Hiển thị các bài đăng có nhãn blog Vương-Trí-Nhàn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn blog Vương-Trí-Nhàn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2009

Nhật ký Đặng Thùy Trâm & ĐỜI SỐNG TINH THẦN NGƯỜI VIỆT SAU CHIẾN TRANH

Nguồn : blog Vương-Trí-Nhàn

Từ một quan niệm kéo dài trong lịch sử
và đã trở thành tâm thức dân gian …
Qua một chương trình phim truyền hình thời sự, có lần tôi được thấy cảnh những người lính Nga trở về từ chiến tranh, một số còn sống đến tận cuối thế kỷ XX, đầu XXI . Điều khiến tôi lạ nhất là cuộc sống hòa bình với nhiều người trong họ hình như không còn thích hợp. Chỉ làm việc để đủ sống tàm tạm, ngoài ra như đã bị chiến tranh lấy hết hồn vía, mỗi người là một cái bóng.
Tình hình ở VN ít nhiều có khác. Trong số những người trở về sau chiến tranh, lác đác cũng có ít người rơi vào tâm trạng buông trôi bất lực. Nhưng số đó quá ít và gần như lạc lõng trong cộng đồng. Phổ biến hơn là một tình trạng ngược lại. Sống sót sau những năm tháng khốc liệt, ý nghĩ đầu tiên của người ta là làm gì đó để cứu gia đình khỏi cảnh đói rét đã kéo dài. Cởi quân phục là vớ lấy chiếc xe đi buôn. Hoặc xông vào tìm bằng được một chỗ đứng trong các cơ quan nhà nước, nhân danh người đã có công đòi lấy một vị trí thuận lợi để kiếm ra tiền, bù đắp lại những ngày bị thiệt.
Trong sự mải miết sống với quá khứ, những con người Nga có mặt trong chiến tranh trở về kia dành hẳn một phần tâm trí của mình cho các đồng đội đã hy sinh. Tôi nhớ một chiến binh chỉ ngồi loay hoay với những đài kỷ niệm cho từng người bạn. Làm cho thằng Boris mô hình một cái lò rèn. Đắp cho thằng Ivan một cái cối xay gió thay cho đài tưởng niệm… Người chết không chết , vì đồng đội vẫn đang trò chuyện với họ, như những người sống.
Còn ở VN? Không phải người ta đã quên hẳn những năm chiến tranh và người thân đã nằm xuống ở những mảnh đất xa lạ. Nhưng việc đó được làm theo một cách riêng, nó phụ thuộc vào hoàn cảnh một đất nước trường kỳ nghèo đói và đã gắng gỏi chống lại chiến tranh hiện đại bằng một nền kinh tế tiểu nông, và cuộc sống con người thì luôn luôn đặt trên ranh giới mong manh của sự sống và cái chết.
Việc thu thập tin tức về những người đã mất tích trong chiến tranh đến nay vẫn còn đang được tiếp tục. Đã có những gia đình bỏ ra bạc tỷ nhiều năm lặn lội để đi tìm hài cốt của con cái.
Dù thế chăng nữa phải nhận cách làm của người Việt chú trọng lễ nghi mà không mấy tỉ mỉ. Sau khi biết đích xác người thân đã hy sinh ở đâu, cái mà người ta cần là mang về một ít bằng chứng chắc chắn để đòi lấy sự công nhận của cộng đồng, những lời biết ơn nồng nhiệt, những đền bù cho sự hy sinh. Sau đó làm đám giỗ để bà con làng xóm cùng xác nhận và kiếm được một tấm ảnh đẹp để vào chỗ trang trọng trong gia đình, thế là đã mãn nguyện lắm.
Các di vật, nếu có, cũng được chú ý mang về. Nhưng phải nói thực việc bảo quản các di vật ấy không phải nằm trong dự tính. Phần vì điều kiện khó khăn. Phần chủ yếu vì sự chi phối của thói quen tâm lý.
Một cái nhà tươm tất cho người sống ở còn chưa có, lấy đâu chỗ để đồ cho người chết? Các bảo tàng của nhà nước chưa xây và nếu xây xong thì còn đang tranh cãi xem nên bày cái gì. Các di vật thiêng liêng đấy mà cũng vô nghĩa ngay đấy. Xếp xó là chuyện bất đắc dĩ, nhưng đành phải làm.
Nói to lên cho rõ ràng rằng “làm cho xong chuyện” thì không ai dám, nhưng trong thâm tâm đều hiểu cho nhau là vậy.
Giữa bề bộn công việc hậu chiến, việc trở lại với cuộc đời người đã khuất trong chiến tranh không được đặt thành vấn đề, nếu không muốn nói gần như lảng tránh. Những gì làm nên cuộc sống thực của người đã khuất bị đẩy lên thành huyền thoại , với nghĩa “ kính nhi viễn chi”.
Xét từ căn nguyên sâu xa, ở đây có vai trò của hai ý niệm quan trọng là ý niệm về lịch sử và ý niệm về cái thực. Cả hai ý niệm này ở người Việt đều lờ mờ mây khói.
Đến thăm nhiều đình đền ở Hà Nội và nói chung là ở Bắc Bộ, người ta thấy người giữ đền lưu ý rằng ngôi đền này rất thiêng. Nhưng thờ ai và sự tích thế nào thì họ chỉ biết mang máng và nhầm lẫn lung tung cả.
Thể tiểu thuyết lịch sử cũng như các loại phim lịch sử ở VN hình thành rất khó khăn một phần là vì bản thân lịch sử chỉ được hiểu là những sự tích anh hùng. Cái gọi là sinh hoạt đời thường gần như chưa bao giờ trở thành đối tượng của lịch sử ở VN. Còn các sự kiện xã hội chính trị thì thường bị tô vẽ theo phương châm “ Tốt đẹp phô ra xấu xa đậy lại “.
Đây là cách nghĩ thấm vào trong tư duy dân gian và âm thầm chi phối xã hội.
Trong số các nhà văn VN đương đại, Nguyễn Minh Châu là một trong những người đi sâu nhất vào chiến tranh. Trong bài Viết về chiến tranh in trên tạp chí Văn Nghệ quân đội năm 1978(1), ông ngẫm nghĩ và ghi nhận một cách nghĩ phổ biến như sau :
Từ ngàn năm xưa, người Việt Nam đã mang một quan niệm “ phàm cái gì đem chép vào sách vở thì không thể dung tục như đời sống bình thường hàng ngày được mà phải là những điều tốt đẹp tinh khiết. ”
Bằng cái giọng hơi đùa đùa, ông giải thích thêm “Đồng bào mình bây giờ thấy anh nhà văn nhà báo tả mình như thực thì không ưng. Lên tivi, lên phim, dù đang lao động cũng phải ăn mặc đẹp, mặt mũi cũng phải sạch sẽ, sáng sủa tươi cười ”. Làm ăn đã vậy trong chiến tranh cũng vậy : đánh giặc giữ nước là một việc cao cả ; “ chuyện những người anh hùng vì nước xưa nay được coi như chuyện thần thánh ” -- nên không thể có một mảy may dung tục.
Nguyễn Minh Châu tiếp tục câu chuyện bằng cách so sánh tâm lý đọc sách viết về chiến tranh với tâm lý người dân khi chụp ảnh. Ai mà chẳng có cái mặt thực của mình. Nhưng mỗi lần chụp ảnh, chỉ những khuôn mặt trẻ hơn đẹp hơn mới là cái mà người ta chờ đợi.
Toàn bộ lối suy nghĩ như thế này đối với quá khứ là ổn định và kéo dài cho tới hôm nay. Và cái tâm thức dân gian này sẽ được nâng lên để trở thành định hướng của nhà nước.

…tới một lối viết kéo dài
từ thời chiến tới hậu chiến
Tôi nhập ngũ ngày 5-8-1964, và tới đầu 1968 thì được chuyển về tạp chí Văn Nghệ quân đội. Nói theo thuật ngữ chính thống, tôi được chính thức gia nhập vào đội ngũ những người làm công tác tư tưởng. Viết văn làm thơ hay chụp ảnh viết báo cũng như tuyên truyền cổ động cũng là công tác tư tưởng cả. Có thể tóm tắt quy phạm chính chi phối ngành này như sau :
-- làm gì viết gì thì cũng phải hứng về phục vụ người lính, khiến họ hào hứng phấn khởi xông lên. Để họ nản lòng là có tội.
-- Cái cần viết không phải là chiến tranh, mà là chiến công.
-- Không có cái gọi là chiến tranh chung chung. Tôi nhớ hồi đó bản thân hai chữ chiến tranh cũng không dùng. Để thay thế phải nói cuộc chiến đấu, hàm nghĩa chiến tranh ở VN khác hẳn mọi cuộc chiến tranh trên thế giới.
Những quy phạm này có thể thấy rõ trong nghệ thuật nhiếp ảnh.
Ở TP HCM hiện có một Bảo tàng được nhiều người nước ngoài tới thăm là Bảo tàng chứng tích chiến tranh. Nhưng ở đó, những bức ảnh có ý nghĩa nhất lại là của các phóng viên nước ngoài.
Một người bạn tôi là anh Đoàn Công Tính một phóng viên nhiếp ảnh trong quân đội đã giúp tôi hiểu tình thế ngược đời này. Theo Tính, ngay trong những năm chiến tranh chính những bức ảnh bám sát chiến trường và làm rõ “sự thật chiến hào” của các phóng viên chiến trường lại không được tòa soạn ưa thích. Được ưu ái nhất phải là những bức ảnh nêu khí thế chiến thắng. Giữa hai phạm trù chân thực với mang khí thế chiến thắng, không phải bao giờ cũng có sự trùng khớp nếu không muốn nói là thường xung đột nhau. Và không phân vân gì hết, trong mọi trường hợp người ta chọn cái thứ hai. Nếu thích hợp với việc tuyên truyền cho chiến tranh, có cả những bức ảnh bố trí giả tạo, vẫn được sử dụng.
Đoàn Công Tính nổi tiếng với tác phẩm Chiếm căn cứ Đầu Mầu Quảng Trị( được giải thướng Hội nhà báo quốc tế OIJ ). Sự thành công của bức ảnh này là ở chỗ thứ nhất nó được chụp từ thực địa, và thứ hai, biểu hiện được con người như bay lên trong một chiến công thần thánh.
Các ảnh khác thường cũng có sự kết hợp tương tự. Với tôi và với dư luận chung, tưởng như Đoàn Công Tính chỉ có vậy.
Nhưng gần đây (2005), tôi được biết là trong kho ảnh của Tính còn có những bức ảnh lạ như Chiếc cầu gục đổ.
Bức ảnh biểu hiện rõ không khí chiến tranh ở Việt Nam. Cả sự bất bình thường của chiến tranh. Cả sự bé nhỏ bất lực của con người.
Có điều mãi sau chiến tranh bức ảnh này mới được giới thiệu và là rất hạn chế. Nó không được đưa vào các sưu tập chính thống . Rất ít người biết tới nó.
Đơn giản là vì các bức ảnh tương tự như Phúc Tân kêu gọi trả thù của một đồng nghiệp của Tính là Vũ Ba, lúc xuất hiện đã hứng chịu nhiều lời phê phán, cái tội của người chụp ảnh ở đây là đưa đau thương mất mát lên thành một chủ đề lớn.
Câu chuyện về các tấm ảnh của Đoàn Công Tính của Vũ Ba cũng là câu chuyện của nhiều tác phẩm văn chương.
Những năm chiến tranh, tôi đã được chứng kiến nhiều vụ tác phẩm “mô tả chiến tranh như chiến tranh” bị phê phán. Bài ký Cái gốc của Nguyễn Thành Long. Bài thơ Vòng trắng của Phạm Tiến Duật. Những tác phẩm này chỉ có lỗi là nói về những cay đắng của con người, những tin thất thiệt. Khi bị từ chối, chúng làm cho những người rất có thiện chí cũng sinh nhụt, không dám viết nữa.
Sự định hướng các tác phẩm viết trong chiến tranh như trên, theo tôi, không phải là không có phần hợp lý của nó. Muốn đánh lại kẻ thù mạnh hơn, người ta phải không biết sợ. Phải suy nghĩ khác với cách nghĩ thông thường. Phải cứng cỏi sắt đá mà không dễ mềm lòng trước mọi mất mát đau thương. Nhà nước xác định cho dân như vậy và mỗi người cũng tự nhủ như vậy.
Xuất phát từ đây, một quy phạm chính thức hình thành. Nó gói gọn vào mấy yêu cầu bắt buộc với các tác phẩm
--trình bày bức tranh tổng quát
-- quan sát từ một góc độ khá xa
-- Kết thúc lạc quan
Lối viết này —tạm gọi là lối viết sử thi – vốn được nhập từ văn học xô viết thời trước 1945. Nếu ở bên ấy, sau chiến tranh người ta đã thay đổi thì ở VN nó được giữ nguyên.
Ngay từ trước 8-1964, những tác phẩm viết về chiến tranh nổi tiếng thế giới như Phía Tây không có gì lạ của E.M.Remarque, thậm chí ngay các tác phẩm xô viết như Trong chiến hào Stalingrad của V.Nekratsov,Tấc đất của G.Baklanov, phim Đàn sếu bay qua, phim Bài ca người lính – đây chỉ nói những tác phẩm từng được giới thiệu ở VN-- cũng bị gạt bỏ thẳng cánh.
Một nhà văn viết về chiến tranh phải xem lối thể hiện đời sống như thế là có tội. Vả chăng phim không ai nhập sách không ai dịch, và cũng không ai có sách nguyên bản mà đọc.
Như ở đoạn trên vừa nói, ở Việt Nam từ chiến tranh chuyển sang hòa bình hầu như không có khoảng trống. Trong các khẩu hiệu, khái niệm mặt trận được dùng lại : thay cho mặt trận chiến đấu là mặt trận văn hóa. Đóng vai trò chi phối con người trong xã hội nói chung vẫn là lối nghĩ thời chiến. Người ta buôn bán làm ăn xây nhà xây cầu cống dạy học đi du lịch theo kiểu thời chiến.
Nói bao quát tức lối suy nghĩ về chiến tranh như trên vẫn tiếp tục ngự trị. Các cuộc thi sáng tác, các đơn đặt hàng để lôi cuốn các nhà văn viết về chiến tranh, nhất nhất đi theo cái đường ray cố định đó.
Nhưng bên trong đời sống xã hội và tâm lý nhà văn vẫn có những đợt sóng ngầm. Các sáng tác cuối đời của Nguyễn Minh Châu và Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là những nỗ lực rõ rệt theo hướng này .
Nguyễn Minh Châu, như trên vừa dẫn, sớm hiểu rằng một nền văn học chân chính không thể đi theo lối viết “đưa ra những bức ảnh đẹp “ mà có lúc chính ông tự nguyện tham gia.
Sau chiến tranh, truyện vừa Cỏ lau (1989) được ông viết theo hướng mới. Nó cho thấy chiến tranh là mất mát là đau khổ, và có nhiều di lụy không biết bao giờ mới gỡ ra nổi. Chỉ vì được in ra khi ông vừa qua đời nên tác phẩm thoát khỏi sự lên án. Nhưng nó cũng bị lờ đi. Một tác phẩm bao quát hơn, như Tiểu thuyết vô đề của Dương Thu Hương lại càng không bao giờ được công nhận.
Có cái lạ là xu hướng viết về chiến tranh theo kiểu Cỏ lau -- xu hướng phi sử thi – tuy không bao giờ được đề cao, không được ai theo đuổi đến cùng, nhưng cũng không bao giờ bị chết hoàn toàn.
Nỗi buồn chiến tranh (1991)của Bảo Ninh thì đánh dấu một chặng đường nhận thức kéo dài hàng chục năm.
Thoạt đầu khi còn là bản thảo cuốn tiểu thuyết đã được khen ngợi hết lời. Khi in ra, nó được tặng cái giải thưởng sang trọng nhất so với lúc ấy, là giải Hội nhà văn.
Nhưng ngay từ lúc ấy, đã có lời eo xèo rằng tác phẩm có ý “ phủ nhận quá khứ “. Tới khoảng 1994 việc phê phán này lên tới đỉnh điểm, chính những người đã khen nó ( Nguyễn Quang Sáng , Nguyễn Khải , Vũ Tú nam …) lại mang nó ra phê phán. Trong khi ra với thế giới và trở thành sứ giả chính của văn học VN, thì đồng thời tác phẩm vắng bóng hẳn trên thị trường sách trong nước hàng chục năm liền.
Cần nhấn mạnh tới Nỗi buồn chiến tranh vì qua đó người ta thấy một phương hướng :
Ý định tìm hiểu thực chất chiến tranh và con người trong chiến tranh.
Sự thay đổi trong cách nhìn : Chiến tranh được nhìn gần hơn.
Sự thay đổi trong quan niệm: Chiến tranh VN cũng tuân theo những quy luật chung của mọi cuộc chiến tranh.
Tóm lại, một cách tự nhiên, lớp trẻ từ chiến tranh về có ý định làm ra một nền văn học chiến tranh như họ đã thấy, chứ không bằng lòng với lối viết về chiến công của những người đi trước.
Nhưng xã hội VN sau chiến tranh đến nay vẫn chưa sẵn sàng thay đổi theo hướng này. Người ta chỉ lúng túng, lảng tránh, và lùi dần dần chứ chính thức cho phép nghĩ khác thì không. Với việc đẩy Nỗi buồn chiến tranh vào bóng tối, một khuynh hướng tự phát bị chặn đứng .
Có điều, như thế không có nghĩa là nó chết hẳn. Nó vẫn luẩn quẩn đâu đó. Người ta cũng thấy có vài cuốn sách như Những mảnh đời đen trắng của Nguyễn Quang Lập, Bến đò xưa lặng lẽ của Xuân Đức… có những chương những đoạn viết theo cái mạch này.
Có những người gần như trở thành “ nạn nhân ” của sự chuyển đổi. Tôi muốn xem trường hợp nhà văn Nguyên Ngọc thuộc dạng này. Tiểu thuyết Đất nước đứng lên đánh dấu một lối viết đã thành cổ điển về cuộc chiến tranh chống Pháp. Đến chiến tranh chống Mỹ, ông lại có Rừng xà- nu, Đất Quảng, cùng một giọng điệu sử thi như Đất nước đứng lên. Đất Quảng ( I )viết ngay ở chiến trường (1971) nên có cái giọng ấy cũng là chuyện tự nhiên. Đến tập II, ông bỏ dở. Theo chúng tôi hiểu, lúc này suy nghĩ của ông thay đổi, ông thấy cần viết khác. Nhưng ngòi bút nhà văn của ông không chịu và ông đành thôi.
Sự lúng túng là tình trạng thấy ở nhiều người trong việc xử lý đề tài chiến tranh ở Hà Nội. Khác với Nguyên Ngọc, nhiều người trong họ chỉ kéo dài lối viết cũ, có tân trang ít nhiều. Sự chấp nhận này hủy hoại tài năng của cả những người đã để cả cuộc đời có mặt trong chiến tranh.

Một câu trả lời xuất hiện đúng lúc
Tôi kể lại những chuyện trên để thấy tình hình chung của việc viết về chiến tranh ở Hà Nội. Trên cái nền ấy mà Nhật ký Đặng Thùy Trâm (dưới đây viết tắt là NKDTT) xuất hiện nên nó được mọi người tìm đọc cũng là điều dễ hiểu.
Cuốn nhật ký đã chọn được một thời điểm xuất hiện “ tối ưu”.
Từ sau 1985 , mối quan hệ làm ăn kinh tế với nước ngoài trở thành một sự lựa chọn không thể đảo ngược . Sự hội nhập, cái mà người ta lảng tránh mãi, nay đã thành một xu hướng chính thức và ảnh hưởng sang cả văn hóa tư tưởng .
Với người nước ngoài, sự hội nhập này đã làm một cuộc phát hiện: VN từ nay không chỉ là một cuộc chiến tranh, mà còn là một đất nước.
Với người VN thì quá trình diễn ra là ngược lại: do áp lực của hội nhập, người Việt thấy hóa ra không thể quên nổi những ngày đạn lửa ; chiến tranh mãi mãi là một phần cuộc sống. Từ chỗ đẩy chiến tranh vào tấm màn sương khói của quá khứ, người ta lờ mờ cảm thấy rằng chiến tranh có mặt ngay trong cuộc sống hôm nay và chi phối cách nghĩ và cách làm việc của người ta, một sự chi phối khi công khai khi kín đáo nhưng là trên mọi phương diện.
Sau cái giai đoạn chỉ biết thu thập lấy một ít di vật của người thân và nói chung là nhìn chiến tranh trong mối quan hệ với từng gia đình từng cá nhân, nay người dân thường bắt đầu muốn nhìn chiến tranh như là yếu tố tác động lên toàn bộ cộng đồng.
Một cách ngẫu nhiên, NKDTT bước đầu đáp ứng được yêu cầu đó. Nó là ghi chép của người trong cuộc. Nó cho người ta thấy lại không khí chiến tranh và những con người trong chiến tranh từ bên trong.
Giá như xuất hiện 10 – 15 năm sau chiến tranh --khoảng từ 1990 trở về trước, cuốn nhật ký với sự kết thúc bi thảm của nhân vật sẽ không được phép in ra, hoặc có in ra cũng không được ưu ái đến vậy. Ba mươi năm đã qua, những cách nghĩ căng cứng chỉ biết một màu lạc quan … đã khiến người ta mệt mỏi. Những cách miêu tả chiến tranh với tương đối nhiều sắc thái đen tối bắt đầu được chấp nhận.
Khuynh hướng này có lúc còn đi qúa đà nữa .
Trong tình hình hiện tại (chiến tranh đã lùi xa ba thập kỷ ) dường như đang có một quy ước ngầm : một tác phẩm sẽ được hiểu là chân thực, nếu nó nghiêng về diễn tả những đau đớn mệt mỏi, những tan nát trong lòng người có mặt trong chiến tranh ( mà Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là một ví dụ )
Bởi các tác phẩm đang viết ra có vẻ nghiêng sang một hướng sáo mòn theo cái đường ray vốn có từ trước nên mới nảy sinh cái phản ứng ngầm như vậy.
Theo tiêu chuẩn này mà xét, có vẻ NKDTT vẫn theo mốt cũ. Mặc dầu có khá nhiều trang miêu tả con người với đau thương mất mát và nói được ám ảnh về cái chết trong tâm trí họ, song người ghi nhật ký vẫn giữ được cái vẻ thuần hậu trong sáng của một con người lý tưởng . Cảm hứng thần thánh thiêng liêng vẫn chi phối tâm trí người bác sĩ .
Thế thì liệu có thể nói là NKDTT có được sự chân thực cần thiết ? Và tại sao trong sự lạc điệu của mình nó vẫn được cả người đọc VN lẫn người nước ngoài tìm đọc ?
Như trong lời giới thiệu viết cho bản tiếng Việt cuốn NKDTT tôi đã nói qua, nhìn cuộc chiến tranh chống Mỹ như cái gì thuần nhất, từ đầu đến cuối chỉ có một bộ mặt duy nhất là không đúng. Mà nhìn vào cuộc chiến tranh đó chỉ thấy duy nhất một hình ảnh nào đó về con người cũng là không đúng.
Chỉ xét tâm lý những thanh niên Hà Nội được huy động tham chiến, tức có mặt trong đội quân miền Bắc chi viện miền Nam, thì cũng đã thấy nó có hai giai đoạn.
Trước 1968, người ta đi chiến trường một cách hồ hởi tự nguyện. Người ta tin rằng mình đang tham gia một cuộc chiến tranh thần thánh và chẳng bao lâu sẽ trở về. Những người được chọn đi bộ đội chiến đấu lúc ấy thấy đây là cả một niềm vinh dự.
Sau 1968, thì khác , mỗi ngày mỗi khác .Chiến trường ngày càng thu hút nhân lực tài lực. Việc huy động người trở nên xô bồ. Con người thấy đây là nghĩa vụ trách nhiệm, hơn là vinh dự. Cuộc sống trở nên nặng nề. Con người mang nặng tính cách phá phách – như chữ dùng của Lê Lựu, trong một cuộc trả lời phỏng vấn năm 1997 (2)
Thùy Trâm về mặt tâm lý, là thuộc thế hệ những người lính có mặt ở chiến trường trước 1968. Để nói về họ người ta phải dùng những chữ như trong sáng thánh thiện. Việc họ tin tưởng ở Đảng ở quân đội – tức cái chất tín đồ của họ là có thật. Tâm lý họ chưa trở nên chai sạn như lớp người ra đi về sau. Thùy Trâm phải viết bằng cái giọng chân thành tin tưởng như đã viết. Cái thực của NKDTT là ở chỗ ấy.
Về phía người đọc VN — tạm giả định rằng họ là một khối thống nhất --thì trong trường hợp này cũng không phải họ dễ tính và bị lừa. Trên kia tôi đã nói họ chán những cái công thức giả tạo. Còn điều thánh thiện trong sáng, hay sự thật đầy bùn đất của chiến hào họ đều thấy gần gũi. Miễn là có được phần nào đó sự thực.
Thậm chí còn có thể nói rằng với người đọc VN hiện nay, một cái gì thực đến tàn nhẫn như Nỗi buồn chiến tranh còn là quá sốc. NKDTT vừa với cái dạ dày còn rất yếu của họ.

Vấn đề con người và thể nhật ký
Một lý do nữa khiến cho NKDTT được đọc rộng rãi ( tổng số bản tiếng Việt đã in lên tới 430.000 ) : Nó tạo được cảm giác một cái gì có thực. Điều này một phần dựa vào thể tài mà nó sử dụng.
Thể nhật ký vốn rất quen thuộc không chỉ ở phương Tây mà cả ở những nước châu Á như Trung quốc Nhật Bản. Theo Phan Khôi, ít ra là từ thế kỷ XVII (3) nó đã sớm phát triển.
Ở VN việc này rất hạn chế. Có thể thấy việc ít viết nhật ký có một lý do sâu xa, con người cá nhân trong xã hội VN còn rất yếu ớt, và nhu cầu đối diện với bản thân của người ta chưa xuất hiện.
“ Người ta có nhìn rõ sự sống của mình là có giá trị thế nào, có biết quý cái ngày tháng mình còn sống ở đời, tóm lại là cái nhân sinh quan vững chắc sáng suốt thì mới lấy làm trịnh trọng mà chép lại mình đã trải qua hoặc nghe lấy suy nghĩ mà để lại về sau. Nhật ký phổ thông sản xuất ra vì đó. Người Việt Nam ta chưa có ai chép nhật ký phổ thông hết, hoặc giả là chúng ta chưa có cái nhân sinh quan đến bậc ấy chăng ? ”
Cách cắt nghĩa của Phan Khôi đến nay vẫn đúng.
Riêng với chiến tranh, ở nước nào cũng vậy, trong và sau chiến tranh, người ta thường cũng sưu tầm thêm nhật ký thư từ.Tức là trong hoàn cảnh sống dưới bom đạn, hình thức viết này khá phổ biến.
Ở VN, sau cuộc kháng chiến chống Pháp chỉ có hai cuốn nhật ký được công bố : Ở rừng của Nam Cao và Nhật ký của một bộ trưởng của Lê Văn Hiến.
Sở dĩ nhật ký trong chiến tranh càng ít, vì mấy lý do :
- người ta bận bịu ( Bảo Ninh từng có nhận xét này )
- người ta nghĩ rằng với mình cái chết có thể đến bất cứ lúc nào
- đời sống tinh thần người ta đơn giản
- người ta không có điều kiện bảo quản và giữ bí mật những suy nghĩ của mình .
Đặt vào hoàn cảnh chung đó, thấy NKDTT là một yếu tố mới trong đời sống tinh thần con người trong công cuộc chống Mỹ
Trong nhận xét của người dịch NKDTT ra tiếng Anh có đoạn nói riêng về cách viết nhật ký của DTT
“Ngòi bút của cô uyển chuyển từ văn xuôi cho đến thơ, từ suy ngẫm để tự phân tích bản thân, từ thổ lộ tâm tình cho đến phản ánh. Ở chỗ này, cô tự nói với mình. Ở những chỗ khác cô lại nói chuyện với những người bạn không hiện diện ở bên. Cô thường xuyên thay đổi đối tượng, đang nói chuyện với mình lại nói với một người khác một cách dễ dàng và không hề báo trước.”
Vậy là ở đây, người ta thấy có một con người mau mắn , sinh động , tự tin.
Trước đây, nhân vật trung tâm trong văn học thường là những người sống quá hồn nhiên đến mức có thể bảo họ nặng về bản năng. Họ đi vào chiến tranh mà không suy nghĩ gì nhiều. Nổi lên ở họ chỉ là cái thanh thản của những trai làng đi làm việc nước từ bao đời nay ( truyện ngắn Đỗ Chu ). Họ sống thế nào cũng được.Thích cười vui đùa tếu , thích đi tìm cảm giác lạ (thơ Phạm Tiến Duật ).
Với NKDTT, người ta bắt gặp một con người đi vào chiến tranh như một trí thức hoặc có chất trí thức. Chất trí thức này – hoặc đúng hơn là sự phong phú trong đời sống tinh thần, sự có mặt của âm nhạc thơ ca, văn học cổ điển thế giới -- chỉ làm cho sự cảm thụ và ghi nhận chiến tranh của con người sắc bén thêm. Cũng do chất trí thức này, con người ở đây hiện ra không khác là bao so với con người trong các cuộc chiến tranh mà thế giới đã biết. Sự gần gũi giữa NKDTT với Nhật ký Anna Frank mà tôi nêu ra trong lời giới thiệu bản tiếng Việt, về sau đã được nhiều bạn đọc ở Mỹ xác nhận.
Thế có phải cứ viết nhật ký là làm bộc lộ được con người mình và tạo đươc hiệu quả chân thực ? Nên chú ý là trước NKDTT một chút, và nhất là sau cuốn sách ít lâu, cũng có hàng loạt sổ tay ghi chép được “trình làng”. Thế nhưng ở đó người ta chỉ nhận ra một người viết hời hợt. Một số trong các tác giả loại này không thể hiện được mình ; một số khác thực ra không viết nhật ký mà đó chỉ là bản nháp của cuốn sách mà người ta muốn in ra khi từ mặt trận trở về. Người đọc cảm thấy người viết làm văn trên trang giấy, nên đã từ chối.
Chỉ đọc qua nhật ký DTT, Nguyễn Trung Hiếu đã cảm thấy ở đây có lửa. Anh em nhà Whitehurst tin ở DTT như tin ở chính mình. Người dịch NKDTT ra tiếng Anh cảm thấy người viết nhật ký là một nhân cách cao quý .
Sở dĩ có được sự tin yêu đó vì NKDTT có được cái hồn nhiên như dòng suối vọt ra từ lòng đất. Nó được viết ra do nhu cầu của người trong cuộc chứ không hề tính tới việc xuất bản.


Theo quy luật của truyền thông
đại chúng trong xã hội hiện đại
Trong đời sống tinh thần của người Việt, Truyện Kiều có một vai trò không cuốn sách nào có nổi. Các nhà nghiên cứu văn học cắt nghĩa là ở đó có sự phản ánh hiện thực hoặc tinh thần nhân văn. Nhưng theo tôi ở đây còn có vai trò của chất cảm thương bi lụy là một truyền thống của sự tiếp nhận văn học của đám đông quần chúng các nước phương Đông. Có thể bảo đây là một tác phẩm melodrama ở chỗ nó nói về thân phận bất hạnh của một người con gái. Cái chữ thường được người Việt quen dùng là tài hoa bạc mệnh. Thúy Kiều bất tử một phần lớn vì những giọt nước mắt của mình.
Nhìn lại NKDTT. Một người con gái giàu tình cảm đẹp đẽ nết na được đưa lên thành nhân vật chính. Người đó phải dấn thân vào cuộc đời đa đoan -- ở đây là chiến tranh --, sống giữa những người xa lạ, và gặp nhiều nhỡ nhàng oan uổng trong tình yêu. Cuối cùng là cái chết. Sự cảm thụ kiểu melodrama như thế này không có trong phạm vi ý thức, mà chỉ ở phạm vi tiềm thức, nhưng với các đám đông, nó là yếu tố gây ra sự lan truyền mạnh mẽ và cả sự bùng nổ nữa.
Bản thân số phận cuốn nhật ký cũng khá ly kỳ. Nó giống như một đứa con rơi. Vừa ra đời đã bước vào cuộc lưu lạc. Chinh phục được ngay cả những kẻ ở bên kia chiến tuyến. Tiếp đó làm cuộc du lịch sang tận tây bán cầu. Mấy chục năm liền sống giữa những người xa lạ và làm cho họ rơi nước mắt. Chỉ nhờ những cớ ngẫu nhiên – người Việt hay nói nhờ Thần Phật run rủi – mà cuối cùng có cuộc hội ngộ với quê hương xứ sở.
Ở trên tôi đã nói thời điểm theo nghĩa rộng. NKDTT xuất hiện khi nhận thức về chiến tranh có sự chuyển giai đoạn.
Nhưng còn có thể hiểu thời điểm theo nghĩa hẹp, cái năm 2005 cụ thể. Lúc này sau chuyến đi sang Mỹ của phái đoàn Phan Văn Khải, quan hệ Việt Mỹ mở ra với sự náo nức chờ đón của những người bình thường. Một thuận lợi không gì đo đếm nổi !
Sau hết, phải đặt NKDTT vào hoàn cảnh của truyền thông hiện đại. Tác phẩm không chỉ xuất hiện như một quyển sách văn chương mà đã may mắn có mặt trên báo và được đọc trên đài phát thanh . Rồi các nhà làm phim các nhà hoạt động sân khấu tấp nập xin nhập cuộc. Rồi sự chú ý của các cơ quan thông tấn nước ngoài, ý định về một loạt bản dịch. Nhờ dư luận trong nước mà người nước ngoài chú ý. Nhưng đến lượt mình, sự chú ý từ nước ngoài như thế lại thổi bùng sự quan tâm của bạn đọc trong nước để đưa nó tới một tầm mức mà trên nhiều phương diện , chưa một tác phẩm nào có được .
Với việc chấp nhận NKDTT, xã hội VN vốn rất nhiều yếu tố cổ điển đang tự chứng tỏ là nó qua một chặng mới và trở nên một xã hội hiện đại khi giải quyết một vấn đề lớn như nhìn nhận và đánh giá con người chiến tranh.
8-2007

----
(1) Bài viết này sau được in lại trong một tập phê bình tiểu luận của tác giả. Xem Trang giấy trước đèn, Nxb Khoa học xã hội 1994, tr44-55
(2) Xem Thể thao &văn hóa số ra 19 - 12-1997.
(3) Phan Khôi Về lối văn nhật ký, Phụ nữ tân văn số 150 ra ngày 23-6-1932. Dẫn lại theo Thanh Lãng 13 năm tranh luận văn học, Nxb Văn học và Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học TP HCM, 1995, 121-128


Share/Save/Bookmark

Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2009

Văn học miền nam 54-75 trong cách nhìn của VƯƠNG TRÍ NHÀN hôm nay

Nguồn : blog Vương-Trí-Nhàn

Bài "nói chuyện với nhà phê bình Vương Trí Nhàn" đăng trên HỢP LƯU số 103 tháng 1&2 năm 2009

Trong những năm gần đây, chúng tôi cố gắng đưa vấn đề Văn học miền Nam trở lại văn đàn, bởi có một nhu cầu đến từ những người thực sự yêu văn chương ở trong nước muốn tìm hiểu về những tác giả và tác phẩm đã bị chính thức loại trừ sau 30/4/1975.
Trong chiều hướng đó, hôm nay, chúng tôi xin giới thiệu cùng quý vị, tiếng nói của nhà phê bình và nghiên cứu Vương Trí Nhàn, một trong những nhà văn mền Bắc đã không ngừng tiếp cận với văn học miền Nam từ thời kỳ phân chia Nam Bắc đến ngày nay.
Qua những nhận định và phân tích của Vương Trí Nhàn, chúng ta sẽ thấy sự tiếp cận văn học giữa hai miền chưa bao giờ thực sự gián đoạn, và riêng ông, ông mong được đóng góp tích cực vào việc mở rộng con đường hợp nhất hai nền văn học Nam Bắc để có thể vẽ nên toàn diện bộ mặt văn học Việt Nam trong thế kỷ XX.



Thụy Khuê: Thưa anh Vương Trí Nhàn, xin cảm ơn anh lại một lần nữa vui lòng đóng góp tiếng nói trên đài RFI. Trước hết xin hỏi anh là hiện nay có dấu hiệu nào cho chúng ta thấy là văn học miền Nam đã bắt đầu hiện diện lại trên địa bàn văn học ở trong nước hay chưa?
Vương Trí Nhàn: Lâu nay, Văn học miền Nam như cứ tồn tại một cách lấp lửng ở Hà Nội, lúc thì xuất hiện, lúc có vấn đề nổi lên, tuy không thành vấn đề lớn, vấn đề liên tục. Thời gian gần đây vì có chuyện một số sách của Dương Nghiễm Mậu được in lại, sau đó lại bị phê phán, thành ra có người nghĩ rằng nó đang bị đẩy lùi đi. Tôi thấy không phải, mà thực chất khoảng mùa thu năm ngoái, năm 2007, báo Văn Nghệ mở ra mục giới thiệu một số tác phẩm của văn học Sàigòn trước 75 và đã in một số truyện ngắn. Và đúng kỳ 30 tháng tư năm 2008 này, báo Văn Nghệ có ra số đặc biệt, lần đầu tiên đưa vào sưu tập mười truyện ngắn in ở Sàigòn trước năm 75, đấy là một điều đáng chú ý. Theo tôi, trong xã hội đang có nhu cầu muốn nhìn lại, tiếp cận lại bộ phận văn học này, tôi thấy đây là điều cần thiết và cũng muốn góp sức vào đó.

T.K.: Truớc khi đi xa hơn nữa, xin hỏi anh về tình hình trước năm 1975, ở Hà Nội thời ấy đã có ai đọc một vài tác phẩm của Văn học miền Nam hay không, và nếu có, chuyện đó đã xẩy ra như thế nào?
V.T.N.: Văn học miền Nam hồi đó về Hà Nội ít ỏi lắm ,muốn đọc khó lắm , nhiều khi phải mò mẫm đi tìm tìm thấy rồi, đọc thấy hay rồi muốn kêu lên với mọi người cũng phải tự nén lại . Song, một cách tự nhiên , một số người chúng tôi biết rằng có nó , đinh ninh tin rằng một người muốn làm văn học một cách đứng đắn phải tìm tới nó -- các nhà văn từ Nguyễn Tuân, Nguyễn Thành Long, rồi Xuân Diệu, Tô Hoài, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu... hay lớp trẻ bọn tôi như Lưu Quang Vũ, Bằng Việt , Trúc Thông hay một số bạn khác đã nghĩ như vậy. Không bồng bột không sôi nổi ào ạt , nhưng chúng tôi đã liên tục tìm kiếm , không bỏ qua một trường hợp nào mà không tìm kiếm . Có thể là chẳng ai hiểu văn học miền Nam cho đến đầu đến đũa , có thể sự hiểu chỉ loanh quanh ở những mảnh vụn, nhưng làm sao khác được , vừa đọc vừa đoán thêm tưởng tượng thêm cũng là quý lắm rồi . Và đã có một sự chia sẻ thậm chí như là giữa hai bên hình như vẫn có một cuộc đối thoại ngầm nữa . Vả chăng cái sự xa lạ là mãi về sau này mớí xuất hiện chứ ban đầu chính thức đâu có phải vậy. Có lần tôi đã tìm thấy một văn bản năm 56, ông Nguyễn Tuân, thay mặt cho giới văn nghệ Hà Nội, đã viết thư cho những người viết văn ở miền Nam, nói rằng chúng ta sẽ cùng lập một đoàn đại biểu để đi dự hội nghị nhà văn ở Tân Đề Ly, bên Ấn Độ và chúng ta sẽ chờ cơ hội sáng tác để góp phần vào nền văn hóa dân tộc. Đây là chuyện ít người biết cả người ở Hà Nội cũng không biết tôi cho rằng chúng ta nên tìm cách nhắc lại với nhau kẻo hiểu làm mãi , hiểu lầm và tự mình bó buộc mình một cách phi lý.
Về sau này , từ những năm cuối chiến tranh và nhất là ngay sau 1975 đôi lúc có cảm tưởng là với giới viết văn Hà Nội đời sống văn chương miền nam là bỏ đi những người viết văn ở Sàigòn trước kia toàn là kẻ thù cả. Không phải thế. Nói người ta cứ nói mà đọc người ta cứ đọc . Gần đây càng ngày tôi càng thấy nhiều ý kiến nói rằng đánh giá thế nào thì đánh giá, có thể phê phán, có thể nhận xét thế này thế kia, nhưng phải công nhận rằng văn học miền Nam là một bộ phận của văn học Việt Nam thế kỷ XX và ở đó có rất nhiều vấn đề, nhiều đóng góp và phải có nó nữa thì văn học Việt Nam mới là chính mình. Vậy phải nghiên cứu tìm hiểu hẹ thống hóa lại phải in lại Trên nguyên tắc không còn nghi ngờ gì nữa, chỉ còn làm thế nào cho đúng, cho tốt nhất, sự thực là không thể không làm được. Tôi cho là thời gian tới, việc này phải được triển khai một cách bài bản , tuy rằng đi vào cụ thể cũng có rất nhiều khó khăn.

T.K.: Thưa anh, qua những dịp nói chuyện với anh, tôi biết là anh đã đọc khá nhiều văn học miền Nam từ lâu rồi .Nhưng hình như trước đây anh ngại phát biểu về vấn đề này. Ngày nay, anh sẵn sàng trở lại vấn đề này một cách công khai . Vì sao như vậy, chắc ở đây phải có một lý do sâu xa?
V.T.N.: Đúng là thời gian gần đây, tôi cảm thấy không thể im lặng mãi mà cần nói nên nói . Sở dĩ vậy lý do rất đơn giản . Cái chính là đời sống trong nước gần đây có nhiều khó khăn, quá, không phải chỉ là vấn đề kinh tế mà còn nhiều mặt khác.Với tư cách là một trí thức, một người viết văn, điều làm tôi đau lòng nhất là nhìn thấy con người hiện nay, có cái gì đó như là suy thoái, tha hóa, tầm thường đi, trở nên hung hãn càn rỡ hơn, chỉ biết chiều theo những bản năng thấp, ham hưởng thụ và mệt mỏi, chán ngán, làm bậy. Tôi thấy chúng tôi những người viết văn có lỗI trong chuyện này và trước mắt phải nhận lấy trách nhiệm suy nghĩ và lý giải vấn đề này. Trong quá trình lý giải đó, tôi đi tới ý tưởng là con người hôm nay là hệ quả của chiến tranh . Nghĩ gì thì nghĩ, xã hội Việt Nam hôm nay là xã hội hậu chiến. Có người bảo đã 30 năm nay rồi; nhưng theo tôi, thực sự xã hội Việt Nam vẫn còn đang phát triển theo quy luật của chiến tranh và nếu chúng ta không nói rõ ra những đặc điểm của con người hậu chiến, không trở lại cuộc chiến tranh, thì không thể hiểu được đời sống trước mắt và không thể gọi ra căn bệnh của con người hiện nay được và cũng không thể góp phần chạy chữa và giúp con người sống tốt hơn được. Tôi tìm thấy ngay, những điều mà tôi suy nghĩ, ở Văn học miền Nam, cái phần mà tôi đã biết, đã đọc từ trước. Nó đã giúp tôi hiểu cả hai miền trong chiến tranh . Nó lại là cái sơ sở để cắt nghĩa tình hình hôm nay. Chúng ta đều biết rằng: trước 75, Văn học Việt Nam tồn tại ở hai mảng là Văn học miền Bắc và Văn học miền Nam. Nhưng có lúc trong tài liệu nghiên cứu, người ta chỉ thấy có Văn học miền Bắc thôi, còn bộ phận kia coi như không có. Hiện nay các sách văn học sử, hoặc là không viết gì, hoặc viết mấy câu qua loa có tính chất phê phán, nhưng sự thực là trong thời gian 45-75, rõ ràng chúng ta có hai nền văn học cùng tồn tại và hai nền văn học đó bổ sung cho nhau, mỗi bên có giá trị riêng và giá trị đó không thể bỏ được.

T.K.: Anh nghĩ như thế nhưng vẫn còn nhiều người nghĩ ngược lại anh, tại sao vậy?Và anh có lập luận nào để bảo vệ ý kiến anh?
V.T.N.: Sở dĩ đôi lúc người ta khó công nhận Văn học miền Nam là hình như họ nghĩ như thế này: tức là nếu công nhận Văn học miền Nam thì [Văn học] miền Bắc coi như là thua, là kém, là không ra gì cả, thậm chí là hỏng, là vứt đi. Tôi nghĩ "cách nghĩ chỉ có một [nền văn học] thôi" là không phải, vì như vậy sẽ gây ra nhiều rắc rối trong việc tiếp cận nhau. Tôi cho rằng chúng ta có cả hai [nền văn học], và hai bên bổ sung cho nhau. Tôi nghĩ độ một trăm năm sau, nếu muốn nhìn lại xã hội Việt Nam nửa sau thế kỷ XX, muốn hiểu con người sống như thế nào thì cần phải đọc cả hai. Nền văn học miền Bắc, tôi tạm gọi là văn học của chiến công, nền văn học lôi cuốn người ta đi vào cuộc chiến tranh, còn nếu nói có những trang sách nào diễn tả được con người trong chiến tranh thì tôi thấy nó rõ trong phần văn học miền Nam. Qua những cuốn sách tôi đã đọc, từ Võ Phiến Mai Thảo Nhật Tiến Thế Uyên… chỗ nào tôi cũng thấy chiến tranh xa gần đều có dây dưa tớI chiến tranh . Sát sườn hơn những tác phẩm của Y Uyên , Nhã Ca, của Phan Nhật Nam, hay những bài thơ của Nguyễn Bắc Sơn . Một ngườI như Dương Nghiễm Mậu, ngoài Cũng đành , Nhan sắc , Con sâu , tôi nhớ còn khá nhiều bút ký in trên bán nguyệt san Văn khoảng 1072-74 , ở đó có một nhân vật có tên là Trực , nhân vật Trực trở đi trở lạI nhiều lần vì hình như là chỗ để tác giả tự bộc lộ . Đọc những trang sách này , tôi hình dung ra được là chúng ta đã trải qua một cuộc chiến tranh ghê gớm như thế nào, con người Việt Nam đã bị thương như thế nào méo mó như thế nào , trở thành như thế nào qua cuộc chiến tranh đó. Tôi cho rằng, nếu trong truyền thống, chúng ta có mảng văn học chức năng, động viên thôi thúc con người hành động, ví dụ như Bình Ngô Đại Cáo hay thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, thì Văn học miền Bắc nối truyền thống đó rất rõ. Ngược lại, Văn học miền Nam nối tiếp truyền thống văn học của Nguyễn Du, của Đặng trần côn – Đoàn Thị Điểm, của Hồ Xuân Hương, Tú Xương, mảng nói về những đau khổ của con người và sự bơ vơ, khó khăn, bất lực, không biết đi lối nào trong đời sống này và cả tính bi thương, đau đớn của con người. Mảng đó tôi thấy rõ ở Văn học miền Nam đầy đủ hơn.

T.K.: Nếu đặt Văn học miền Nam vào mạch chung của thế kỷ XX, anh thấy nền văn học này đã giữ địa vị nào và đã làm được gì cho nền văn học dân tộc của chúng ta, nói chung?
V.T.N.: Chúng ta biết rằng thế kỷ XX là một bước chuyển của Văn học Việt Nam, trước đó chúng ta có nền văn học theo mô hình Trung Hoa, ở đó có hai bộ phận chính, một gần với dân gian, một nữa là văn học chức năng, văn dĩ tải đạo. Sang thế kỷ XX, văn học chúng ta hiện đại hóa tức là vận động theo mô hình văn hóa phương Tây, đến năm 1945 đã hoàn chỉnh. Sau năm 45, chúng ta có hai mảng văn học như tôi nói ở trên tức là Văn học miền Bắc và Văn học miền Nam. Văn học miền Bắc đi theo luật riêng , một mặt, nó tiếp theo văn học tiền chiến, và một mặt – mà là mặt chủ yếu -- thì muốn làm công việc khai phá mới , đi lại từ đầu, tức là đi từ văn học dân gian lên và phủ nhận những kinh nghiệm của thời tiền chiến. Đặt trong cái mạch chung thì đến đây bên cạnh phần nối tiếp, có sự đứt gẫy . Ngược lại, chính Văn học miền Nam, rõ nhất là thời kỳ 54-75, theo tôi là sự tiếp nối tiền chiến đầy đủ hơn, với những vấn đề mà các nền văn học Đông Nam Á thường thấy là sử dụng quan niệm văn hóa phương Tây, nói lên được đời sống con người đương thời, có sự nối tiếp những di sản cũ, có sự tiếp nhận một cách bình thường đối với ảnh hưởng nước ngoài. Nhìn đạI thể , nếu Văn học miền Nam trước sau vẫn nằm trong một mạch liên tục với nước ngoài , thì Văn học miền Bắc, trước 75, gần như cô lập, chỉ có mạch nối tiếp với Trung Hoa và Nga, nhưng chỉ tiếp nhận được cái phần bề ngoài , vả chăng, ngay cả Nga và Trung Hoa lúc đó cũng đứng cô lập với thế giới. Vì vậy, có thể nói: Văn học miền Nam là sự tiếp nối bình thường của văn học tiền chiến, -- tức là thuận theo cái dòng trôi chảy bình thường của lịch sử , chỉ có khác là trong điều kiện xã hội hậu thực dân, khi người Việt Nam bắt đầu nắm được vận mệnh mình và nghĩ phải làm sao đưa nền văn học của mình vào xây dựng xã hộI mớI , tuy nhiên tất cả là còn nham nhở dở dang và sớm buông xuôi mệt mỏi .

T.K.: Nếu cần tìm về bản chất Văn học miền Nam, theo anh, những giá trị nào là cơ bản của nền văn học này?
V.T.N.: Ở đây có hai giá trị cơ bản của văn học, giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo. Tôi hiểu giá trị hiện thực như thế này, đọc Văn học miền Nam trước 75, tôi hiểu con người Việt Nam trong chiến tranh, chúng ta thấy ở thành thị, quân đội nước ngoài tập trung đến, với bao nhiêu đảo lộn của con người; còn nông thôn thì nay thuộc phe này, mai phe kia, con người bị chiến tranh xua đẩy đi khắp mọi nơi, đấy là những bức tranh hiện thực. Có lần tôi đọc một cuốn sách ít người biết lắm, cuốn Bướm khuya của Túy Hồng, hay là cuốn Đoàn lữ binh mùa thu của Nhã Ca chẳng hạn, nhưng cuốn như thế cho thấy đời sống xã hội - nhất là qua các nhà văn nữ- khi Mỹ vào, được tổ chức như thế nào để chuẩn bị chiến tranh và đã gây bao nhiêu thay đổi trong đời sống con người. Cái hiện thực diễn tả ở đây không phải là cái hiện thực mà chúng ta quen nghĩ, tức là ở đó phải có giai cấp nọ, giai cấp kia, phải có địa chủ, tư bản, nông dân - quan niệm hiện thực đó nó cổ rồi, nó khô cứng- mà là không khí hiện thực chung, hiện thực ngột ngạt, đau đớn, có lúc như ma quái, người ta không thể nắm được, nó nằm ngoài người ta, người ta đành phải chấp nhận nó và cảm thấy ở trong một môi trường mà mình bị nung nóng lên, bị lệch mọi hành động và suy nghĩ của mình. Thì bức tranh về xã hội chiến tranh như thế, tôi thấy rất nhiều trong các tác phẩm của các nhà văn miền Nam, ở phần tốt nhất của họ, ở phần họ đúng là nhà văn, thì họ đã nói lên được thực trạng xã hội, ở đấy, đọc thấy rõ hơn, và có cảm tưởng như trở lại không khí của một đất nước, đã trải qua ba mươi năm quá đặc biệt. Đặc biệt trong đó có một chủ đề mà tôi cho là chủ đề nhân đạo, tức là nền văn học có sự thông cảm với con người, chia sẻ với con người. Có một số người hay hiểu nền văn học nhân đạo là văn học thương yêu con người, ca ngợi con người, đấy cũng là một cách hiểu. Nhưng theo tôi, điều quan trọng bậc nhất của chủ nghĩa nhân đạo là hiểu con người, thông cảm với con người, thấy tất cả những sự phức tạp, cái ghê gớm, cái kỳ lạ của con người, nhất là chia sẻ với con người trong trạng thái nhân thế của nó.

T.K.: Xin anh kể ra một vài tác giả hay tác phẩm nào trong nền Văn học miền Nam đã làm cho anh căn cứ vào đó để nói lên những điều anh vừa nói.
V.T.N.: Tôi nhớ là trong những cuốn sách của nhà văn Dương Nghiễm Mậu thì tôi thấy rất rõ những lúc, trong thời kỳ đầu, Dương Nghiễm Mậu có nhiều suy nghĩ rất trừu tượng, trong Cũng đành, về vấn đề tồn tại như thế nào, mình có quyền hành động gì, sự lựa chọn đúng hay sai, mình đúng như thế nào, bản mệnh đã bị dày vò thế nào, đấy là phần đến rất sớm ở Dương Nghiễm Mậu, Thanh Tâm Tuyền và một số người khác. Về sau, khoảng sau 72, tôi được biết là Dương Nghiễm Mậu cũng có những tiểu thuyết như Con sâu, cũng đã diễn tả tâm trạng đời sống con người trước 75. Rất tiếc là tôi chưa được đọc cuốn này nhưng tôi được đọc nhiều bút ký ngắn của Dương Nghiễm Mậu tả những chuyến đi theo các đơn vị quân đội đến Tây Nguyên, ra Quảng Trị và nhân vật các sĩ quan trẻ trong đó, tôi thấy diễn tả được hết những đau đớn của con người, chứng kiến đất nước mình, lớp trẻ bị chết, bị thương, mất hết sự thiêng liêng của đời sống và bơ vơ không biết làm thế nào.
Một tác giả nữa, mà khoảng năm 72, bọn tôi ở quân đội cũng rất xúc động, xôn xao lên là cuốn của Phan Nhật Nam, không phải cuốn nhiều người hay nói tới là cuốn Mùa hè đỏ lửa, diễn tả không khí chiến trường rất ác liệt, mà là cuốn trước đó, cuốn Dấu binh lửa. Theo tôi, Dấu binh lửa có giá trị rất lớn, vì nó cho thấy sự tan vỡ tâm hồn, tan vỡ đời sống tinh thần của người thanh niên lớn lên trong một đất nước chiến tranh. Từ chỗ là một người đầy nhiệt huyết, muốn biết, muốn hiểu, muốn đóng góp, muốn làm cái gì cho dân, cho xứ sở, biến thành người hư hỏng, chán ngán, không còn là mình nữa và biết là mình lội sâu vào trụy lạc, hư hỏng và con người trở nên trâng tráo, chai lỳ, bất nhẫn, Phan Nhật Nam kêu lên là mình không còn là mình nữa, mình đã đánh mất mình rồi, xã hội đã làm hỏng mình rồi. Tất cả những điều đó đều đọc được trong Dấu binh lửa. Tôi nhớ là tôi hay nói chuyện với những nhà văn như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, các anh đều công nhận rằng đọc cuốn sách này thấy rất rõ sự vận động tâm lý, vận động đời sống tinh thần của con người trong xã hội như thế và bọn tôi ghi nhận ngay cách diễn tả, cách viết rất trực tiếp và khả năng sử dụng tiếng Việt của Phan Nhật Nam trong Dấu binh lửa ở một tác phẩm có tính chất tự thú như thế. Sau này Bảo Ninh có viết Nỗi buồn chiến tranh, đọc Nỗi buồn chiến tranh tôi lại nhớ đến Dấu binh lửa và tôi có đưa cho anh Bảo Ninh xem, Bảo Ninh nói với tôi: Nếu tôi đọc cuốn Dấu binh lửa này thì có lẽ tôi sẽ viết khác đi. Tôi có cảm tưởng rằng đây là một trong những cuốn sách viết về chiến tranh mà bọn tôi ghi nhớ mãi và cho rằng ở chỗ đó, nó thể hiện đầy đủ những đóng góp của Văn học miền Nam, tức là ghi nhận được trạng thái nhân thế, tinh thần của con người một thời, tất cả những đau đớn, vật vã của con người trong một hoàn cảnh phi nhân văn và chính từ đó chúng ta có thể giải thích tất cả những biến động trong đời sống từ sau 75 đến nay.

T.K.: Thưa anh, có thể nói là sự trở về với Văn học miền Nam của anh còn có một lý do khác, đó là từ khi về hưu anh có nhiều thì giờ đọc hơn và anh cũng đã khám phá ra nhiều cái mới.
V.T.N.: Tôi cũng xin thú thật là, gần đây, về hưu rồi, tôi mới có điều kiện đọc nhiều, một trong những say mê của tôi là đọc sử của mình suốt những thời kỳ cũ. Thật ra ở Hà Nội người ta viết sử rất kém, từ lúc tôi đi học đã... không có sử. Rất xấu hổ phải nói là một người viết văn, trí thức như bọn tôi, mà chưa bao giờ tiếp xúc một cách nghiêm túc với những bộ sử rất quan trọng của chúng ta như bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Việt Sử Cương Giám Khâm Mục hay những bộ sử sau này như Đại Nam Thực Lục của triều Nguyễn chẳng hạn hay sử Việt Nam đầu thế kỷ XX, thời người Pháp sang tổ chức lại xã hội của mình. Tất cả những trang sử ấy, bọn tôi biết quá ít, sự thực là chúng tôi có những định kiến sai lầm, những thành kiến, rồi cứ nuôi những thành kiến đó mà cứ tưởng đó là chân lý. Tôi có được may mắn là tự tìm ra được niềm vui đọc lại những cái đó và từ mảng ấy, tôi hiểu được đời sống hôm nay. Thế thì Văn học miền Nam cũng là một bộ phận, một di sản của dân tộc, nó như những bức ảnh, những cuốn phim, ghi lại đời sống một thời. Với những nhà văn của một đất nước, với tư cách là trí thức của đất nước, tôi nghĩ chúng ta rất cần lùi xa lại quá khứ và từ khoảng cách xa như thế, nhìn chung cả lịch sử tinh thần của dân tộc, chúng ta sẽ có được những khái quát để đóng góp xây dựng đời sống trước mắt.

T.K.: Tôi biết là anh đang có một dự định nghiên cứu dài hơi, anh có thể cho biết sơ qua về công việc mà anh đang bắt đầu làm không?
V.T.N.: Tôi đang làm việc tổng kết lại hoạt động của đời mình, theo nghĩa là dù mình có mấy chục năm làm việc nhưng nó cũng như là một bản nháp lộn xộn, bây giờ tìm xem cái gì là chính, vì thế, tôi nhận viết cuốn sách về văn học Việt Nam thế kỷ XX. Trên con đường ấy, tôi nghĩ là chúng ta phải đánh giá lại Văn học tiền chiến, để thấy nó như là biểu hiện dạng thức văn hóa dân tộc trong nửa đầu thế kỷ XX, sang nửa sau, phải kể cả mảng Văn học miền Bắc (Văn học cách mạng) và Văn học miền nam. Trong quá trình xử lý như thế, tôi biết rằng sự chuẩn bị còn quá ít và chưa đầy đủ và bọn tôi còn có những thiếu sót rất cơ bản, thí dụ khả năng có thể tiếp xúc được với những ngành nghiên cứu mới nhất của phương Tây, thì lại không có, chỉ mầy mò thôi. Và có lẽ việc làm đầu tiên là mình phải thay đổi quan niệm, phải cởi mở, cởi mở theo nghĩa không phải để cho qua mà chính là để xác thực với thực tế hơn, gần với sự thực, gần chân lý hơn. Tôi mong muốn cả những người viết văn ở Hà Nội, ở Sàigòn cũ và bây giờ một số ở nước ngoài, tôi nghĩ rằng chúng ta cũng đã có một thời gian nào đấy để nghĩ lại và vượt qua thành kiến cũ của mình, tạo được sự mới mẻ với đời sống văn hóa, văn học của dân tộc trong thế kỷ XX. Tức là chúng ta phải chấp nhận điều chúng ta phải thay đổi.

T.K.: Vừa rồi anh nhấn mạnh đến việc chúng ta phải thay đổi, theo anh, cái mà chúng ta phải thay đổi ở đây cụ thể là gì? Và tại sao chúng ta lại phải thay đổi? Bài học quá khứ đã cho ta những kinh nghiệm như thế nào?
V.T.N.: Đối tượng vẫn thế thôi, nhưng sự tiếp cận của chúng ta hôm qua đã thất bại thì hôm nay phải đổi cách nhìn, phải có những công cụ mới, cái nhìn mới. Trong thực tế đời sống nghiên cứu văn học, văn hóa ở Hà Nội cũng đã có như thế: trong một thời gian dài ở Hà Nội Văn học tiền chiến coi như rất yếu kém, nhiều hư hỏng. Những tác giả như Vũ Trọng Phụng coi như không được in lại, Nguyễn Công Hoan cũng có những sai lầm, Ngô Tất Tố cũng hạn chế, Tự Lực Văn đoàn coi như vứt đi hết, chỉ có Thạch Lam được yêu mến một chút thôi, chứ còn tất cả đến bây giờ vẫn coi lãng mạn là xa rời đời sống, nhiệm vụ dân tộc. Từ lúc trước 75 hiểu như thế, đến bây giờ thì khác hẳn, bây giờ lại bắt đầu nhìn Văn học tiền chiến như một niềm tự hào của văn hóa, văn học dân tộc, thì tôi thấy rõ ràng chúng ta đã thay đổi, tôi muốn rằng sự thay đổi ấy cũng sẽ đến với Văn học miền Nam, trong cái nhìn Văn học miền Nam trước 75. Tôi thấy, ví dụ như người Nga, họ cũng nhìn thấy ở văn học hải ngoại của họ, người Trung Hoa cũng tìm thấy ở Văn học Đài Loan, Văn học Hồng Kông những giá trị. Ở Đài Loan có những nhà văn như Bạch Kiến Chúc mà các sách văn học sử của Bắc Kinh coi là quan trọng của nền Văn học Trung Hoa thế kỷ XX. Những quan niệm của mình phải thay đổi. Người ta lại bảo có những hạn chế. Tôi thấy ai mà chẳng có hạn chế, ví dụ bây giờ đọc bất cứ cuốn sách nào ở Hà Nội, đều thấy nói rằng Nguyễn Du có nhiều tư tưởng hạn chế, nhưng không phải vì hạn chế ấy mà tất cả chúng ta bỏ, không say mê Kiều và cảm thấy Kiều là phần thân thiết, gần gũi và là một tiếng nói tâm hồn của chúng ta. Tôi thấy trong việc trở lại Văn học miền Nam, vẫn còn nhiều thành kiến cũ, vẫn có những ngần ngại, cố chấp làm chúng ta khó thay đổi. Tôi thấy cần phải có sự giải phóng tư tưởng, và phải có những tiêu chuẩn rất cơ bản, thí dụ như tiêu chuẩn vì quyền lợi chung của dân tộc, vì tính chất nhân đạo, tính chất nhân văn của con người. Những tiêu chuẩn ấy mới là những sâu xa của văn học và trên những cơ sở như thế tôi tin rằng việc này sẽ được tiếp tục tốt hơn.

T.K.: Nếu so sánh sinh hoạt văn học hiện nay ở trong nước với sinh hoạt văn học miền Nam trước 75, anh có thấy điểm tương đồng nào giữa hai nên văn học này?
V.T.N.: Gần đây tôi thấy rõ ràng là văn học ở trong nước hiện nay đang có nhiều điểm giống như Văn học miền Nam trước 75, kể cả sự phát triển văn hóa đại chúng, kể cả sự học đòi nhiều lúc hơi xô bồ, tuỳ tiện đối với phương Tây, cái mệt mỏi của con người, nỗi băn khoăn của người trí thức để có một nền văn học khác đi, so với sức cuốn của xã hội hiện đại. Nhiều lúc ở Hà Nội này, tôi đọc và tôi cảm thấy những hiện tượng quanh mình tôi đã gặp một lần đâu đó, và tôi nhớ lại là trước năm 75 tôi đã đọc ở Sàigòn, bên cạnh Bách Khoa, bên cạnh Văn, đã có những nhốn nháo, nhố nhăng, tùy tiện rất buồn cười mà ngay lúc bấy giờ nhiều người đã kêu rồi. Ngay ở phương diện ấy, Văn học miền Nam cũng đã làm bước hội nhập đi trước so với văn học trong nước bây giờ mà các nhà văn trẻ hiện nay đang muốn thay đổi, họ cũng không muốn viết, không muốm sáng tác như những người đi trước, như bọn tôi, nữa; thế nhưng sự chuẩn bị không có. Sự chuẩn bị này, dĩ nhiên lỗi không phải ở lớp trẻ mà là ở lớp người đi trước, chúng tôi đã không góp phần chuẩn bị cho họ, thành ra, ngay ở phương diện này, các nhà văn trẻ cũng có thể tìm thấy trong các tác phẩm của các nhà văn miền Nam, những ví dụ, những bài học, để học theo, những bài học hữu ích cho công việc của họ.

T.K.: Chắc anh cũng đồng ý với tôi là mặc dù giới trẻ trong nước hiện nay không có cơ hội trực tiếp tiếp xúc với Văn học miền Nam, nhưng nếu chúng ta nhìn kỹ, tìm tòi kỹ thì chúng ta vẫn thấy có một vài ảnh hưởng nào đó của Văn học miền Nam trên một số tác giả trẻ hiện nay. Vậy anh có thể lý giải cụ thể thế nào về hiện tượng này?
V.T.N.: Cụ thể thế này. Chúng ta đều biết rằng Văn học miền Nam vẫn có cách xuyên thấm vào đời sống. Ví dụ như thơ, các hội thơ gần đây đã bắt đầu đưa Thanh Tâm Tuyền lên thành một tìm tòi của thơ thế kỷ XX ở Việt Nam và trong dư luận miệng tức là trong các cuộc trao đổi, mọi người trông vào các tìm tòi của các nhà thơ ở miền Nam trước 75 như những bước khai phá tiếp tục Thơ Mới, để tìm tới một giai đoạn mới của thơ và để thơ Việt Nam hội nhập thế giới. Tôi cho là thơ của các nhà thơ ở miền Nam trước 75, trong chừng nào đó, nó đã giải quyết việc này, một cách liên tục, một cách đại trà rộng rãi, và đã đạt được mức thành công. Nó sẽ góp phần thúc đẩy văn học trong nước. Tôi thấy tình trạng trong nước bây giờ rất trì trệ và có cái gì như là bế tắc, người ta muốn tìm nhưng không biết tìm gì và cái tìm ra thì thiếu điều kiện cơ bản cho nên không phải là cái mà người ta cần. Tôi thấy ngay đến cả các vấn đề như thế nào là tiểu thuyết? văn xuôi là như thế nào? chấp nhận phương Tây như thế nào? thì các nhà văn trẻ bây giờ cũng có thể đọc lại các nhà văn miền Nam trước 75. Thế rồi cách thể hiện cá nhân như thế nào? quan hệ cá nhân, xã hội thế nào? họ cũng có thể tìm thấy trong các nhà văn miền Nam cách thể nghiệm của mình. Giới nghiên cứu chúng tôi cũng thấy điều đó, chính chị Thụy Khuê đã có lần viết trong bài Văn học miền Nam, về việc xây dựng Văn học miền Nam ở Sàigòn trước năm 75, có những nhóm người trẻ lúc bấy giờ đầy những ao ước xây dựng nền văn nghệ mới, qua giai đoạn tiền chiến rồi, qua giai đoạn Pháp cai trị rồi, một nền văn nghệ của nước mình. Việc mà nền Văn nghệ miền Nam làm được: thứ nhất là tiếp nhận di sản cũ, nối tiếp truyền thống các nhà văn cũ và thứ hai là tiếp nhận một cách bình thường văn học, văn hóa nước ngoài, coi đó là nguồn góp ý cho mình, coi đó là cách mình có thể tựa vào để phát triển.

T.K.: Xin hỏi anh về di sản văn học. Theo anh thì Văn học miền Nam có vai trò gì trong việc bảo tồn Văn học tiền chiến và trên mặt nghiên cứu văn học, theo anh, miền Nam có để lại thành quả nào mà anh thấy vẫn còn hữu ích cho giới làm văn học hiện nay không?
V.T.N.: Trong việc di sản Văn học tiền chiến, thì trong một thời gian dài, ở Hà Nội mất đi rất nhiều, nhiều tài liệu bị cất vào thư viện, sau đó không ai đọc, cuối cùng không biết ở đâu. Thì chính là ở Sàigòn, nhiều nhà nghiên cứu, nhà văn đã bắt đầu có sự nối tiếp, chuẩn bị, sưu tầm tài liệu, đã góp phần làm dài di sản chung của chúng ta. Gần đây, như tôi biết, Từ điển văn học đã đưa vào một cuốn sách văn học sử mà riêng bản thân tôi rất thích thú và đã mua về để coi như là cuốn sách rất tốt về văn học sử Việt Nam, đó là cuốn Việt Nam văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ. Những người có theo dõi văn học Sàigòn, đều biết hồi ấy có nhiều người rất nổi trên phương diện nghiên cứu văn học và biên khảo, ông Phạm Thế Ngũ chỉ là một nhà giáo và cuốn sách mà tôi nói chỉ là một cuốn giáo trình; nhưng thực sự gần đây, tất cả mọi người đều công nhận đó là một cuốn sách viết rất nghiêm túc về Văn học Việt Nam nói chung, bằng chứng là cuốn sách đó đã được đưa vào Từ điển văn học, do nhóm của Viện Văn Học chủ trì. Tất cả những thành tựu của Văn học miền Nam, như cuốn sách về triết học của Trần Thái Đỉnh, cuốn Triết học hiện sinh cũng đã được in lại. Hôm qua tình cờ tôi đọc lại cuốn Văn học miền Nam Tổng quan của Võ Phiến, thì ông Võ Phiến cho biết cuốn đó có thời gian là cuốn bán chạy nhất, năm nó ra đời ở Sàigòn. Điều đó tôi rất thông cảm bởi vì hiện nay ở Hà Nội cũng thế thôi: có một khao khát tiếp nhận những cái mới của phương Tây, tiếp cận những tinh hoa của họ, tôi thấy việc đó thì Văn học miền Nam đã đi trước và để lại những thành quả mà bây giờ chúng tôi không dễ gì vượt qua.

T.K.: Thưa anh, nếu đưa được nền Văn học miền Nam trở lại văn đàn thì anh thấy điểm nào có thể giúp ích ngay cho sinh hoạt văn học hiện nay trong nước?
V.T.N.: Nhìn chung, tất cả những phần đóng góp của Văn học miền Nam đối với nền văn học dân tộc, hứa hẹn nhiều bài học quý báu cho việc xây dựng nền văn nghệ của chúng ta. Thí dụ việc xây dựng ngôn ngữ văn học. Hiện nay trong đời sống Hà Nội, ngôn ngữ giao tiếp thông thường... rất kinh khủng. Hôm nọ có người viết bài về việc giữ chủ quyền trong ngôn ngữ, ý nói đang có cuộc xâm lăng ngôn ngữ từ tiếng Anh, đến tiếng Hán xâm nhập vào tiếng nói rất loạn xạ, và ngay cả ngôn ngữ văn học của những người cầm bút hiện nay cũng hết sức lộn xộn, hết sức nhếch nhác, lâu lắm không có người viết văn hay. Trong lúc đó, tôi đọc lại Văn học miền Nam, với những ngòi bút bậc thầy, ở phần hay nhất của mình, thì Mai Thảo có những trang viết hết sức văn học, rất hay, Võ Phiến có giọng văn riêng, cho thấy một đời sống tinh thần không thể có ở thời tiền chiến được. Rồi rất nhiều nhà văn khác, như Dương Nghiễm Mậu, Phan Nhật Nam, v.v... cả những nhà văn tương đối phổ thông hơn như Thụy Vũ, Nhã Ca, Trùng Dương, Túy Hồng v.v... ở họ, đều là những thể nghiệm ngôn ngữ mà đi sâu hơn thì ở đó nó có cái mạnh của tiếng nói Hà Nội, có cả cái mạnh của văn hóa miền Nam, của Sàigòn lục tỉnh, tôi thấy hai điều đó được kết hợp nhuần nhụy trong những nhà văn, một số nhà văn di cư, mang lại cho ngôn ngữ văn học của Văn học miền Nam một mực thước và sau đó đạt cái chuẩn mà đến bây giờ bọn tôi vẫn trông vào đó để học hỏi. Hoặc trong việc dịch những tác phẩm văn học nước ngoài sang tiếng Việt, cách xử lý tiếng Việt của các dịch giả, tôi thấy đó là điều bọn tôi phải nể và phải tiếp nhận học hỏi và phải công nhận những đóng góp của họ. Tôi chỉ muốn nói là gần đây tôi đã có phản ứng như thế và rất muốn chia sẻ với mọi người như thế.

T.K.: Thưa anh, câu chuyện đã khá dài, trước khi từ giã, anh thấy có những điều gì anh muốn nói thêm về việc đưa Văn học miền Nam trở lại văn đàn, điều mà anh thật sự hết lòng mong muốn thúc đẩy.
V.T.N.: Tôi chỉ muốn nói một điều là hiện nay tôi bị ám ảnh bởi điểm là chúng ta đến chậm quá, làm muộn quá. Hiện nay nếu muốn quay trở lại Văn học miền Nam, ngoài khó khăn tôi nói trên về tư tưởng, cách làm việc, thì khó khăn vật chất rất cụ thể như tư liệu thì mất rất nhiều và không ai chuyên tâm. Lòng người thì vẫn tâm lý hậu chiến tức là vẫn bị ảnh hưởng ngày hôm qua, không tách ra được để nhìn đối tượng văn hóa, bình tĩnh làm công việc một cách tốt hơn. Gần đây trên mạng talawas cũng đã trích đăng lại một só tác phẩm cũ của Văn học miền Nam, ở bên Mỹ, nhiều tác phẩm cũ được in lại, nhưng tôi vẫn cảm thấy chưa đủ. Thỉnh thoảng trao đổi với một vài nhà nghiên cứu khác cũng thấy thế. Chúng tôi có cảm tưởng mỗi người nắm một tí, tức là mỗi người chỉ nắm được phần của mình thôi, còn sự thực những người nắm được bao quát chung thì không có và hiện nay tài liệu cũng rất thiếu sót. Cụ thể những bộ báo, sách quan trọng như tập Bách Khoa, Văn... thì không biết ở trong và ngoài nước người ta còn bao nhiêu và làm thế nào đưa nó lên thành tài liệu nghiên cứu cho tất cả mọi người. Làm được như thế thì cũng đòi hỏi một nỗ lực rất lớn, văn học mạng hiện nay rất phát triển nhưng không ai làm việc lưu trữ này, dự trữ tài liệu, để thúc đẩy việc nghiên cứu Văn học miền Nam. Trong quá trình nghiên cứu văn học, tôi rất muốn có dịp nào đó chúng ta cùng trở lại Văn học miền Nam, đọc lại nó để hiểu nó.

T.K.: Xin thành thật cám ơn anh Vương Trí Nhàn.

Thụy Khuê thực hiện
Chương trình Văn học nghệ thuật RFI, ngày 14 và 21/6/2008

Share/Save/Bookmark
Related Posts with Thumbnails