều đảo lớn nhỏ, mà hiện nay phần lớn năm dưới quyền kiểm soát của Việt Nam, còn những đảo khác do Phi-Luật-Tân, Đài Loan, Trung Quốc…kiểm soát. Gọi là đảo, nhưng phần lớn chỉ là những bãi đá ngầm. Trong số những đảo có đất, chúng ta làm chủ được Song Tử Tây, Sơn Ca, Sinh Tồn Đông, và Trường Sa lớn, nơi đặt trụ sở của huyện đảo. Trên những đảo lớn như Song Tử Tây, Sơn Ca và Trường Sa lớn, nhà cửa được xây kiên cố, khang trang, toàn đảo được che phủ bởi những hàng cây xanh tươi, đặc biệt là những cây Phong Ba, chịu được khô cằn và sóng gió, ngoài ra còn có những cây bàng với những tán lá dầy và rộng, chỉ cần ba cây là có thể tạo ra được một không gian bóng mát rộng rãi. Đặc biệt là ở Sinh Tồn Đông, có loại bàng trái cây vuông, trông lạ mắt. Ông Chủ tịch UBND Thành phố đã lấy một cây về để trồng ở khu tưởng niệm các Vua Hùng tại Thành phố.

Những đảo nhỏ chỉ là những bãi đá ngầm, nổi lên khi thủy triều xuống, chìm xuống khi thủy triều lên. Bộ đội Hải quân ta xây những lô cốt kiên cố làm nơi đóng quân. Trước kia chỉ là những cái chòi được dựng lên, bây giờ là những “nhà lô cốt” vững chắc, đẹp đẽ. Điều thú vị nhất là đâu đâu cũng có những “vườn” rau, giàn bí, hay giàn mướp, tuy nhỏnhững vẫn có trái. Tại những đảo có đất, thì anh em bộ đội dựng những rào chắn bằng vật liệu như lá dừa, để chắn sóng biển, bảo vệ cho rau. Còn ở những nhà lô cốt thì “vườn” rau chỉ là những khay gỗ được đặt ở những vị trí đặc biệt tranh bão gió. Nhưng tôi tự hỏi, ở những “nhà lô cốt” này, mỗi khi hái rau, thì anh em chiến sĩ mỗi người chia nhau được mấy cọng rau muống!

Tôi cũng nghe mấy em bé, con cái những gia đình định cư trên đảo Song Tử Tây và Trường Sa lớn, phàn nàn về chuyện quanh năm suốt tháng chỉ được ăn đồ hộp.

Chính vì thế, trong chuyến đi này, chuẩn Đô đốc Lê Văn Dạo đã ra chỉ thị phải tăng cường những loại thực phẩm như trứng và sữa cho trẻ con.

Nhưng vấn đề thức ăn vật chất không quan trọng bằng thức ăn tinh thần. Các chiến sĩ và bà con ở đảo thiếu những phương tiện giải trí, thiếu cả một khung cảnh sống bình thường trên đất liền ! Không một bóng xe đạp, nói gì đến ô tô hay Honda, cũng không chợ búa, và ở đây người ta không biết cả đến đồng tiền ! Không bóng người người cảnh sá, cũng chằng có người bán hàng rong, hay em bé đánh giầy… Đêm ngày yên tĩnh, không tiếng còi ô tô xe máy. Nhiều nơi không có lấy một con chim sẻ đậu dưới mái hiên hay, nhặt nhạnh trước sân nhà…

Tại những “nhà lô cốt” không gian thật eo hẹp. Các chiến sĩ của ta chỉ có mấy mét vuông để ở, ngoài ra có thể leo lên những tầng trên, chạy xuống những tấng dưới, hay xuống tận những mô đá trên mặt nước biển. Không một bãi cát, hay bóng cây. Ở đây không nghe thấy tiếng cười hay tiếng khóc của trẻ thơ, cũng chẳng thấy bóng dáng một người phụ nữ ! Thảo nào các chiến sĩ trẻ hải quân ở đây chỉ dần được nghe tiếng phụ nữ là đã đủ vui sướng rồi. Có những em bộ đội tuổi mới chỉ mười tám đôi mươi, tuy xa nhà chưa bao lâu, mới tám tháng, một năm hơn kém, chưa thể nào quêu được hình dáng của mẹ, của chị, của em gái, chứ chưa nói tới bạn gái hay người yêu.

Thế giới ở đây có lẽ thích hợp cho các thầy ẩn tu hơn là cho thanh niên, cho dù là bộ đội.

Cô đơn, buồn tẻ, nhưng người chiến sĩ hải quân ở đây không phải là những thanh niên yếu đuối mơ mộng. Họ vẫn là những chiến sĩ, ngày ngày, có thể nói là từng giờ từng phút, luôn luôn phải cảnh giác trước đầu sóng ngọn gió, không chỉ theo nghĩa đen, nghĩa là gió trời và sóng biển, mà là những đe doạ có thật, từ những con tầu, những máy bay lạ có thể xâm phạm bầu trời và lãnh hải Việt Nam. Họ phải đếm từng chiấc máy bay xuất hiện, những con tầu đi qua, cố gắng đọc những ký hiệu để biết nó thuộc quốc gia nào. Đã không thiếu những lần tầu lạ, hay có khi là tầu của một nước “đồng chí nhưng không phải đồng minh”, tìm cách đi vào hải phận của đảo ta, cùng với những tầu đánh cá cùng quốc tịch, khiến chiến sĩ và ngư dân của ta phải tiến ra ngăn cản. Có những chiến sĩ kể lại rằng anh đã phải nghiến răng kìm hãm mình để không bòp cò súng ! Lại có cả những người mò tới những mỏm đá dưới chân “nhà lô cốt” để gọi là bắt ốc, nhưng đuổi không đi, mà phải dọa bằng vũ lực…

Đất nước ta đã được hoà bình, nhân dân ta từ Bắc chí Nam, từ những biên giới phía Bắc cho tới mũi Cà Mau, được yên ổn làm ăn sinh sống. Nhưng ở ngoài khơi xa xôi này, miền cực Đông của Tổ quốc, nơi mà mặt trời từ dưới biển mọc lên soi sáng cho bầu trời Việt Nam, lúc nào cũng có những chiến sĩ canh thức để canh giữ vùng biển trời của đất nước ta. Các chiến sĩ ấy vẫn không ngừng ngày đêm phải sẵn sàng chiến đấu, rất xa đất liền, xa đồng bào, không có hậu phương gần để tiếp cứu, hỗ trợ!

Chúng ta có thể không biết, hay đã quên đi trận chiến đẫm máu xảy ra ngày 4 tháng 3 năm 1988, khi hải quân Trung Quốc đã tấn công đảo Gạc Ma của ta, đánh chìm tàu HQ 604 của ta, khiến 64 chiến sĩ hải quân ta phải hy sinh, và mãi tới năm nay, sau 21 năm trời, nhờ sự cộng tác của các ngư dân, Hải quân ta mới trục vớt được con tàu xấu số và một số hài cốt của các anh hùng nằm sâu dưới đáy biển, nhưng mới chỉ nhận dạng được một số chiến sĩ mà thôi, nhờ kỹ thuật AND.

Kể từ ngày 14 tháng 3 năm 1988 ấy, ngày nay, mỗi khi có phái đoàn đi thăm Trường Sa, thường có tổ chức một lễ truy điệu ngoài khơi đảo Pôlin, để tưởng niệm 64 chiến sĩ trận vong. Phái đoàn của Thành phố Hồ chí Minh ra thăm đảo lần này cũng đã tổ chức long trọng buổi lễ cầu siêu như vậy. Và tôi được vinh dự cùng với các vị lãnh đạo phái đoàn, thả vòng hoa đầu tiên xuống biển để tưởng nhớ các liệt sĩ.

Trong buổi lễ truy điệu rất trang nghiêm cảm động, chuẩn đô đốc Lê Văn Đạo, Phó`Tư lênh Quân chủng Hải Quân, đã đọc một bài diễn văn thật hùng hồn cảm xúc, khiến nhiều người không cầm được mắt. Cả đời tôi, đây là lần đầu tiên được dự một lễ truy điệu như thế này, mà lại là một lễ được cử hành giữa biển khơi mênh mông dưới bầu trời vô biên của Việt Nam. Thật là một kỷ niệm tuyệt vời, khó quên!

Điểm đến cuối cùng của chúng tôi là đảo Trường Sa lớn, thủ phủ của quần đảo Trường sa, có diện tích lớn nhất, và cũng là nơi duy nhất có bến cảng và một đường bay nhỏ. Đây cũng là đảo đầu tiên được thắp sáng bằng điện năng lượng mặt trời và sức gió, do trường Đãi học Bach Khoa Thành phố Hồ chí Minh chế tạo và lắp đặt, tặng cho các chiến sĩ và đồng bào trên đảo. Các đảo khác cũng sẽ lần lần được lắp đặt hệ thống chiếu sáng như vậy.

Trong cuộc hành trình thăm quần đảo Trường Sa, mỗi lẫn tới đảo nào, chúng cũng cố gắng llên bờ thăm các chiến sĩ, nếu không phải tất cả đoàn, thi ít ra là đoàn văn công. Chúng tôi lên để gặp gỡ, tặng quà, giao lưu văn nghệ, thăm nơi an chốn ở, nghe báo cáo về sinh hoạt hàng ngày của các chiến sĩ. Riêng tại đảo Song Tử Tây, đảo đầu tiên mà chúng tôi đặt chân lên bờ, chúng tôi đã ở lại một đêm và một ngày, tiếp xúc với bộ đội và đồng bào. Còn ở đảo Trường Sa lớn, chúng tôi chỉ ở đến 21 giớ đếm thì về tầu, lý do là vì ở đây có bến tầu, không cần đến ca nô làm phương tiện trung chuyển vào bờ như ở những đảo khác.

Trên đây là một vài kỷ niệm và suy tư về cuộc hành trình, mà tôi được may mắn tham dự cùng với phái đoàn của Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân Thành phố Hồ chí Minh, đi thăm và kiểm tra quần đảo Trường Sa, từ ngày 4 đến 15 thàng 4 năm 2009.

Đây là một chuyến đi lịch sử đối với phần đông chúng tôi, một chuyến đi mà như nhiều người đã nói : dù có tiền cũng không dễ đàng thực hiện được, nhất là đối với cá nhân tôi, một linh mục già 76 tuổi.

Chuyến đi này đã đã mở rộng tầm mắt và cả trái tim tôi, khiến tôi cảm nhận được mạnh mẽ và cụ thể vùng trời biển bao la hùng vĩ của đất nước. Không hiểu tại sao, tôi tự nhiên liên tưởng tới Trường Sơn, và nghĩ rằng : đất nước ta trải rộng từ Trường Sơn Đông tới Song Tử Tây, từ Trường Sơn Tây tới Sinh Tồn Đông, nói tóm lại, đất nườc ta không chỉ dừng lại ở bờ biển Thái Bình dương, tại những bờ biển đẹp như Nha Trang, Cam Ranh hay Vũng Tàu… mà còn trải rộng ra xa tới Trường Sa, tới điểm xa nhất cách Thành phố Hồ Chí Minh hơn 500 hải lý, đó là Song Tử Tây. Ở tận địa điểm xa xôi này, ngày đêm vẫn có những người Việt Nam làm ăn sinh sống và canh giữ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc mình. Ở đây không chỉ có những người lính can trường làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, mà còn có những gia đình thường dân tới đây lập nghiệp. Chúng tôi đã gặp gỡ nhừng cặp vợ chồng trẻ với những đứa con thơ của họ. Và như đã nói nơi đây sắp có hai em bé sắp sửa chào đời, để trở thành những công dân Việt Nam sinh ra trên đảo, còn những em lớn thì đã biết ngày ngày cắp sách đến trường, nơi chỉ có một cô giáo dạy tất cả mọi môn. Nhưng sau này, các em sẽ được đưa vào đất liền để tiếp tục học lên những lớp cao hơn.

Ở đây, dân và quân đang biến những vùng đất khô cằn sỏi đá này thành những rừng cây xanh tươi, với những luống rau và đàn gà đàn vịt chạy tung tăng, và cả những con heo ủn ỉn đòi ăn trong chuồng. Nếu không nhìn thấy dòng nước xanh bao bọc chung quanh, người lữ hành vượt biển có cảm tưởng như mình vẫn ở đâu đây trên đất liền.

Tôi lên tàu chỉ với con tim nhỏ bé của mình, chẳng có gì tặng cho các chiến sĩ Truờng Sa, ngoài những món quà mà Đoàn công tác mang tới. Nhưng khi ra về, tôi cảm thấy trái tim mình lớn lên và nặng trĩu tình cảm thân thương, tình cảm của những người lính đảo, của người dân, và nhất là của những em bé thơ ngây. Tình cảm ấy cho dù không lớn lao và mênh mông như trời biển, nhưng vẫn đủ để tạo ra một nhịp cầu liên kết Trường Sa với đất liền.

Trường Sa là những hòn đảo nhỏ bé, không thể có những địa danh như Chi Lăng, Bạch Đằng, Điện Biên, Khe Sanh, hay Ngã Ba Đồng Lộc vv… nhưng nơi đây xương các chiến sĩ đã kết lại với san hô và đá chìm, làm thành nền tảng cho những cột mốc, đánh dấu chủ quyền của Việt Nam dưới bầu trời và vùng biển này của Biển Đông. Và máu của các chiến sĩ đã hoà vào nước biển để ướp cho tình quân dân được mặn mà thắm thiết, và vững bền mãi mãi.

Những địa danh lịch sử thì đã mãi mãi được ghi tên trong sách vở của cả thế giới. Tất cả đã trở thành quá khứ. Nhưng Trường Sa vẫn ngày ngày phải đối diện với đầu sóng ngọn gió, không chỉ theo nghĩa của những hiện tượng thiên nhiên, mà còn theo nghĩa là những đe doạ luôn luôn có thật, đến từ những lực lượng thù nghịch.

Con tàu HQ 957 đưa chúng tôi trở về Thành Phố, trên mặt nước trong xanh phẳng lặng, Những con cá heo lại xuất hiện bên hông tàu, nhảy múa tiễn biệt chúng tôi. Và thật tuyệt vời khi chúng tôi đi tới vùng mỏ Rạng Đông, nơi có những giàn khoan sáng rực như một thành phố trên biển, hiện ra trước mắt chúng tôi, với cả hàng mấy chục thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam vây quanh chúng tôi.

Tổ quốc chúng ta là đây, là trời này, đất này, là những giếng dầu, tàu đánh cá, và những hải đảo như Côn Đảo, Phú Quốc, Cô Tô, Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Tuần Châu, Phú Qúy, vv… và nhất là Trường Sa vẫn ngày đêm phải thức trắng trong những đêm dài cô quạnh, để canh giữ vùng biển và bầu trời của Việt Nam.

Trong tâm trí của tôi, từ nay hình ảnh Trường Sa, và Hoàng Sa nữa, tuy tôi chưa được nhìn thấy, thật là những mảnh đất thiêng liêng của tổ quốc. Hoàng Sa và Trường Sa là nơi mọc trời mọc, Hoàng Liên Sơn hay Trường Sơn là nơi mặt trời lặn. Hoàng Liên Sơn hay Trường Sơn là nơi tổ tiên ta đi săn bắn, hái trái cây rừng và nhặt củi để về thổi nấu, Hoàng Sa và Trường Sa là nơi cha ông ta từ bao đời chèo thuyền ra bắt cá. Quê hương ta không chỉ là sông núi, mà còn là biển cả nữa.

Share/Save/Bookmark

Tham luận của nhà văn Nguyên Ngọc tại buổi Tọa đàm khoa học Biển Đông và Hải Đảo Việt Nam

Nguồn : X-Cafe
Nỗi niềm biển Đông

Mở đầu cuốn Việt Nam văn hóa sử cương, cụ Đào Duy Anh viết: “Khắp một vùng trung châu Bắc Việt, không mẩu đất nào là không có dấu vết thảm đảm kinh dinh của tổ tiên ta để giành quyền sống với vạn vật; suốt một dải Trung Việt vào đến trung châu Nam Việt, không một khúc đường nào là không nhắc lại sự nghiệp gian nan tiến thủ của tổ tiên ta để mở rộng hy vọng cho tương lai”. Thật ngắn gọn, thật súc tích, vị học giả cao kiến đã đúc kết chặt chẽ và cực kỳ chính xác hai chặng đường lớn mấy thiên niên kỷ của dân tộc; và chỉ bằng mấy chữ cô đọng, chỉ ra không thể rõ hơn nữa đặc điểm cơ bản của mỗi chặng, có ý nghĩa không chỉ để nhìn nhận quá khứ, mà còn để suy nghĩ về hôm nay và ngày mai – những suy nghĩ, lạ thay, dường như đang càng ngày càng trở nên nóng bỏng, cấp thiết hơn.

Chặng thứ nhất, tổ tiên ta, từ những rừng núi chật hẹp phía Bắc và Tây Bắc, quyết chí lao xuống chiếm lĩnh hai vùng châu thổ lớn sông Hồng và sông Mã, mênh mông và vô cùng hoang vu, toàn bùn lầy chưa kịp sánh đặc, “thảm đảm kinh dinh để giành quyền sống với vạn vật” – mấy chữ mới thống thiết làm sao – hơn một nghìn năm vật lộn dai dẳng giành giật với sóng nước, với bùn lầy, với bão tố, với thuồng luồng, cá sấu … để từng ngày, từng đêm, từng giờ, vắt khô từng tấc đất, cắm xuống đấy một cây vẹt, một cây mắm, rồi một cây đước, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, trăm năm này qua trăm năm khác, khi đất đã được vắt khô, được rửa mặn và ứng đặc, cắm xuống đấy một cây tạo bóng mát, rồi một cây ăn quả, một cây lúa, một mảnh lúa, rồi một đồng lúa …, tạo nên chỗ đứng chân cho từng con người, từng đôi lứa, từng gia đình, rồi từng cộng đồng, từng xóm mạc, từng làng, từng tổng, từng huyện,… cho đến toàn dân tộc, toàn xã hội, lập nên nửa phần là gốc cội của giang sơn ta ngày nay. Và hẳn còn phải nói thêm điều này nữa, cuộc thảm đạm kinh dinh vật lộn với thiên nhiên ấy lại còn phải cộng thêm cuộc vật lộn cũng dai dẳng, quyết liệt, không hề kém can trường và thông minh, để sáng tạo, định hình và gìn giữ một bản sắc Việt riêng giữa trăm Việt, là một Việt độc đáo và đặc sắc, không bị hòa tan bởi một thế lực hung hãn, khổng lồ, luôn muốn xóa bỏ và hòa tan tất cả…

Hơn một thiên niên kỷ thiết lập và trụ vững, tạo nên nền tảng vững bền, để bước sang chặng thứ hai.

Chặng thứ hai, như cụ Đào Duy Anh đã đúc kết cũng thật ngắn gọn và chính các, “gian nan tiến thủ để mở rộng hy vọng cho tương lai”.

Trên gốc cội ấy rồi, đi về đâu? Chỉ còn một con đường duy nhất: Về Nam.

Có lẽ cũng phải nói rõ điều này: trước hết, khi đã đứng chân được trên châu thổ sông Hồng sông Mã rồi, kháng cự vô cùng dũng cảm và thông minh suốt một nghìn năm để vẫn là một Việt đặc sắc không gì đồng hóa được rồi, thì mối uy hiếp bị thôn tính đến từ phương bắc vẫn thường xuyên và mãi mãi thường trực. Không nối dài được giang sơn cho đến tận Cà Mau và Hà Tiên thì không thể nào Bắc cự. Ở bước đường chiến lược này của dân tộc có cả hai khía cạnh đều hết sức trọng yếu. Khía cạnh thứ nhất: phải tạo được một hậu phương thật sâu thì mới đủ sức và đủ thế linh hoạt để kháng cự với mưu đồ thôn tính thường trực kia. Lịch sử suốt từ Đinh, Lê, Lý, Trần và cả cuộc chiến tuyệt vời của Nguyễn Huệ đã chứng minh càng về sau càng rõ điều đó. Chỉ xin nhắc lại một sự kiện nghe có thể lạ: chỉ vừa chấm dứt được 1.000 năm Bắc thuộc bằng trận đại thắng của Ngô Quyền, thì Lê Hoàn đã có trận đánh sâu về phương Nam đến tận Indrapura tức Đồng Dương, Nam sông Thu Bồn của Quảng Nam. Đủ biết cha ông ta đã tính toán sớm và sâu về vai trò của phương Nam trong thế trận tất yếu phải đứng vững lâu dài của dân tộc trước phương Bắc như thế nào.

Khía cạnh thứ hai vừa gắn chặt với khía cạnh thứ nhất, vừa là một “bước tiến thủ” mới “mở rộng hy vọng cho tương lai”, như cách nói sâu sắc của cụ Đào Duy Anh. Bởi có một triết lý thấu suốt: chỉ có thể giữ bằng cách mở, giữ để mà mở, mở để mà giữ. Phải mở rộng hy vọng cho tương lai thì mới có thể tồn tại. Tồn tại bao giờ cũng có nghĩa là phát triển. Đi về Nam là phát triển. Là mở.

Không chỉ mở đất đai. Càng quan trọng hơn nhiều là mở tầm nhìn. Có thể nói, suốt một thiên niên kỷ trước, do cuộc thảm đảm kinh dinh để giành giật sự sống với vạn vật còn quá vật vã gian nan, mà người Việt chủ yếu mới cắm cúi nhìn xuống đất, giành thêm được một một mẩu đất là thêm được một mẩu sống còn. Bây giờ đã khác. Đã có 1000 năm lịch sử để chuẩn bị, đã có thời gian và vô số thử thách để tạo được một bản lĩnh, đã có trước mặt một không gian thoáng đãng để không chỉ nhìn xa mãi về Nam, mà là nhìn ra bốn hướng. Nhìn ra biển. Phát hiện ra biển, biển một bên và ta một bên, mà lâu nay ta chưa có thể toàn tâm chú ý đến. Hay thay và cũng tuyệt thay, đi về Nam, người Việt lại cũng đồng thời nhìn ra biển, nhận ra biển, nhận ra không gian sống mới, không gian sinh tồn và phát triển mới mênh mông của mình.

Hôm nay tôi được ban tổ chức tọa đàm giao cho đề tài có tên là “nỗi niềm Biển Đông”. Tôi xin nói rằng chính bằng việc đi về Nam, trên con đường đi ngày càng xa về Nam mà trong tâm tình Việt đã có được nỗi niềm biển, nổi niềm Biển Đông. Cũng không phải ngẫu nhiên mà từ đó, nghĩa là từ đầu thiên niên kỷ thứ hai, với nỗi niềm biển ngày càng thấm sâu trong máu Việt, cha ông ta, người dân Việt, và các Nhà nước Việt liên tục, đã rất sớm khẳng định chủ quyền Việt Nam trên các hải đảo và thềm lục địa của chúng ta, như các vị phát biểu trước tôi từ nhiều góc độ khác nhau đã khẳng định một cách thật thuyết phục.

Đi về Nam, chúng ta có một may mắn lịch sử rất lớn: tiếp nhận không gian Champa, chúng ta đã tiếp nhận được rất nhiều của truyền thống và văn hóa Chàm, và cả trước đó nữa, truyền thống và văn hóa Sa Huỳnh. Thậm chí cũng có thể nói, tiếp nhận Champa – sau này cả vùng sông nước Cửu Long rộng giàu – người Việt, quốc gia Việt, đã tự nhân đôi được mình lên, không chỉ về lãnh thổ, mà cả về tính cách, về bản lĩnh, về sức sống và sức phát triển. Champa là một quốc gia biển. Thế giới của chúng ta đã được tạo hóa “thu xếp” một cách tuyệt vời: Biển ngăn cách, nhưng biển cũng là nối liền và chủ yếu là nối liền. Từ rất xa xưa, qua biển lớn, những đoàn thuyền buôn Champa đã từng giong buồm đến những vùng rất xa xôi, không chỉ ở Đông Nam Á, Nam Á, mà cả Trung Đông, Địa Trung Hải, tới cả thế giới A Rập; và cũng đã tiếp nhận thuyền bè đến từ khắp thế giới rộng mở ấy. Hẳn Champa đã tiếp nối và phát triển một truyền thống xa hơn của cư dân văn hóa Sa Huỳnh. Và người Việt đi vào Nam đã nối tiếp truyền thống này. Nếu ở miền Bắc, người đi ra biển trước đây chỉ biết biết dùng những chiếc mảng thô sơ ghép bằng nhiều cây tre, thì đi vào Nam người Việt đã rất nhanh chóng tiếp thu kỹ thuật đóng và sử dụng ghe bầu lớn của người Chàm để đi biển xa (thậm chí, như chúng ta biết, trong trận đánh Thăng Long năm 1789, Nguyễn Huệ đã sử dụng tượng binh gồm voi Bình Định và Gia Lai được chở ra bằng ghe bầu lớn). Nếu ở phía Bắc, ẩm thực nước chấm chủ yếu dùng tương, thì đi vào Nam người Việt đã học được văn hóa nước mắm của người Chàm, là cách chế biến cá hay nhất, hiệu quả nhất …

Chính trên cơ sở tư duy mới rộng mở ấy, đặc biệt trong thời các chúa Nguyễn, tầm nhìn ra biển đã đưa đến một chuyển biến vô cùng quan trọng, thậm chí có thể coi là một bước ngoặt có tính quyết định trong lịch sử Việt Nam: biết nhìn ra biển lớn, tức cũng là biết nhìn ra toàn thế giới – điều mà ngày nay ta gọi là một “tư duy về toàn cầu hóa” – Thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, tức miền Nam đất nước, đã tạo ra được một thay đổi cơ bản về cơ cấu kinh tế, chuyển từ kinh tế thuần nông truyền thống sang cơ cầu kinh tế lấy thương nghiệp làm chính, trong đó ngoại thương giữ vai trò trọng yếu. Nhà nghiên cứu lịch sử Cao Tự Thanh đã có nhận định chính xác và sắc sảo: chính cơ cấu kinh tế mới này đã tạo nên điều mà ông gọi là một “động lực lịch sử” kỳ lạ và kỳ diệu, khiến nếu từ Đèo Ngang đến đèo Ải Vân cha ông ta đã phải đi mất 600 năm, thì từ đèo Ải Vân đến Hà Tiên ta chỉ phải mất có 200 năm, mà lại chỉ đi bằng lưỡi phạng chứ không phải lưỡi kiếm …

Vậy quả thật nỗi niềm biển là nỗi niềm lớn của dân tộc, của mỗi người Việt, nó liên quan mật thiết đến số phận dân tộc, sự tồn vong và phát triển của dân tộc.

Cũng không thể không nói rằng, khi thời các chúa Nguyễn suy tàn, đến thời các vua Nguyễn, thì chính sự phai nhạt tư duy mạnh mẽ về biển, chính sách đóng cửa, là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất đưa đến mất nước.

Bài học: không có tư duy biển, không có tư duy rõ ràng, mạnh mẽ về Biển Đông trực tiếp của ta, phai nhạt nổi niềm ấy là nguy cơ dân tộc.

Như chúng ta biết, năm 1949 Ấn Độ thoát khỏi ách thuộc địa của đế quốc Anh. Có độc lập rồi, chọn con đường phát triển nào đây? Mâhâtma Gandhi, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Ấn, cũng là bậc hiền triết lớn của nhân loại, lúc bấy giờ có đặt ra một câu hỏi, hóa ra sẽ là câu hỏi lớn và lâu dài của thế giới và của từng dân tộc. Ông nói: Nước Anh chỉ là một đảo quốc nhỏ, dân số ít, vì sao đã trở thành một đế quốc giàu có, lớn mạnh đến vậy? Ấy là vì nước Anh đã tiêu xài hết một nửa tài nguyên của trái đất. Vậy bây giờ nếu Ấn Độ với quy mô và dân số khổng lồ như thế này, cũng chọn con đường phát triển như nước Anh, thì liệu phải có bao nhiêu trái đất mới đủ? …

Đúng 60 năm qua từ câu hỏi hiền minh mà cháy bỏng của thánh Gandhi, ngày nay các khoa học đã có thể tính toán và trả lời chính xác: Ấn Độ sẽ cần có 5 trái đất chỉ để riêng cho mình nếu đi theo con đường phát triển mà nước Anh đã đi.

Chúng ta chỉ có một trái đất. Tiêu xài tài nguyên của tạo hóa ban cho trên trái đất duy nhất này như thế nào đây là vấn đề sống còn của nhân loại.

Chắc chắn mỗi chúng ta đều biết có một đất nước còn khổng lồ hơn cả Ấn Độ đang lao vào cuộc chạy đua ghê gớm để tiến lên đoạt vị trí hàng đầu thế giới. Và đang đi theo con đường của Anh, ráo riết làm chủ tài nguyên khắp thế giới cho tham vọng của mình, thậm chí, như chúng ta có thể thấy, đang và sẽ tiêu xài tặng vật của tạo hóa một cách dữ dội, hoang dã hơn nhiều so với các đế quốc trước. Tôi nghĩ cần nói rõ rằng quả thật có một hiểm họa toàn cầu đang hình thành.

Nói về nỗi niềm biển, nổi niềm Biển Đông, tất không thể không suy nghĩ về điều đó. Biển là tài nguyên, biển cũng là giao thông huyết mạch để vận chuyển tài nguyên. Biển Đông, trong đó có phần chủ quyền thiêng liêng của chúng ta, được truyền lại từ bao nghìn năm “thảm đạm kinh dinh” và “gian nan tiến thủ” của cha ông, đang đứng trước thách thức về cả mặt tài nguyên lẫn đường giao thương tài nguyên ấy. Nỗi niềm Biển Đông của chúng ta, mỗi chúng ta, trước hết là nhận thức cho rõ ràng, thống thiết, quyết liệt về thách thức đó. Và từ đó, hành động.

Kinh nghiệm lịch sử xa và gần cho thấy trong cuộc đấu tranh này cũng vẫn phải là huy động và phát huy cho được hai lực lượng đồng bộ: sức mạnh của nhân dân – như hàng ngàn ngư dân Quảng Ngãi vẫn đang kiên cường ra khơi bất chấp hành động cướp biển của ai kia, và hàng vạn ngư dân Nam Bắc cứ hiên ngang ra khơi. Không ai đánh bại được hàng vạn người ra khơi hòa bình trên biển ngàn đời của mình. Cả nước phải cùng đứng sau lưng những ngư dân anh hùng ấy. Họ đang ở tuyến đầu hôm nay.

Mặt khác nhất quyết đa phương về Biển Đông. Chúng ta đã thắng trong chiến tranh vừa qua vì biết đa phương, biết huy động sức mạnh của nhân dân toàn thế giới bằng chính nghĩa của chúng ta. Cuộc đấu tranh mới này cũng vậy. Không thể thắng một mình.

Nỗi niềm Biển Đông là tâm huyết, và cả sự thông minh nữa, đều vì sự sống còn và phát triển của dân tộc.

Share/Save/Bookmark

Tham luận của TS Nguyễn Nhã tại buổi Tọa đàm khoa học Biển Đông và Hải Đảo Việt Nam

Nguồn : X-Cafe
THỦY QUÂN NHÀ NGUYỄN BẮT ĐẦU NĂM 1816 ĐI CẮM CỘT MỐC, DỰNG BIA CHỦ QUYỀN TẠI HOÀNG SA & TRƯỜNG SA THEO PHƯƠNG CÁCH PHƯƠNG TÂY

(Việt Nam luôn có bằng chứng lịch sử cụ thể, không mơ hồ mang tình suy diễn như các nước khác)

Hãn Nguyên Nguyễn Nhã, Tiến sĩ sử học

Từ thời các chúa Nguyễn, đầu thế kỷ XVII, khai thác Biển Đông, kinh tế biển, bảo vệ Biển Đông đã được các chính quyền thời ấy rất quan tâm.

Các đội khai thác Biển Đông như đội Hoàng Sa, đội Quế Hương, đội Đại Mạo Hải Ba, đội Quế Hương Hàm với nhiệm vụ kinh tế và sẵn sàng ứng chiến với kẻ xâm phạm Biển đảo.

Các người phục vụ các đội đều gọi là quân nhân – Đội dân binh.

Riêng đội Hoàng Sa đứng đầu là cai đội hay đội trưởng lại thường là kiêm cai thủ cửa biển Sa Kì cũng như kiêm quản cai cơ thủ ngự.

Chức quan cai cơ thủ ngự phụ trách thu thuế, an ninh trên biển, chống hải tặc, cướp biển.

Như thế việc khai thác kinh tế biển luôn kết hợp với nghĩa vụ quân sự, chống cướp biển, bảo vệ Biển Đông. Sự kết hợp này do các chúa Nguyễn chủ trương từ lâu khi ở đất liền xây dựng loại lính đồn điền, khẩn hoang, tay cầm gươm, tay cầm cuốc đi mở cõi và cũng từ lâu các chính quyền Đại Việt có chính sách “ngụ binh ư nông”.

I. VUA GIA LONG TIẾP TỤC CHO DÂN BINH KHAI THÁC BIỂN ĐÔNG

Tháng 7 năm Quý hợi ( 1803), vua Gia Long đã cho lập lại đội Hoàng Sa.

Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhất kỷ, q. 12 viết: “ Lấy Cai cơ Võ Văn Phú làm Thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm đội Hoàng Sa”.

Các quan thủ ngự các cửa biển như cửa biển Sa Kỳ kết hợp với đội Hoàng Sa vẫn giữ nhiệm vụ chống hải tặc như truớc.

II. NĂM 1816, GIA LONG LẦN ĐẦU TIÊN CHO THỦY QUÂN CÙNG VỚI ĐỘI HOÀNG SA CÙNG ĐI XEM XÉT VÀ ĐO ĐẠC THỦY TRÌNH Ở HOÀNG SA – (ĐNTLCB, ĐỆ NHẤT KỶ, Q.52)

Trước khi lên ngôi hoàng đế 1802, Nguyễn Ánh cũng đã được anh em Dayot giúp đo đạc hải trình ở Biển Đông trong đó có vùng quần đảo Trường Sa hay Hòang Sa nói chung.

Tháng giêng, năm Ất Hợi (1815), Phạm Quang Anh, thuộc đội Hoàng Sa được lệnh ra đảo Hoàng Sa xem xét đo đạc thủy trình. Phạm Quang Ảnh hiện được thờ tại từ đường tộc họ Phạm (Quang) tại thôn Đông, xã Lý Vĩnh, xưa là phường hay hộ An Vĩnh tại huyện đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré).

Theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhất kỷ, quyển 52, từ năm 1816 vua Gia Long đã bắt đầu cho thủy binh đi công tác Hoàng Sa cùng với đội dân binh Hoàng Sa ở Quảng Ngãi đi ra Hoàng Sa xem xét và đo đạc thủy trình.

Dân phu cùng đi chính là những dân phu giỏi hải trình đi Hoàng Sa. Sở dĩ vua Gia Long bắt đầu cho thuỷ binh đi Hoàng Sa vì có các sĩ quan người Phương Tây trong thời chiến tranh với Tây Sơn rất quan tâm đến vấn đề quản lý Biển Đông.

Những người Pháp cộng tác với vua Gia Long, Minh Mạng như Chaigneau, giám mục Taberd đã viết rất rõ về những hành động của vua Gia Long như Chaigneau đã viết trong hồi ký “Le mémoire sur la Cochichine" “Chỉ đến năm 1816, đương kim hoàng đế đã chiếm hữu quần đảo ấy” hay giám mục Taberd viết: “Chính là vào năm 1816 mà Ngài (vua Gia long) đã long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong. Gutzlaff năm 1849 đã cho biết chính quyền Việt Nam thời Gia Long đã thiết lập một trại quân nhỏ để thu thuế và bảo trợ người đánh cá Việt Nam”.

Chính hoạt động lần đầu tiên của thủy quân này đã đánh dấu mốc thời gian rất quan trọng về việc tái xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, nên đã khiến cho những người Phương Tây như Chaigneau hay sau này là Taberd khẳng định vua Gia Long đã chính thức xác lập chủ quyền của mình như đã nói trên. Thực ra sự kiện năm 1816 chỉ đánh mốc là Hoàng Đế Gia Long sử dụng thủy quân thay vì chỉ có đội Hoàng Sa xem xét, đo đạc thủy trình , khai thác hải vật như trước.

Sang thời Nhà Nguyễn, nhất là từ thời Minh Mạng, thủy quân hàng năm liên tục đã thành lệ đều đặn ra Hoàng Sa, Trường Sa đi vãng thám, đo đạc thủy trình, cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền, và các hoạt động khác trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa…

III. CÁC HỌAT ĐỘNG CỦA THỦY QUÂN TRIỀU ĐÌNH VIỆT NAM THỰC THI LIÊN TỤC VÀ HÒA BÌNH Ở QUẦN ĐẢO HOÀNG SA & TRƯỜNG SA

3.1 - Các hoạt động đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ về Trường Sa

Sang đến đời Minh Mạng, việc đo đạc thủy trình chủ yếu giao cho thủy quân có trách nhiệm và thuê thuyền của dân và người lái thuyền ở Quảng Ngăi hướng dẫn hải trình.

Đại Nam Thực Lục Chinh Biên, đệ nhị kỷ, quyển 165 : “Xem từ năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chọn phái thủy quân biền binh và giám thành đáp một chiếc thuyền ô nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, giao cho 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn ra xứ Hoàng Sa”.

Thời gian đi vãng thám đo đạc ở Hoàng Sa nói chung, Trường Sa nói riêng thì bắt đầu triều Nguyễn theo lệ khởi đi vào mùa Xuân, (kể từ kinh thành Huế đến Quảng Ngãi), song cũng tùy năm sớm trễ khác nhau. Từ kinh thành Huế, thuỷ quân tới Quảng Ngãi nghỉ ngơi và chuẩn bị cũng mất một thời gian đáng kể. Như năm Minh Mạng 19 (1838) lúc đầu ấn định khởi hành hạ tuần tháng 3, nhưng vì gió Đông nổi lên liên tục kèm theo mưa lớn, tới hạ tuần tháng 4 vẫn chưa khởi hành được . Lúc đầu kế hoạch tính đo đạc giáp vòng Hoàng Sa từ hạ tuần tháng 3 đến hạ tuần tháng 6 là hoàn tất công việc. Sau dù có đi trễ, thời gian hoàn tất tháng 6 vẫn không thay đổi.

Nhiệm vụ đo đạc ở Hoàng Sa nói chung, Trường Sa nói riêng được qui định cũng rất rõ ràng có ghi trong Đại Nam Thực Lục Chính Biên đệ nhị kỷ quyển 165 cũng như Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ , quyển 221 như sau:

“Không cứ đảo nào, cửa bể nào thuyền chạy đến, sẽ đo nơi ấy chiều dài, chiều ngang, bề cao, bề rộng, chu vi bao nhiêu, rà bên bờ nước bể nông hay sâu. Có cát ngầm, đá mỏm hay không, ở tình thế hiểm trở hay bình thường, xem đo tỏ tường vẽ thành đồ bản, chiếu khi khởi hành, do cửa bể nào ra bể, trông phương hướng nào mà lái đến nơi ấy, cứ theo đường thủy đã đi khấu tính ước được bao nhiêu dặm đường? lại ở chốn ấy trông vào bờ bể đối thẳng là tỉnh hạt nào? và phương hướng nào? Ước lượng cách bờ bao nhiêu dặm đường? Ghi nói minh bạch trong hoạ đồ để về trình lên. Lại từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chiếu theo lệ ấy mà làm”.

Việc đo đạc để vẽ bản đồ về Hoàng Sa nói chung, Truờng Sa nói riêng dưới triều Nguyễn đã được bắt đầu từ thời Gia Long 14 (1815), song đến đời Minh Mạng mới được thúc đẩy mạnh. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835) các viên giám thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Văn Hoàng vẽ hoạ đồ Hoàng Sa nói chung, Trường Sa nói riêng, chưa chu tất đã bị phạt mỗi người 80 trượng như đã nêu trên. Tấu của Bộ Công vào năm Minh Mạng thứ 17 (1836) cũng chỉ vẽ được một nơi và cũng chưa biết rõ nên làm thế nào.

Theo dụ vua Minh Mạng ngày 13 tháng 7 năm thứ 18 (1837), thủy quân đi Hoàng Sa vẽ thành đồ bản 11 nơi, tuy nhiên chưa được chu đáo lắm. Theo Tấu Bộ Công ngày 21 tháng 6 Minh Mạng thứ 19 (1838), thủy quân đệ trình sau khi đo đạc 3 nơi với 12 hòn đảo đã vẽ được 4 bức đồ bản, 3 bức vẽ riêng và 1 bức vẽ chung , song cũng chưa vẽ rõ ràng lắm , Bộ Công phải yêu cầu vẽ lại tinh vi hơn.

3.2 - Các hoạt động cắm cột mốc, bia chủ quyền để xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ đầu thế kỷ XIX.

Cũng chính vua Minh Mạng ra chỉ dụ nói rõ việc làm cụ thể của từng chuyến đi. Tỷ như năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ Công tâu trình lên vua về chuyến vãng thám Hoàng Sa của thủy quân, chính đội trưởng Phạm Hữu Nhật, vua Minh Mạng phê sửa (châu cải) : “Báo gấp cho Quảng Ngãi thực thụ ngay, giao cho tên ấy (Phạm Hữu Nhật) nhận biên" và rồi vua Minh Mạng lại phê (châu phê): “Thuyền nào đi đến đâu, cắm mốc tới đó để lưu dấu”.

Thời gian chuẩn bị, từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836) Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển 154 có ghi rõ: “Xem từ năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chọn phái thủy quân biền binh và giám thành đáp 1 chiếc thuyền ô, nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, giao cho 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn ra xứ Hoàng Sa”. Như thời gian hàng năm chuẩn bị từ hạ tuần tháng giêng (tháng 2 dương lịch) đến thượng tuần tháng hai (tháng 3 dương lịch) thì có mặt ở Quảng Ngãi, để sang tháng 3 âm lịch (tháng 4 dương lịch) là lúc biển yên nhất thì khởi hành đi Hoàng Sa.

Đến đời vua Minh Mạng, thuỷ quân mới được tổ chức thật qui củ có nhiệm vụ ngoài việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ còn có cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển 6 đã ghi chép rằng trước năm Minh Mạng thứ 16, nhà vua sai quân lính ra dựng bia đá làm dấu đã thấy có nơi phía Tây Nam đảo có ngôi cổ miếu, không biết kiến thiết vào thời đại nào và có bia khắc bốn chữ “Vạn Lý Ba Bình”. Như thế trước thời Minh Mạng đã có việc khắc bia, dựng miếu chùa rồi.

Đến năm Minh Mạng thứ 14 (1833), vua Minh Mạng đã chỉ thị cho Bộ Công sang năm Minh Mạng thứ 15 (1834) phái người ra dựng bia chủ quyền . Đại Nam Thực Lục Chính Biên đệ nhị kỷ, quyển 165 cũng đã chép rất rõ từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ công tâu vua cứ hằng năm cử người ra Hoàng Sa ngoài việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ và còn cắm cột mốc, dựng bia.

Tập tấu của Bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng 17 (1836) với lời châu phê của vua Minh Mạng cũng đã nêu rất rõ: “Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4, 5 thước, rộng 5 tấc". Đại Nam Thực Lục Chinh Biên, đệ nhị kỷ, quyển 6 còn ghi rõ : “Vua Minh Mạng đã y theo lời tâu của Bộ Công sai suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi, đem theo 10 cái bài gỗ dựng làm dấu mốc. Mội bài gỗ dài 5 thước rộng 6 tấc và dày 1 tấc, mặt bài khắc những chữ:

Minh Mạng Thập Thất Niên Bính Thân thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phâm Hữu Nhật phụng mệnh vãng Hoàng Sa tương đồ chí thử, hữu chí đẳng tư (tờ 25b)”.

(Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh ra Hoàng Sa xem xét đo đạc, đến đây lưu dấu để ghi nhớ).

3.3 - Xây dựng chùa miếu và trồng cây tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Các vị vua chúa Việt Nam, nhất là thời vua Minh Mạng rất quan tâm đến việc dựng chùa miếu và trồng cây tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), vua đã chuẩn y lời tâu của Bộ Công cho tỉnh Quảng Ngãi cất miếu Hoàng Sa một gian theo thể chế nhà đá. Việc dựng miếu này theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên đệ nhị kỷ, quyển 154, đã cho biết rõ năm Minh Mạng thứ 15 (1834) đã không thực hiện việc xây dựng miếu như dự kiến mà đến mãi đầu tháng 6 mùa hạ, năm Minh Mạng thứ 16 (1835), vua Minh Mạng đã cử cai đội thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính và giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định chuyên chở vật liệu đến dựng miếu cách toà miếu cổ 7 trượng. Bên trái miếu, phía trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong việc chớ không như các đoàn khác có nhiệm vụ lâu dài hơn.

Thường ba mặt miếu Hoàng Sa bên trái, bên phải và đằng sau đều trồng các loại cây. Theo Việt Sử Cương Giám Khảo Lược của Nguyễn Thông, thì các quân nhân đến đảo thường đem những hạt quả thủy nam mà rải ở trong và ngoài miếu, mong cho mọc cây để tìm dấu mà nhận. Như thế cây trồng ở Hoàng Sa chủ yếu trồng bằng cách gieo hạt, quả chứ không trồng theo kiểu trồng loại cây con. Đó cũng hợp lý vì mang cây con ra biển đi trên thuyền nhỏ như thế cũng khó khăn, khó bảo dưỡng được cây sống để mà trồng. Thời gian hoạt động hàng năm của thủy quân vào cuối mùa khô, kéo dài sang mùa mưa nhiều tháng trời, rất thuận lợi cho việc gieo hạt trồng cây. Ý của vua Minh Mạng sai trồng cây cũng cho rằng gần đây thuyền buôn thường bị hại, nên trồng cây cũng cốt làm dấu dễ nhận ra đảo mà tránh thuyền bị tai nạn đâm vào đảo.

Song theo Dụ ngày 18 tháng 7 năm Minh Mạng thứ 16(1835), Vua Minh Mạng giao Bộ Công phạt cai đội Hoàng Sa Phạm Văn Nguyên và thưởng dân binh V văn Hùng, Phạm văn Sanh. Như thế có nghĩa có thể năm 1835 hay chính năm 1834 thủy binh đi Hoàng Sa có dân binh và cai đội Hoàng Sa đi cùng. Và như thế từ năm 1816 đến năm 1835 vẫn cịn sự kết hợp giữa thủy binh v dn binh đội Hoàng Sa phối hợp hoạt động.

IV. SỰ KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN HOÀNG SA – TRƯỜNG SA CỦA VUA CHÚA, TRÌNH ĐÌNH VIỆT NAM VÀ QUẢN LÝ HÀNH CHÁNH CỦA VIỆT NAM

4.1 - Sự khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của vua chúa, triều đình Việt Nam

Trong khi tại Trung Quốc chưa có tài liệu nào nói rõ vua, triều đình Trung Quốc khẳng định chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa, thì tài liệu chính sử của Việt Nam cho thấy vua và triều đình Việt Nam đã nhiều lần khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc lãnh hải Việt Nam.

Các tài liệu chính thức của nhà nước Việt Nam, của triều đình Việt Nam như Đại Nam Thực Lục Chinh Biên, Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, Châu Bản Triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí đã ghi nhận rất rõ ràng rằng hoàng đế Việt Nam, triều đình Việt Nam luôn khẳng định Hoàng Sa nói chung, Trường Sa nói riêng thuộc về cương vực mặt biển Việt Nam.

Tỷ như năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mạng thứ 17 (1836) (năm Đạo Quang thứ 16 đời Nhà Thanh) Bộ Công tâu lên vua: “Xứ Hoàng Sa thuộc cương vực mặt biển nước ta rất là hiểm yếu (Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển 165). Ngày 20 tháng 12 năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) phúc tấu của Bộ Công cũng đã khẳng định: “Hàng năm, vào mùa xuân, theo lệ phái binh thuyền vãng thám Hoàng Sa thuộc hải cương nước nhà...” (tập Châu Bản Thiệu Trị tập 51, trang 235).

Sách Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc Sử Quán triều Nguyễn cũng đã chép _oat cách rõ ràng: “Phía Đông (tỉnh Quảng Ngãi) chạy ngang đến đảo cát :đảo Hoàng Sa, liền với biển xanh …”

4.2 - Việc quản lý hành chánh của các chính quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Trong suốt thời chúa Nguyễn, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một, luôn được quản lý hành chánh bởi Thừa Tuyên Quảng Nam dưới danh nghĩa Nhà Lê hay Quảng Nghĩa hay Ngãi lúc là phủ, khi là trấn trong thực tế tự trị của Xứ Đàng Trong, tùy theo thời kỳ lịch sử. Bởi từ khi Nguyễn Hoàng trở lại trấn thủ Thuận Quảng (năm 1600) cho tới khi chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) xưng vương năm 1744, trên danh nghĩa chúa Nguyễn vẫn là quan trấn thủ Thừa tuyên Quảng Nam của Đại Việt, do vua Lê trị vì.

Như thế mọi hành động xác lập chủ quyền của các chúa Nguyễn vẫn dưới danh nghĩa nước Đại Việt. Như thế, trên thực tế tự trị trên, Phủ Quảng Nghĩa có huyện Bình Sơn (trước đó là huyện Bình Dương) quản lý xã An Vĩnh. Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hay Toản Tập An Nam Lộ đã ghi "Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa) trong phủ Quảng Nghĩa". Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn chép "Hoàng Sa ở phủ Quảng Nghĩa (thuộc dinh Quảng Nam) huyện Bình Sơn, xã An Vĩnh “Địa Dư Chí của Phan Huy Chú chép "Hoàng Sa ở trấn Quảng Nghĩa". Sang thời Tây Sơn từ 1773, phủ Quảng Nghĩa được đặt tên thành phủ Hoà Nghĩa.

Sang thời Nhà Nguyễn, năm 1801, Hoà Nghĩa đã được gọi lại với tên Quảng Nghĩa, (cùng nghĩa với Ngãi đọc chệch). Tại phủ Quảng Nghĩa ngoài viên tuần phủ, khánh lý còn có một viên chính hộ lý, một viên đề lãnh, một viên ký lục, một viên cai phủ và một viên thư ký.

Sau Quảng Nghĩa trở thành trấn, rồi tỉnh. Năm 1829, tiếp tục quản lý xã An Vĩnh. Dần dần xã An Hải phía Bắc cửa biển Sa Kỳ cũng cung cấp lính Hoàng Sa. Dân hai làng hay xã An Vĩnh, An Hải di dân ra Cù Lao Ré lập 2 phường An Vĩnh và An Hải mà Nguyễn Thông gọi là hai hộ An Vĩnh, An Hải. Đến đầu triều Nguyễn, khi dân hai phường Cù Lao Ré phát triển, xin tách khỏi hai làng cũ ở đất liền trở thành nơi cung cấp chính dân binh cho đội Hoàng Sa. Chính Phạm Quang Anh được cử làm đội trưởng đội Hoàng Sa năm 1815 là người thôn An Vĩnh ở đảo Cù Lao Ré, nay thuộc thôn Đông, xã Lý Vĩnh thuộc huyện đảo Lý Sơn. Nhiều tài liệu như Việt Sử Cương Giám Khảo Lược của Nguyễn Thông và Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn đã xác nhận đảo Hoàng Sa nói chung, Trường Sa nói riêng thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Hoàng Sa là nơi hiểm yếu và rộng lớn, nên phủ rồi trấn rồi tỉnh Quảng Nghĩa là đơn vị hành chánh luôn trực tiếp can thiệp vào những hoạt động có định kỳ hàng năm của đội dân binh Hoàng Sa để có phương tiện tốt và đảm bảo những yêu cầu của chính quyền trung ương ở Phú Xuân gọi là chính dinh, thủ phủ của xứ Đàng Trong hay kinh đô của Triều Nguyễn sau này.

Hiện nay chưa có bằng chứng nào quyền quản hạt hành chánh của Trường Sa được giao về cho Bình Thuận hoặc Gia Định - Đồng Nai, mặc dù Bình Thuận có nhiệm vụ cung cấp nhân sự cho Đội Bắc Hải, cũng giống như các nơi khác như Bình Định vẫn cung ứng nhân sự cho Đội Hòang Sa. Vùng bờ biển Quảng Ngãi nhô ra Biển Đông xa nhất lại có dân Cù Lao Ré rất giỏi đi biển; cửa biển Sa kỳ ở Quảng Ngãi luôn được bố trí chức quan lớn như chức “Khâm sai cai thủ” kiêm kiêm chức thủ ngự và kiêm quản đội Hoàng Sa. Đó cũng cách quản lý Biển Đông hiệu quả cuả thời bấy giờ của Chúa Nguyễn cũng như của Nhà Nguyễn.

V. KẾT LUẬN

Như thế suốt hơn hai thế kỷ, từ đầu thế kỷ XVII thời các chúa Nguyễn đến nửa đầu thế kỷ XIX thời Nhà Nguyễn, đội dân binh Hoàng Sa kiêm quản đội Bắc Hải đã làm nhiệm vụ khai thác biển, quản lý biển đảo Biển Đông.

Từ năm 1816 thuỷ quân được giao nhiệm vụ xác lập và thực thi chủ quyền theo phương cách Phương Tây, đúng theo pháp lý quốc tế thời đó.

Thời nào cũng vậy, Việt Nam luôn tuân thủ pháp lý quốc tế về xác lập và thực thi chủ quyền về biển đảo và có đầy đủ chứng cứ lịch sử từ chính sử chép cụ thể đến các văn bản nhà nước như Châu bản của Triều đình nhà Nguyễn cũng như các văn bản chính quyền địa phương như tờ lệnh, tờ tư, tờ bằng cấp như mới phát hiện ở huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Điều này không hề có ở các nước khác trước năm 1909 khi chính quyền Quảng Đông (Trung Quốc) bắt đầu tranh chấp khi ấy Việt nam bi mất chủ quyền, bị Pháp cai trị và khi đó Chính quyền Quảng Đông cho Hoàng Sa là đất vô chủ. Mọi bằng chứng sau này đưa ra đều vô căn cứ, hoặc suy diễn hoặc bày đặt không có thực.

Quan điểm chủ yếu của những nhà nghiên cứu Việt Nam về vấn đề chủ quyền tại Hoàng Sa & Trường Sa là Việt Nam đã chiếm hữu thật sự, hoà bình và liên tục. Chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo ấy là không có gì để tranh cãi.

Cảm ơn quý vị!

Share/Save/Bookmark

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2009

Tọa đàm “Biển Đông và hải đảo Việt Nam” đã… diễn ra!

Nguồn : Bauxite Việt Nam

"Chúng ta đang ở trong giai đoạn rất khó khăn và nguy hiểm của lịch sử. Chính vì vậy, để vượt qua giai đoạn sinh tử này, cần sự đồng thuận của cả dân tộc để đối phó với nguy cơ đến từ nơi khác. Đặc biệt, cần nâng cao nội lực khi mà chúng ta đang quá thiếu những chuyên viên, luật sư chuyên ngành về luật pháp quốc tế và làm sao để vận dụng được lớp trí thức hải ngoại. Đồng thời, xây dựng lực lượng trẻ kế thừa trong công cuộc đấu tranh mà chúng ta biết có thể sẽ còn kéo dài hàng chục năm, hàng trăm năm nữa”

LM Nguyễn Thái Hợp

Tọa đàm “Biển Đông và hải đảo Việt Nam” đã… diễn ra!


Quả đúng như vậy, khi đặt tít cho bài tường thuật… muộn này, chúng tôi muốn chuyển đến bạn đọc một “hiện thực khách quan”: cuối cùng, thì Tọa đàm khoa học “Biển Đông và hải đảo Việt Nam” do CLB trí thức Công giáo Phaolô Nguyễn Văn Bình (P.NVB) và NXB Tri Thức phối hợp thực hiện cũng đã được (phép) diễn ra và tạo ra những tác động tích cực đến nhiều phía, giới, “các bên liên quan”. Chúng ta hẳn biết rằng bản thân việc “diễn ra được” cũng đã là một thành công!?

Trước giờ khai mạc

Các công tác gọi là “chuẩn bị” đeo đẳng và ám ảnh ban tổ chức (BTC) cho đến những phút cuối trước giờ “bóng lăn”. Hơn 1 tuần trước đó, tất cả các tham luận trình bày trong chương trình được yêu cầu phải gửi ngay đến các cơ quan chức năng… Cùng lúc đó, 1 trong 3 đơn vị dự kiến đồng tổ chức lúc ban đầu “bỏ cuộc” bằng cách ứng khẩu “không liên quan”. Chỉ 2 ngày trước khi tọa đàm diễn ra, những người tổ chức lại phải nhận thông báo từ Tòa Tổng giám mục TP.HCM, vì lý do “mục vụ đột xuất”, Đức Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn không thể khai mạc cũng như bế mạc tọa đàm. Địa điểm tổ chức phiên thứ ba và cuộc triển lãm hơn 70 bản đồ cổ liên quan đến Biển Đông, thềm lục địa Việt Nam của Nhà nghiên cứu (NNC) Nguyễn Đình Đầu cũng phải gấp rút dời khỏi số 180 Nguyễn Đình Chiểu (Q.3, TP.HCM). Bên ngoài, râm ran nhiều nguồi tin cho rằng tọa đàm sẽ bị hủy. Từ đây, không khí căng thẳng đè nặng lên “các bên”. Tình hình không mấy khả quan, hết đột xuất này đến đột xuất nọ, cứ bám lấy BTC cho đến khi kết thúc 2 ngày tọa đàm…

Khai cuộc

14 giờ 30 phút, 24/7/2009, phòng họp Phạm Long Tiên của Trung tâm Phaolô Nguyễn Văn Bình (số 43 Nguyễn Thông, Q.3, TP.HCM) vốn có sức chứa chỉ non 100 chỗ đã chật cứng. Khá đông người còn phải đứng bên ngoài. BTC phải yêu cầu mọi người di chuyển sát lên bàn chủ tọa để tận dụng chỗ trống ở phía sau, kê thêm ghế… thế nhưng nhiều người vẫn phải tham dự phiên tọa đàm đầu tiên trong tư thế đứng.

Không khí háo hức được xoa dịu khi mãi gần 15 giờ, tiếng micro mới sột soạt lời mở đầu của người dẫn chương trình – nhà báo Vương Đình Chữ. Lời cáo lỗi về hai sự vắng mặt đầu tiên. Đức Hồng y Mẫn như chúng ta đã biết và TS Chu Hảo – Giám đốc NXB Tri Thức – điện thoại xin lỗi không thể tham dự vì mới từ Paris về đến Hà Nội vào buổi trưa cùng ngày.

Phát biểu khai mạc, chủ nhiệm CLB P.NVB Linh mục (LM) Nguyễn Thái Hợp khởi đầu bằng nhận định: “Biển Đông đang nổi sóng và nằm trong tầm ngắm của tất cả các nước trong khu vực. Một số nước đã chuẩn bị kỹ lưỡng cho việc tranh chấp chủ quyền này từ khoảng nửa thế kỷ nay và Việt Nam là nước ít nghiên cứu về chủ quyền của mình nhất”. Ông dẫn lại lời khẳng định của Chủ tịch Nguyễn Minh Triết trong cuộc gặp Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, ngày 09/4/2009, như sau: “Đảng, Nhà nước đánh giá rất cao vai trò của các nhà khoa học (đối với vấn đề tranh chấp ở Biển Đông). Đây không phải là vấn đề mang tính lý luận, mà đây là nhận thức, là quan điểm”. LM Hợp khai triển: “Trong tinh thần và ý hướng đóng góp đó, CLB P.NVB cùng NXB Tri Thức tổ chức tọa đàm khoa học này với mong muốn vừa thể hiện mối quan tâm lớn của dư luận xã hội và của tất cả người Việt Nam trong cũng như ngoài nước, vừa góp phần cung cấp một số chứng cứ lịch sử và khoa học. Ước nguyện góp phần nhỏ của mình để làm sáng tỏ chủ quyền Việt Nam ở Biển Đông. Chúng tôi hy vọng Biển Đông & hải đảo Việt Nam sẽ là một cơ hội tốt để đoàn kết tất cả người Việt trong cũng như ngoài nước, vì tiền đồ dân tộc”.

Phiên 1 – Không khí nóng

Sau lời khai mạc của LM chủ nhiệm, cử tọa sốt ruột chờ đợi các tham luận trong phiên đầu tiên do Luật sư (LS) Nguyễn Ngọc Bích làm chủ tọa.

1. Khai pháo là đề tài nghe rất ca dao Từ Trường Sơn Đông đến Song Tử Tây của LM Thiện Cẩm. Từ bỏ phong cách “oanh kích tự do” quen thuộc, ông kể về hoàn cảnh và tình cảm của quân dân ta tại Trường Sa trong chuyến thăm vừa qua với từng câu chữ bám sát bản tham luận. Ông liên tưởng dãy Hoàng Liên Sơn với quần đảo Hoàng Sa, dãy Trường Sơn với quần đảo Trường Sa như một sự ấn định tuyệt vời của Tạo hóa để đưa ra cái nhìn về đất nước trải dài từ núi trên đất liền tới đảo ở trên biển.

Nhiều “ca” cáo lỗi bất ngờ!?

Ngoài sự vắng mặt của Đức Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, TS Chu Hảo và LS Phan Đăng Thanh vào phút chót như đã nêu trong bài, còn có sự rút lui từ sớm của Nhà sử học Dương Trung Quốc. Muộn hơn, trước khai mạc chừng 5 ngày, NNC Phạm Hoàng Quân cũng thông báo không thể tham dự. Và theo sắp xếp, phiên 2 sẽ do ThS Nguyễn Thu Vân chủ tọa. Giờ chót, LS Phương phải thay thế bà Vân. Bà cho biết không thể tham dự được vì lý do sức khỏe yếu.

2. Máy lạnh của khán phòng hoạt động hết công suất không ngăn nổi “sức nóng” từ cử tọa và sức nóng ấy có dịp lan tỏa mạnh hơn khi tọa đàm bước vào phần trình bày thẳng thắn của nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc về Chủ quyền Biển Đông và Hải đảo. Qua phân tích các cứ liệu lịch sử, ông Phúc cho thấy chủ quyền hợp pháp, không chối cãi của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các nước khác trong khu vực hoàn toàn không có bằng chứng thuyết phục nào cho chủ quyền của họ trên các quần đảo này. Ông Phúc khẳng khái: “Những luận cứ, luận chứng mà chính phủ Trung Quốc đưa ra trong hai vấn đề quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam chỉ có thể lừa dối một số người, chứ không thể phủ nhận được các văn kiện của Bản tuyên cáo Cairo, Thỏa ước Yalta, Bản tuyên ngôn Potsdam và sự thật lịch sử”. Tiếng vỗ tay vang lên. Nhiều điểm “nhạy cảm” khác cũng được ông Phúc khéo léo đề cập và những tràng pháo tay lại có dịp vang lên. Không khí càng nóng hơn… Điều ông Phúc đặc biệt tâm huyết là làm sao Việt Nam học được cách giải quyết thuận cả đôi đàng của Malaysia và Singapore trong vụ tranh chấp các đảo Pedra Blanca (còn gọi là Pulau Batu Puteh), Middle Rocks và South Ledge kéo dài suốt gần 30 năm. Ông đề nghị nên cử chuyên gia đi học hỏi kinh nghiệm về vụ kiện này.

3. ThS Hoàng Việt với Đường lưỡi bò” trên Biển Đông và Luật Quốc tế, đã cho thấy tương quan lực lượng giữa ta và người láng giềng phương Bắc, chỉ mới xét ở góc độ nghiên cứu khoa học thôi, là rất chênh lệch: “Trung Quốc hơn ta là họ có giáo sư ở hầu hết các đại học lớn trên thế giới”. Ông cảnh giác: “Hiện họ cũng đã có chân thẩm phán tại cả hai Tòa Công lý quốc tế và Tòa Quốc tế về luật biển”; và bùi ngùi cho biết số người nghiên cứu về “đường lưỡi bò” của Việt Nam đếm chưa hết năm đầu ngón tay.

Trước giờ giải lao, chủ tọa đoàn “vấp” phải câu hỏi mà ai cũng thấy nó thuộc loại “câu hỏi tu từ” kinh điển đề cập đến Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng (1958). Ông Phúc trả lời bằng cách “khuyên” mọi người nên xem lại các hiệp định Geneve 1954 và Paris 1973. Ông Việt thì nói thêm rằng trong công hàm đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng không hề khẳng định điều gì liên quan đến Hoàng Sa – Trường Sa cả…

Phiên 2 – Ấm lại

Khán phòng sau giờ giải lao vẫn thiếu chỗ, điều hiếm thấy ở hầu hết các tọa đàm, hội thảo hiện nay. Lực lượng chìm nổi, “quay phim tư liệu” dường như được tăng cường thêm sau khi có sự cố xuất hiện 3 thanh niên mặc áo trắng (ảnh) mang dòng chữ “Paracel and Spratlys belong to Vietnam forever!” Trong lúc LS Nguyễn Văn Phương – chủ tọa phiên thứ hai – đang chuẩn bị cho tọa đàm tiếp tục thì các thanh niên này bị mời ra ngoài theo lệnh của cơ quan chức năng. Một người thuộc bậc niên trưởng trong BTC đã ôm những người trẻ này vào lòng với thái độ kính trọng, xin các em thông cảm cho BTC, cho công cuộc chung. Các em đã khóc và nhượng bộ cởi áo. Lập tức các chiếc áo trắng bị tịch thu bởi những người trước đó có bộ dạng bình thường chỉ là những tham dự viên.

4. Nước mắt của người trẻ cùng với chủ đề Vai trò của Nhà Nguyễn đối với Biển Đông của nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng, dường như làm cho không khí ấm lại. Đây là đề tài trích từ cuốn Hoàng Sa – Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam nhìn từ Công pháp Quốc tế của ông vừa nối bản gần đây. Ông gây cho cử tọa những tràng cười sảng khoái trong cách pha trò đặc sệt Quảng Nam khi “đá” đến các vấn đề khó hiểu từ phía nhà nước xung quanh chuyện phát hành cuốn sách. Ông Thắng kết luận và giúp mọi người điềm tĩnh hơn: “Chúng ta phải dựa trên cơ sở pháp lý, luật pháp quốc tế chứ không thể lập luận trên ý thức hệ được…”

5. Đồng ý với các diễn giả trước về tình trạng học thuật, TS Nguyễn Nhã nghẹn ngào: “Trong khi Trung Quốc gửi hàng trăm người đi khắp nơi để nghiên cứu về vấn đề Nam Hải của họ thì Việt Nam hầu như không có hành động nào mang tính chiến lược về Biển Đông”.

Tham luận mang tên Quan điểm của Việt Nam về Hoàng Sa và Trường Sa của ông tỏ rõ ưu tư làm cách nào để phổ biến rộng rãi tài liệu của chúng ta ra nhiều ngôn ngữ cho toàn thế giới biết?

Đồng thời, bằng tất cả thái độ chân thành, ông Nhã khiến nhiều người bật dậy khỏi ghế tán thưởng: “Vấn đề đối phó với Hoàng Sa – Trường Sa theo tôi là thử thách vô cùng to lớn trong thiên niên kỷ này. Bất cứ một hành động nào, làm cho thế nước ta suy là có tội. Vậy chúng ta phải làm thế nào để có sự đồng thuận, nối kết trong cũng như ngoài, nhà nước cũng như nhân dân… Nếu không thì hình ảnh của Tân Cương, Tây Tạng không phải là hình ảnh quá xa vời!”

Cử tọa, diễn giả và cả BTC hoàn toàn làm ngơ trước quỹ thời gian hạn hẹp, tất cả vẫn muốn kéo dài thêm. Đồng hồ chỉ gần 18 giờ 30 phút, LS Phương mới có thể kết thúc phiên 2 cũng như ngày làm việc đầu tiên của tọa đàm bằng kết luận rút trong tham luận của TS Nhã: “Quan điểm chủ yếu của những nhà nghiên cứu Việt Nam về vấn đề chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa là Việt Nam đã chiếm hữu thật sự, hoà bình và liên tục. Chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo ấy là không có gì để tranh cãi”.

Phiên 3 – Nỗi niềm

Sau một đêm, sáng 25/7/2009, LM Nguyễn Thái Hợp – chủ tọa phiên 3 – tiếp tục xin lỗi vì có sự cáo lui ngay trước giờ bắt đầu của LS TS Phan Đăng Thanh. Theo chương trình, ông Thanh sẽ trình bày tham luận Luật pháp Quốc tế về Biển Đông và hải đảo. Không đắn đo trước đề nghị của LM Hợp, TS Nguyễn Nhã sẵn sàng lấp vào khoảng trống đó…

6. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu rất bức xúc trước tình thế khó khăn của BTC: “Tôi không hiểu vấn đề mà chúng ta đang bàn ở đây tại sao lại trở thành ‘tế nhị’’, ‘’nhạy cảm’’…? Theo tôi nó hoàn toàn là vấn đề khoa học, là lịch sử!”

Phiên 3 được tổ chức ở hội trường Đỗ Minh Vọng có sức chứa lớn hơn, khoảng 200 người, cũng thuộc Trung tâm P.NVB. Phòng họp Phạm Long Tiên và tiền sảnh trở thành khu triển lãm hơn 70 bản đồ cổ về Biển Đông, thềm lục địa và hải đảo Việt Nam của ông Đầu. Phần giới thiệu của ông về bộ sưu tập này cũng mở đầu phiên làm việc cuối cùng của tọa đàm.

Theo ông, bản đồ quan trọng thể hiện rõ đường biên giới nước ta với thềm lục địa là các bản đồ Hồng Đức (có từ năm 1490), bản đồ Đắc Lộ (năm 1650, chủ yếu dựa trên các nét vẽ của bản đồ Hồng Đức và thêm được những đường kinh và vĩ tuyến).

7. Được mời thay người vắng mặt đột xuất, TS Nguyễn Nhã tiếp tục kêu gọi: “Chúng ta mới chỉ có tình cảm yêu nước thôi chưa đủ. Cần cụ thể hóa lòng yêu nước ấy bằng cách đi sâu vào nghiên cứu pháp lý quốc tế. Tôi muốn giới luật gia, luật sư của Việt Nam phải đi sâu vào vấn đề và lên tiếng.”

Ông cũng lập lại nỗi lòng: “Đây là thời điểm tốt để chúng ta giương cao ngọn cờ đồng thuận!” và “mỗi người Việt Nam phải có một kế hoạch nhỏ cho riêng mình trong vấn đề này thì mới mong giữ được Biển Đông và hải đảo”.

8. Cuối cùng, Nhà văn Nguyên Ngọc “nã phát pháo” cuối cùng của tọa đàm lần này bằng tham luận nghe rất êm ái Nỗi niềm Biển Đông. Ông lấy ngay tên một cuốn sách xuất bản ở Pháp, nhan đề “Trung Hoa có thể trở thành cơn ác mộng của nhân loại không?”, đề làm tư tưởng xuyên suốt cho phát biểu đầy nỗi niềm của mình.

Sự bành trướng quyết liệt của Trung Quốc hòng trở thành siêu cường số 1 mới là một thực tế đang diễn ra trên khắp các châu lục. Đặc biệt, tại châu Phi và Á. Riêng tại châu Á, Việt Nam là cửa ngõ của sự bành trướng đó… Vì thế, vấn đề Biển Đông và bauxite phải được nhìn nhận và trở thành vấn đề quốc tế. Nó không chỉ đặt ra với chúng ta thôi, mà còn có thể là vấn đề của Nhật Bản, Hàn Quốc, EU và Mỹ… Ông kết luận: “Nỗi niềm Biển Đông là cả sự tâm huyết lẫn sự thông minh của chúng ta nữa. Nhà nước và nhân dân cần phối hợp với nhau thật giỏi, vì chưa bao giờ, chúng ta lại lâm vào tình thế quá nguy hiểm như hiện nay”.

Giờ giải lao tiếp tục bị cắt bớt. Lúc này, chúng tôi kịp nhận ra những thanh niên bị tịch thu áo hôm qua (24/7/2009) vẫn can đảm đến tham dự.

Thảo luận – đúc kết

Nhà báo Đinh Phong làm cử tọa nổ tung. Ông hô lớn phải “trả đũa” Trung Quốc theo như cách họ đã hành xử với chúng ta trên phương diện truyền thông: “Cứ để cho báo địa phương và blog của chúng ta đáp trả những gì mà phía Trung Quốc đã dùng để xuyên tạc, bôi nhọ, đánh phá chúng ta. Bằng mọi con đường phải bảo vệ Tổ quốc. Các tôn giáo, đặc biệt Công giáo có quyền lên tiếng”. Ông cũng hứa sẽ chuyển tất cả những kiến nghị từ tọa đàm lần này lên Ban Tuyên giáo thành ủy và trung ương.

Nhà văn Nguyên Ngọc mong rằng những tọa đàm tương tự nên được khuyến khích vì đây là hành động khẳng định chúng ta đứng sau lưng ngư dân của chúng ta đang ở tuyến đầu Biển Đông. Ông và TS Nguyễn Nhã cùng gặp nhau khi cho rằng những cuộc đấu tranh này là cơ hội không gì tốt hơn để đoàn kết, khôi phục, hàn gắn vết thương dân tộc.

ThS Hoàng Việt đưa ra kiến nghị nên huy động thành lập 1 quỹ để xúc tiến nghiên cứu và quảng bá nghiên cứu ấy ra thế giới đồng thời khuyến khích các em sinh viên tham gia nghiên cứu.

Tọa đàm kết thúc trong sự nhất trí cao: “vũ khí khoa học” là quan trọng nhất trong cuộc đấu tranh này!

LM Nguyễn Thái Hợp đúc kết:

“Tháng 3 vừa qua, Hội thảo quốc gia đầu tiên về chủ quyền ở Biển Đông được tổ chức tại Hà Nội. Một số tham luận đã đặt vấn đề khá rõ rệt và minh bạch. Nhưng rất tiếc, hội thảo đã quá thu hẹp vào một số chuyên viên và hầu như không có sự tham gia của xã hội dân sự. Người ta vẫn băn khoăn tự hỏi bao giờ xã hội dân sự mới được tham gia suy nghĩ về vấn đề quan trọng này? Không nói chắc chắn tất cả quý vị cũng đã rõ, trong việc tổ chức và thực hiện tọa đàm này chúng tôi đã gặp rất nhiều khó khăn.

Từ các chứng cứ sử liệu do các nhà khoa học đưa ra trong tọa đàm của chúng ta, chứng minh rằng Hoàng Sa và Trường Sa hoàn toàn thuộc chủ quyền Việt Nam.

Một kết luận khác rút ra từ khá nhiều ý kiến cho rằng chúng ta đang ở trong giai đoạn rất khó khăn và nguy hiểm của lịch sử. Chính vì vậy, để vượt qua giai đoạn sinh tử này, cần sự đồng thuận của cả dân tộc để đối phó với nguy cơ đến từ nơi khác.

Đặc biệt, cần nâng cao nội lực khi mà chúng ta đang quá thiếu những chuyên viên, luật sư chuyên ngành về luật pháp quốc tế và làm sao để vận dụng được lớp trí thức hải ngoại. Đồng thời, xây dựng lực lượng trẻ kế thừa trong công cuộc đấu tranh mà chúng ta biết có thể sẽ còn kéo dài hàng chục năm, hàng trăm năm nữa”.

Q.N.

HD Bauxite Việt Nam biên tập

4614
1. Phòng họp Phạm Long Tiên chật cứng người tham dự phiên 1 và 2 ngày 24/7/2009. Báo chí được phép tham dự nhưng không được đưa tin.
4613
2. LM Nguyễn Thái Hợp khai mạc Tọa đàm khoa học Biển Đông và hải đảo Việt Nam.
4615

4616
4.TS Nguyễn Nhã trình bày tham luận
4617
5. Những bạn trẻ can đảm này sau đó đã bị cơ quan chức năng tịch thu áo và đã khóc.
4601
6. Tọa đàm khoa học Biển Đông và hải đảo Việt Nam
4602
7. NNC Nguyễn Q. Thắng tranh thủ bán sách và ký tặng độc giả
4603
8. NNC Nguyễn Đình Đầu bên triển lãm bản đồ cổ của mình
4604
9. LM Huỳnh Công Minh (giữa) trong phiên 3 ngày 25/7/2009
4605
10. Toàn cảnh phiên 3 tại hội trường Đỗ Minh Vọng
4634
11. Chủ tọa đoàn phiên 3 (từ phải qua): Nhà văn Nguyên Ngọc, LM Nguyễn Thái Hợp, NNC Nguyễn Đình Đầu và TS Nguyễn Nhã
4635
12. Nhà văn Nguyên Ngọc trao đổi với các bạn trẻ trong giờ giải lao
4633
13. Lẵng hoa của Đại học Quốc gia TP. HCM mừng học giả Nguyễn Đình Đầu và cuộc triển lãm về Biển Đông và hải đảo Việt Nam, được tổ chức như một phần của cuộc Toạ đàm
4636
14. Bên bản đồ Việt Nam
4637
15. Nhà báo Đinh Phong (trái) và LM Thiện Cẩm

Share/Save/Bookmark
Related Posts with Thumbnails