Hiển thị các bài đăng có nhãn Phan Châu Trinh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phan Châu Trinh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 8 tháng 1, 2011

Phụ lục : Vì sao Phan Châu Trinh phó thác "đại sự" cho Phan Khôi ?

Nguồn : RFI
Phan Châu Trinh
Phan Châu Trinh
Thụy Khuê

Năm 1922, đối với nhóm Ngũ Long, có hai sự kiện quan trọng xẩy ra: Phan Châu Trinh gửi thư ngỏ cho Nguyễn Ái Quốc và ông gặp Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh tại Pháp. Hai sự kiện này chứng tỏ Phan Châu Trinh sửa soạn về nước, đoạn tuyệt với Nguyễn Tất Thành, và tìm sự đồng thuận của những người chủ trương ôn hoà như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh. Về tới Sàigòn năm 1925, Phan Châu Trinh gửi gấm "đại sự" cho Phan Khôi.

Năm 1922 là năm bản lề, đánh dấu ngõ quặt của nhóm Ngũ Long: Bắt đầu về nước tranh đấu. Người đầu tiên là Nguyễn An Ninh. Về bối cảnh chung, 1922 có một số sự kiện xẩy ra:

Hội chợ đấu xảo được tổ chức ở Marseille.
Đầu năm1922, Phan Châu Trinh xuống Marseille để làm việc tại hội chợ. Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Phạm Duy Tốn, đại diện các nhà văn nhà báo Bắc Kỳ sang dự đấu xảo.
Tháng 2/1922, Phan Châu Trinh gửi thư ngỏ cho Nguyễn Ái Quốc.
Tháng 5/ 1922, Phan Châu Trinh gặp gỡ các nhà trí thức sang Pháp dự hội chợ.
Tháng 6/1922, Vua Khải Định tới Pháp. Một phong trào bài kích nhà vua nổi lên với Thất điều thư của Phan Châu Trinh (kể bảy tội của vua Khải Định) với các bài báo và vở kịch Dragon de bambou (Rồng Tre) (1) ký tên Nguyễn Ái Quốc.

Nhóm Ngũ Long đả kích vua Khải Định là lẽ tất nhiên, tuy lời lẽ có hơi quá đáng vì sự thực thì nhà vua cũng không còn quyền hành gì cả. Nhưng có hai sự kiện đáng chú ý hơn là việc:
1- Phan Châu Trinh viết bức thư ngỏ gửi Nguyễn Ái Quốc đề ngày 18/2/1922.
2- Phan Châu Trinh gặp gỡ Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh.

I- Lá thư ngỏ của Phan Châu Trinh gửi Nguyễn Ái Quốc

Trước hết, tại sao Phan Châu Trinh lại gửi cho Nguyễn Ái Quốc, mà không gửi cho Nguyễn Tất Thành? Dù ông thừa biết Nguyễn Tất Thành không phải là tác giả những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc.
Lý do nằm trong nội dung lá thư: Phan Châu Trinh viết chung cho các tác giả ký tên Nguyễn Ái Quốc và có đoạn viết riêng cho Tất Thành, người chính thức nhận tên Nguyễn Ái Quốc.

Khi nhắn các tác giả viết bài ký tên Nguyễn Ái Quốc, ông viết:
"Thực trạng dân tình thế thái bên nhà, bọn mình biết rõ, bấy lâu nay, bọn mình ở bên này có đăng báo chương, hô hào các hạng người Pháp có lương tâm ngõ hầu giúp người An Nam đánh đổ cường quyền áp chế, nhưng kết quả chẳng được là bao. Cái khát vọng bình đẳng, tự do, bác ái mà ông Mạnh Đức Tư Cưu [Montesquieu], ông Lư Thoa [Rousseau] khởi xướng chẳng nhỏ được giọt nào trên đất An Nam mình" (Theo bản dịch của Hoàng Xuân Hãn, in trong cuốn Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911/1925 của Thu Trang, Đông Nam Á 1983 trang 135-140).

Trong một đoạn khác, ông viết:
"Bấy lâu nay, tôi cùng anh và Phan [Văn Trường] đàm đạo nhiều việc, mãi tới bây giờ anh cũng không ưa cái phương pháp khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh của tôi. Còn tôi thời lại không thích cái phương pháp ngọa ngọa chiêu hiền, đãi thời đột nội [ngồi ngoài đợi thời] của anh và cả cái dụng lý thuyết thâu nhân tâm của Phan. Bởi phương pháp bất hoà mà anh đã nói với anh Phan là tôi là hạng hủ nho, thủ cựu. Cái điều anh gán cho tôi đó, tôi chẳng giận tý nào cả, bởi vì suy ra thì tôi đã thấy rằng: Tôi đọc chữ Pháp bập bẹ, nên không am tường hết sách vở ở cái đất văn minh này. Cái đó tôi đã thua anh xa lắm, đừng nói gì đọ với anh Phan."
Tuy Tây Hồ dùng chữ anh, nhưng lời nhắn vẫn hướng về cả ba người trẻ Ninh, Truyền và Thành (hai ông Phan cùng thế hệ), ông trách họ dám coi ông là hủ nho, thủ cựu, và hướng về Tất Thành, còn có ý mỉa mai: Tôi đọc chữ Pháp bập bẹ, nên không am tường hết sách vở ở cái đất văn minh này. Cái đó tôi đã thua anh xa lắm, đừng nói gì đọ với anh Phan."

Rồi ông tiếp tục mắng mỏ lối viết báo tiếng Tây: "Tôi coi lối ấy phí công mà thôi. Bởi vì, quốc dân đồng bào mấy ai biết chữ Tây, chữ quốc ngữ, cầm tờ báo mà đọc nổi".
Và ông kiên quyết trở về với chủ trương của mình: "Theo ý tôi thì mình mà học hỏi lý thuyết hay, phương pháp tốt, tóm thâu được chủ nghiã, có chí mưu cầu lợi quyền cho quốc dân, đồng bào thì đừng có dùng cái lối nương náu ngoại bang để rung chuông gõ trống, mà phải trở về ẩn náu trong thôn dã, hô hào quốc dân đồng bào, đồng tâm hiệp lực đánh đổ cường quyền áp chế, ắt là thành công. Anh không nghe lời tôi nói, anh ở hoài bên này, cứ cái lối đó thì tài năng của anh khác gì công dã tràng".

Để nhắn riêng Nguyễn Tất Thành, ông nhấn mạnh những điểm sau đây:
"Tôi biết anh hấp thụ được cái chủ nghiã của ông Mã Khắc Tư [Karl Marx] ông Lý Ninh [Lénine] nên tôi cũng đem chuyện hai ông ấy mà giảng dẫn cho anh rõ". Rồi ông kể lại việc cả Karl Marx lẫn Lénine đều có một thời bị đuổi ra nước ngoài, nhưng sau đó họ đều tìm cách trở về nước để tranh đấu và ông kết luận: "Cứ xem hai ông Mã, Lý mà anh tôn thờ chủ nghĩa, có ông nào dùng cái lối nương náu đất người mà làm quốc sự cho mình, như anh đâu? Bởi vậy, quả như anh tôn thờ lý thuyết hai ông ấy thì anh nghe tôi mà về quảng cáo cho quốc dân đồng bào."

Rồi ông nói về những hình phạt dành cho đường lối bạo động: "Ông Đề Thám bị bêu đầu giữa chợ, Ông Phan Đình Phùng bị đào mả ném xuống sông, ông Hàm Nghi, Duy Tân, Thủ Khoa Huân bị đầy biệt xứ và nhiều không kể xiết sự đầu rơi máu chảy".
Cuối cùng ông khuyên Tất Thành nên về nước để "mưu đồ đại sự".

Lá thư ngỏ này, chắc Phan Châu Trinh đã đưa cho Nguyễn Văn Vĩnh một bản để dịch sang tiếng Pháp vì chúng tôi thấy bản tiếng Pháp và bản dịch ra quốc ngữ (từ bản tiếng Pháp) trong tập tài liệu tựa đề Kỷ niệm 115 ngày sinh ông Nguyễn Văn Vĩnh, do gia đình ấn hành năm 1997. Bản dịch được trích dẫn trên đây là bản dịch của Hoàng Xuân Hãn do Thu Trang tìm thấy trong hồ sơ mật thám, và theo Hoàng Xuân Hãn thì đây cũng chỉ là một bản chép lại.

Lá thư này rất quan trọng, vì nó xác định những điểm khác biệt tư tưởng trong nhóm Ngũ Long do chính ngòi bút của Phan Châu Trinh viết ra:

1- Phan Châu Trinh không đồng ý với đường lối tranh đấu của nhóm Tây học: theo ông, việc viết các bài báo tiếng Pháp đả kích thực dân trên báo Pháp là vô ích. Tư tưởng của Rousseau và Montesquieu không thể đến được với dân Việt Nam.
2- Ông xác định một lần nữa phương pháptranh đấu của ông: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.
3- Ông chống lại cách mạng bạo động và kêu gọi về nước tranh đấu bất bạo động.

Xin nhắc lại: Con đường đấu tranh chung của nhóm Ngũ Long là đuổi Pháp, giành độc lập và dân chủ hoá đất nước. Nhưng họ khác nhau ở cách thực hiện các mục đích này :
- Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Thế Truyền, chủ trương dùng ngòi bút (tiếng Pháp) để đấu tranh trên đất Pháp (và sau này trên đất Việt), vạch tội ác của chính quyền thực dân, đánh động người Pháp dân chủ, để họ bãi bỏ chế độ thuộc địa.
- Phan Châu Trinh viết nhiều kiến nghị cho toàn quyền Albert Sarraut, yêu cầu thay đổi chính sách cai trị.
- Nguyễn Tất Thành chủ trương cách mạng bạo động theo con đường cộng sản.

Trong ba điểm chính mà Phan Châu Trinh nêu ra trong lá thư ngỏ gửi Nguyễn Ái Quốc, chỉ có điểm thứ nhất là hoàn toàn khác biệt với đường lối của nhóm Tây học: Họ chủ trương vạch tội ác của thực dân trên báo, tìm sự hưởng ứng của người Pháp dân chủ, để nước Pháp bãi bỏ chế độ thực dân; nhưng Phan Châu Trinh lại cho rằng cách ấy vô ích. Ngược lại Phan Văn Trường cho rằng việc Phan Châu Trinh viết thư yêu cầu toàn quyền và chính quyền thực dân thay đổi chính sách là vô ích.

Còn hai điểm sau, khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh và về nước tranh đấu bất bạo động của Phan, đều được sự hưởng ứng của Trường, Ninh và Truyền. Có thể bốn người đã bàn bạc với nhau để thành lập kế hoạch "Ngũ Long tề khởi". Duy Nguyễn Tất Thành hành động khác.

Phan Châu Trinh công bố thư ngỏ tháng 2/1922. Nguyễn An Ninh là người về nước đầu tiên, mùa thu 1922. Ra báo La cloche fêlée ngày 10/12/23. Phan Văn Trường về tới Sàigòn ngày 21/1/1924. Năm 1924, Ninh sang Pháp ở lại khoảng một năm và đón Phan Châu Trinh về nước tháng 6/1925. Năm 1927, Ninh lại sang Pháp, lo liệu mua vé tàu cho gia đình Nguyễn Thế Truyền về nước.

Vậy chương trình "Ngũ Long tề khởi" mà Phan Châu Trinh đề xướng, đã được nhóm Tây học thực hiện. Dĩ nhiên là họ không làm theo cách của Tây Hồ mà làm theo cách của họ: Đem tư tưởng tự do dân chủ của Pháp về truyền bá tại Việt Nam và chống thực dân bằng báo tiếng Pháp trên đất Việt. Nguyễn An Ninh là người "theo sát" nguyện ước về nước tranh đấu trong lòng dân tộc của Phan Châu Trinh. Nguyễn Thế Truyền khi bỏ báo Le Paria để làm báo Việt Nam Hồn, có thể đã nghe lời Phan Châu Trinh.

Các sự kiện này được Hồ Hữu Tường ghi lại trong hồi ký, như sau:
"Theo lời cụ Phan Văn Trường thuật lại, thì năm 1922, khi Nguyễn An Ninh sắp sửa về nhà mà sáng lập tờ báo La Cloche fêlée, thì cụ Phan Châu Trinh có đưa ra một phân công, gọi là "ngũ long tề khởi". Tại quê nhà, bầu không khí thực dân và phong kiến còn quá nặng, Ninh lãnh sứ mạng đem tư tưởng dân quyền của Pháp ra mà "dĩ di diệt di". Nên chi báo của Ninh nêu lên đường lối là "cơ quan tuyên truyền cho tư tưởng Pháp" (organe de propagande des idées françaises).(...) Còn hai cụ Phan thì chờ Ninh xung phong, dọn dẹp chông gai bên nhà, hai cụ sẽ về góp sức mà tiến lên gây một phong trào dân chủ. Nhưng mà theo kế hoạch nầy, phân ra thì có, mà tụ lại thì chưa. Năm 1925, quả Ninh có rước hai cụ Phan về xứ. Nhưng sang năm 1926, cụ Tây Hồ lìa trần, Ninh lo tổ chức quần chúng, giao cho cụ Trường đứng mũi chịu sào tờ L'Annam. Rồi Ninh vào tù, cụ Trường ba chìm bẩy nổi, bị án tù, sang Paris chịu vào khám.Còn Tất Thành mang tên chung là Nguyễn Ái Quốc, theo cộng sản luôn, một đi không trở lại.
Nguyễn Thế Truyền vào đảng cộng sản Pháp, mượn phương tiện mà thành lập Việt Nam Hồn, sau đổi lại là Hồn Việt nam, rồi Phục Quốc... " (Hồ Hữu Tường, 41 năm làm báo, Đông Nam Á, Paris, 1984, trang 24-25).

II - Phan Châu Trinh gặp Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh tại Pháp năm 1922

Hội chợ đấu xảo ở Marseille là cơ hội để Phan Châu Trinh hành động. Ông xuống Marseille đầu năm 1922, để làm việc và cũng để tiếp xúc với những người Việt sang Pháp dự đấu xảo. Quan trọng nhất là những buổi gặp gỡ giữa Phan Châu Trinh và Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh. Qua những tài liệu được biết, thì ít nhất có hai lần: một lần ở Marseille và một lần tại Paris.

1- Theo một mật báo gửi về sở An Ninh Marseille ngày 11/5/1922, có cuộc gặp gỡ giữa ba người: Phan Châu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh. Trong cuộc họp này, Phan Châu Trinh ngỏ ý muốn lật đổ Nam triều, lập Quốc hội An Nam với các dân biểu để cai trị cùng với chính phủ Pháp. Nhưng Nguyễn Văn Vĩnh khuyên không nên, vì người trí thức và người dân vẫn còn gắn bó với nền quân chủ. Vả lại vua nước Nam không giống như vua Louis 14 hay 16 của Pháp đã áp bức làm khổ dân; và người dân An Nam cũng chưa đủ trình độ để sử dụng quyền Quốc hội. Phải chờ. Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh nói sẽ suy nghĩ xem có thể đóng góp gì cho chương trình hành động của Phan Châu Trinh. (Theo Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911/1925, Đông Nam Á 1983, trang 160).

2- Một buổi họp mặt khác, được ông Lê Thanh Cảnh ghi lại trong tập Ký ức về trường Quốc học (có lẽ đây là nội san của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Quốc Học), và in lại trong tập tài liệu tựa đề Kỷ niệm 115 ngày sinh ông Nguyễn Văn Vĩnh, do gia đình ấn hành năm 1997, tập III, trang 21. Rất tiếc người biên tập không ghi rõ nguồn tham khảo: nội san số mấy, năm tháng nào v.v... Tuy nhiên, nếu dựa vào mấy chữ "câu chuyện năm mươi năm trước" mà tác giả ghi trong "Lời người viết", thì có thể đoán bài này được viết vào khoảng 1970-1975 ở trong Nam, vì tác giả dùng hai chữ "anh Quốc" rất tự nhiên.

Dưới tựa đề "Thử đi tìm một lập trường tranh đấu cho dân tộc Việt nam", trước hết ông Lê Thanh Cảnh thuật lại bối cảnh cuộc họp mặt: Nhân dịp phái đoàn Nam triều đi dự cuộc triển lãm do Pháp Quốc Sử Địa tổ chức tại Ba Lê "Ô. Trần Đức nói khẽ vào tai tôi, bảo hai anh em chúng mình mời bốn cụ Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Ngọc Thiện, Cao Văn Sến đến chiều hôm ấy dùng cơm tại khách sạn Montparnasse. Chúng tôi nhân mời thêm cụ Phan Tây Hồ, anh Quốc, vợ chồng Trần Hữu Thường và ông Hồ Đắc Ứng".

Đáng chú ý nhất là đoạn tác giả ghi lại cuộc tranh luận giữa năm nhân vật: Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Cao Văn Sến, Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh. Chúng tôi trích lại những đoạn chính, lướt qua ý kiến Phan Châu Trinh (giống như những điều ông đã viết trong thư gửi NAQ) mà chú trọng vào ý kiến những người khác:
"Cụ Tây Hồ bắt đầu nói: Tôi đã gặp Nguyễn Ái Quốc từ 10 năm trước đây mà tôi thấy anh chủ trương cách mệnh triệt để quá táo bạo nên tôi không thể theo anh được, và anh cũng không chấp nhận đường lối của tôi. (...)

Anh Quốc tiếp lời: Mấy hôm nay anh Cảnh qua đây có tiếp xúc nhiều với tôi và có nói cho tôi một câu ước mơ của cụ Trần [Cao] Vân: Nếu cuộc khởi nghiã của vua Duy Tân thành công thì sau này việc đầu tiên của chúng ta sẽ làm là viết chữ Việt Nam không phải chữ "Tuất" một bên, mà phải viết chữ Việt là Phủ Việt, "Rìu Búa", mới kiện toàn được sự nghiệp cách mệnh. Sở dĩ tôi chủ trương cách mệnh triệt để là xưa nay muốn giành độc lập cho tổ quốc và dân tộc thì không thể nào ngã tay xin ai được mà phải dùng sức mạnh như cụ Trần Cao Vân đã nói là phải dùng BÚA RÌU.

Ô. Nguyễn Văn Vĩnh cướp lời ngay, đã bênh vực chủ trương của mình và cũng để giác ngộ anh Quốc - Tôi đã từng đứng trong hàng ngũ Đông Kinh Nghiã Thục cùng các bậc tiền bối và rất đau đớn thấy hàng ngũ lần lượt tan rã và hầu hết phần tử ưu tú chiến sĩ quốc gia bị tiêu diệt: Hết phong trào Đông Kinh Nghiã Thục, đến chiến khu Yên Thế của Đề Thám ở Bắc, rồi đến vụ xin thuế ở miền Trung... (...) Bao nhiêu chiến sĩ đều gục ngã hoặc còn vất vưởng sống ở Côn Đảo, Thái Nguyên, Lao Bảo hay Banmêthuột. Bạo động như anh Quốc nói là thậm nguy! (...) Sở dĩ tôi theo lập trường TRỰC TRỊ (administration directe) là kinh nghiệm cho tôi thấy Nam Kỳ trực trị tiến bộ quá xa hơn Trung Bắc. Mà Bắc Kỳ nhờ chế độ mập mờ, nửa Bảo Hộ nửa Trực Trị (không công khai) mà còn hơn Trung Kỳ quá xa. (...). Cứ trực trị cái đã rồi sau khi được khai hoá theo đà tiến bộ thì tức khắc dân chúng tự có sức mạnh mà trồi đầu lên. Nói Trực trị tôi chẳng khi nào chịu giao nước Nam cho Tây đâu. Quá khứ đường lối tranh đấu của tôi, cuộc đời thiếu thốn của tôi đã hùng hồn bảo đảm cho lời nói của tôi hôm nay.

Ô. Phạm Quỳnh tiếp: Có lẽ ngay trong tiệc này tôi đã thấy có rất nhiều lập trường tranh đấu chống lại chủ thuyết mà tôi hoài bão: "QUÂN CHỦ LẬP HIẾN". Nói đến quân chủ thì phần đông tỏ vẻ lo sợ chế độ chuyên chế. Nhưng xin đồng bào trương mắt nhìn hai nước Anh và Nhật. Với nền Quân chủ họ đã văn minh tột mức và dân chủ còn hơn các nền dân chủ cộng hoà khác nhiều lắm. (...) Vua chỉ là người đứng lên "thừa hành" bản hiến pháp mà chính nhân dân toàn quốc được triệu tập dự thảo và quyết định (...)"

Sau lời Phạm Quỳnh biện hộ cho chế độ quân chủ lập hiến, đến lời Cao Văn Sến biện hộ cho việc dùng văn minh Tây phương để tiến hành dân chủ; và nhìn nhận rằng ở Nam Kỳ đồng bào tiến bộ hơn nên thực dân không dám ăn hiếp như ở Trung và Bắc. Ông Lê Thanh Cảnh viết tiếp:

"Tôi khẩn khoản xin quý cụ là bậc tiền bối nên thảo luận ngay một kế hoạch hay hệ thống nào để làm việc cho có hiệu quả về sau.
Anh Quốc nóng nẩy bảo ngay: Thì xin Chú nói ngay ý kiến của Chú ra.
Tôi tiếp lời: Cũng như anh đã trả lời cho cụ Phan mấy hôm trước đây, tôi muốn nghe ngóng tất cả để sau này áp dụng một chủ nghiã thực tiễn, lấy Văn hóa Việt Nam làm gốc. Có thế mới hợp với tính tình dân tộc Việt Nam: Hành động gì bây giờ là thất bại ngay, mà cũng như cụ Phan Tây Hồ đã trịnh trọng cảnh cáo hai anh em chúng tôi mấy kỳ gặp gỡ trước đây, mà tôi rất bái phục: "Vô bạo động, bạo động tắc tử, vô vọng ngoại, vọng ngoại tắc ngu. Dư hữu nhất ngôn dĩ cáo ngộ đồng bào. Viết: Bất như "Học".

Anh Quốc quát to tiếng: "Nầy cụ Tây Hồ, nếu Cụ qua làm Toàn Quyền Đông Dương thay mặt thực dân cũng chỉ nói như thế thôi. Bó tay mà chịu lầm than sao? Không được!
Tôi sợ anh Quốc đi quá trớn, đứng lên thưa, ôn hoà: Tôi xin anh suy nghĩ thêm về lời khuyên của Cụ Tây Hồ. Nếu chúng ta khôn khéo thì "bất chiến tự nhiên thành".
Anh Quốc lại quát lớn: "Lại thêm chú này nữa kìa!"
Tôi được dịp kịch liệt bác bỏ luận điệu anh Quốc và bênh vực chủ thuyết của cụ Tây Hồ".

Lời lẽ trong cuộc tranh luận này được ông Cảnh ghi lại theo trí nhớ, có thể không đúng nguyên văn, nhưng phản ảnh được không khí buổi họp và xác định một số thông tin sau đây:

- Chủ trương trực trị của Nguyễn Văn Vĩnh dựa trên sự quan sát tình hình dân trí trong Nam cao hơn Bắc và Trung. Việc này được chứng minh qua tình hình báo chí mở rộng tại Nam Kỳ và những phong trào chống Pháp rất mạnh trên báo ở trong Nam do Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, rồi nhóm Trốt kít... viết.
- Nguyễn Tất Thành phản đối Phan Châu Trinh bằng lời lẽ nặng nề, khác hẳn cung cách "chú cháu" ngày trước, nhưng lại không có phản ứng gì đối với quan điểm của Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Cao Văn Sến.
- Để bảo vệ quan niệm bạo lực cách mạng, Nguyễn Tất Thành đưa ra biểu tượng Búa Rìu, của đảng cộng sản,nhưng lại giải thích bằng Hán tự và dùng ý nghiã Búa Rìu của Trần Cao Vân. Sau này Trần Huy Liệu cũng đề cao vai trò Trần Cao Vân nhưng bị Phan Khôi phản bác, Phan Khôi cho rằng Thái Phiên mới là người chủ chốt trong vụ vua Duy Tân, Trần Cao Vân chỉ là "nửa là nhà nho gàn, nửa là thầy bói kiêm thầy pháp". (Trong bài Địa vị của Thái Phiên và Trần Cao Vân trong cuộc biến ở Huế năm 1916, Sông Hương số 7, năm 1936).

Những sự kiện này, mới xem qua, gần như không đáng lưu ý, nhưng sự thực nó có tầm quan trọng: Việc đề cao Trần Cao Vân là để nâng cao biểu tượng Búa rìu của đảng cộng sản, gắn liền Búa Rìu với hình ảnh cách mạng của vua Duy Tân. Và có lẽ Phan Khôi đã thấy chủ đích ấy, ông thấy nó trái ngược với sự thật lịch sử nên ông phản bác lại bằng loạt bài trên báo Sông Hương năm 1936.

Hai buổi họp mặt ở Marseille và Paris năm 1922, chứng tỏ Phan Châu Trinh sửa soạn con đường về nước, ông muốn chia sẻ quan điểm đấu tranh của mình và tìm sự hợp tác của Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh.
Lá thư của Phan Châu Trinh và sự phản bác kịch liệt Tây Hồ của Tất Thành ở Montparnasse, chứng tỏ sự đoạn tuyệt giữa Phan Châu Trinh và Nguyễn Tất Thành, từ 1922.

Nguyễn Tất Thành, người (ban đầu) Phan thân nhất, coi như cháu, lại cùng chung một nền giáo dục nho học như ông, có thể Phan đã hy vọng Tất Thành sẽ "nối nghiệp", nhưng Tất Thành lại theo con đường trái ngược: chủ trương bạo động cách mạng và không về nước theo kế hoạnh "Ngũ Long tề khởi" do ông đề xướng.

Năm 1925, Phan Châu Trinh về nước tìm người thừa kế. Một câu hỏi được đặt ra: Tại sao Tây Hồ không chọn Nguyễn An Ninh? Mặc dù, Nguyễn An Ninh là nhà cách mạng nổi tiếng từ thời niên thiếu mà thành tích chống Pháp đã trở thành huyền thoại: "Thi đậu bằng Brevet Elémentaire [tương đương với Trung học phổ thông], nhà ái quốc đi làm báo tiếng Pháp, do người Pháp điều khiển. Trong thời gian làm báo, dù chỉ là một cộng sự viên tầm thường, lượm tin chó cán, nhưng Ninh đã nổi tiếng rồi, vì sự bất khuất, hay đập lộn với người Pháp, hay chưởi người Pháp. Chính trong thời gian nầy, trong nước xẩy ra nhiều chuyện bạo động, nào Phan Xích Long khởi nghiã, Trần Cao Vân rước vua Duy Tân rời kinh thành Huế, Lương Ngọc Quyến bạo động ở Thái Nguyên. Dù những phong trào ấy bị thất bại, song gieo vào lòng người dân thời đó một mầm mống sâu đậm trong cõi lòng, trong số đó có nhà ái quốc thanh niên Nguyễn An Ninh" (Nhà cách mạng Nguyễn An Ninh, Phương Lan Bùi Thế Mỹ, trang 10) (2).

Nhưng Nguyễn An Ninh Tây quá, sôi động quá. Phan Châu Trinh muốn một người nho học, điềm tĩnh, gần gụi với tư tưởng của ông hơn, và ông đã tìm thấy trong nhà nho Phan Khôi.

III. Đám tang Phan Châu Trinh - Sự xuất hiện của Phan Khôi

Phan Châu Trinh chủ trương "Ngũ Long tề khởi" từ năm 1922, nhưng đến tháng 6/1925, ông mới về được nước, và đến tháng 3/1926, ông mất.
"Cụ Phan Châu Trinh về Sàigòn một lượt với Ninh, đương ở nhà Ninh tại Quán Tre, kẻ thăm, người viếng rần rần rộ rộ" (Lê Văn Thử, Hội kín Nguyễn An Ninh, trang 25).
Nguyễn An Ninh bị bắt hôm trước (đêm 20/3/1926) thì hôm sau Phan Châu Trinh mất (24/3/1926). Phương Lan Bùi Thế Mỹ thuật lại như sau:

"Chính Đặng Văn Ký, theo sự uỷ thác của Ninh, vào tù, lo săn sóc bịnh tình cụ Phan Châu Trinh. Khi cụ Phan bịnh nặng, Ký cùng với các bạn đem dời cụ Phan lên nhà cụ Nguyễn An Cư; chú ruột của Ninh trị bịnh rồi cụ Phan mất tại đấy. Đặng Văn Ký hợp với Huỳnh Đình Điển, Phan Khôi đem cụ Phan về khách sạn Bá Huê Lầu, đường Pellerin giờ là Pasteur do Huỳnh Đình Điển là chủ nhơn khách sạn, thành lập ủy ban làm quốc táng, Phan Khôi đảm nhận viết lời hiệu triệu quốc dân. Đặng Văn Ký nhóm Jeune Annam lo liên lạc tìm đất chôn". (Nhà cách mạng Nguyễn An Ninh, Phương Lan Bùi Thế Mỹ, trang 130). Bùi Thế Mỹ viết nhầm một chi tiết: Ninh uỷ thác cụ Phan cho Đặng Văn Ký từ trước, trước khi vào tù. Vì khi Ninh vào tù thì cụ Phan mất.

"Lễ quốc táng của nhà chí sĩ Phan Châu Trinh được tổ chức châu đáo vĩ đại. Quàn xác gần một tuần, tại Bá Huê Lầu của Huỳnh Đình Điển, người chen chúc vô dâng hương nhà chí sĩ không biết bao nhiêu mà đếm. Nườm nượp ra vô cả ngày lẫn đêm. Ngày đưa đám thiên hạ trùng trùng điệp điệp từ bốn phương xa gần tụ họp tới. Sấp hàng từ đầu cầu Mống, cái cầu ở tận trên đường Thống Nhất. Câu đối, tràng hoa tiễn đưa vô số kể." (Phương Lan Bùi Thế Mỹ, trang 164).

Sự thành công trong việc tổ chức đám tang vĩ đại của Phan Châu Trinh là do nhiều yếu tố hợp lại, chúng tôi sẽ bàn đến trong một dịp khác. Ở đây chỉ xin nhắc đến sự đóng góp của một người, ở hậu trường, đã nổi trội, có "công" hơn: Nhiều dấu hiệu cho thấy từ khi về nước, Phan Châu Trinh đã tìm Phan Khôi để gửi gấm "đại sự".
Về việc này, Nguyễn Q. Thắng viết: "...năm 1925 khi về nước, Phan Châu Trinh đã cho vời Phan Khôi vào Sàigòn để viết một quyển sách về đời hoạt động và sách lược cứu nước của Tây Hồ. Phan Khôi đã viết xong bản thảo có tên "Phan Châu Trinh" nhưng bị phủ toàn quyền Đông Dương cấm in. Bản thảo đã thất lạc (theo "mật báo về tác phẩm Phan Châu Trinh của Phan Khôi" của sở mật thám Nam Kỳ, gởi thống đốc Nam Kỳ ký ngày 1/6/1926). Sách "Phan Châu Trinh" dày 94 trang đánh máy, do nhà in Xưa Nay của Nguyễn Háo Vĩnh xuất bản nhưng không phát hành được." (Nguyễn Q. Thắng, Phong Trào Duy Tân, những khuôn mặt tiêu biểu, trang 478).

Vậy Phan Khôi là ai? Năm 1925, Phan Khôi chưa phải là một tên tuổi nổi trội trong giới báo chí tranh đấu như Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường. Nhưng Phan Khôi đã bắt đầu sự nghiệp làm báo với hai nhà báo lừng danh Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh, những người mà Phan Châu Trinh tìm gặp năm 1922 ở Pháp.
Phan Khôi được Phan Châu Trinh giao cho việc viết lại lịch sử đời mình.

Từ trọng trách ấy, Phan Khôi đảm nhiệm viết lờiHiệu triệu quốc dân trong đám tang Phan Châu Trinh.

Share/Save/Bookmark

Thứ Tư, 8 tháng 12, 2010

Về mối quan hệ giữa Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường (phần II)

Nguồn : Dân Luận
Mai Thái Lĩnh

(Tiếp theo)

III) Về tính khách quan của cuốn hồi ký của Phan Văn Trường:

Theo bà Thụy Khuê, Phan Văn Trường để lại cuốn hồi ký tựa đề Une histoire de conspirateurs annamites à Paris ou la vérité sur L'indochine (Câu chuyện những người An Nam âm mưu (chống Pháp) tại Paris hay Sự thật về Đông dương) đăng từng kỳ trên báo La Cloche Fêlée (Chuông rè) từ 30/11/1925 đến 15/3/1926. Năm1928, Nxb Gia Định (Sàigòn) in thành sách và L'Insomniaque, Paris, tái bản năm 2003.

Trong hồi ký của mình, Phan Văn Trường đã dùng những lời lẽ khá nặng nề để phê phán người bạn của mình, người mà ông đã cộng tác chặt chẽ trong thời gian khoảng 10 năm. Lời phê phán nặng nề nhất là câu sau đây: "Tạm nói mà không hề có ý miệt thị rằng, người này- vẫn bám vào chính quyền thuộc địa, bị đuổi cửa trước thì luồn vào cửa sau- người mà chính quyền thuộc địa hai lần buộc tội âm mưu chống Pháp! Phan Châu Trinh là một người thông minh, một người tử tế, một người bạn tốt; nhưng những đức tính này không đủ để làm nên một người cách mạng" (Phan Văn Trường, trang 73-74-75).

Có thể nói nội dung của lời phê phán này rất gần gủi với lời chỉ trích mà những người cộng sản sau này đã dành cho Phan Châu Trinh: “Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương. Anh nhận ra điều đó là sai lầm, chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương.”[4] Chữ “anh” trong đoạn văn này dùng để chỉ Nguyễn Tất Thành, người sau này trở thành Hồ Chí Minh – lãnh tụ của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bà Thụy Khuê nhận xét về lời phê phán của Phan Văn Trường như sau: “So với lời Phan Châu Trinh phê phán Phan Bội Châu, trong bài "Nước Việt Nam mới sau khi liên hiệp với Pháp", thì lời Phan Văn Trường phê phán Phan Châu Trinh, cũng còn là nhẹ.” (Thụy Khuê, Phụ lục: Nguyễn Ái Quốc, lai lịch và văn bản - phần 2a)

Sự so sánh này hoàn toàn khập khiễng. Bởi lẽ Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu sau một giai đoạn ngắn làm quen với nhau đã chia tay mỗi người mỗi ngả, không hề cộng tác với nhau. Hơn thế nữa, Phan Châu Trinh đã bỏ dở nửa chừng, không hoàn tất bản thảo “Liên hiệp Pháp-Việt hậu chi tân Việt Nam”, và người ta chỉ được biết đến nó sau khi ông mất. Suốt đời, ông vẫn giữ gìn tình cảm đối với Phan Bội Châu, và vẫn hy vọng có ngày thuyết phục được nhà yêu nước này. Trong khi đó, Phan Văn Trường lại cho công bố rộng rãi một bản hồi ký trong đó chỉ trích một người đã cộng tác với mình trong một thời gian khá dài, vào một thời điểm hoàn toàn không thích hợp.

Bà Thụy Khuê viết: “Chân dung này, Phan văn Trường viết khoảng 1923, mục đích bênh vực Phan Châu Trinh, bị Pháp kết tội oan, vì không hiểu rõ chủ trương Pháp Việt đề huề của ông. Nhưng đồng thời cũng nói lên sự khác biệt trong chủ trương tranh đấu của Phan Văn Trường với Phan Châu Trinh, đó cũng là sự khác biệt sâu xa giữa những người Nho học và Tây học.” (Thụy Khuê, bđd)

Không rõ nhận định này dựa vào căn cứ nào? Nhưng lý do “bênh vực Phan Châu Trinh bị Pháp kết tội oan” thật đáng nghi ngờ, bởi lẽ Phan Châu Trinh chẳng cần đến sự bênh vực của Phan Văn Trường. Cả hai lần bị bắt, ông đều nhờ có sự giúp đỡ của những người khác để thoát khỏi cảnh ngục tù; đó là chưa kể đến việc ông có thể tự biện hộ. Nếu Phan Văn Trường viết hồi ký vào năm 1923, sao không cho công bố sớm để người bạn mình có thể phản biện? Hơn thế nữa, tại sao lại cố tình đánh đồng chủ trương “Pháp-Việt liên hiệp” của Phan Châu Trinh với chủ trương “Pháp-Việt đề huề” của Đảng Lập hiến trong khi hai chủ trương này tuy có điểm chung nhưng vẫn có nhiều điểm khác biệt?

Vậy thì lý do thật sự của việc công bố bản hồi ký là gì?

Như chúng ta đã biết, giữa năm 1925, nhờ cuộc đấu tranh của những người cánh tả Pháp – nhất là của hạ nghị sĩ Marius Moutet, Phan Châu Trinh đã trở về Việt Nam. Ông về đến Sài Gòn vào ngày 26.6.1925, cùng đi với ông là Nguyễn An Ninh - một người thuộc phái tả. Nhưng kể từ đầu năm 1925, các hoạt động của Phan Châu Trinh đã bắt đầu gắn bó với phái hữu ôn hòa – nhất là Đảng Lập Hiến. Vì thế tất cả các hoạt động của ông kể từ đó đều có sự cộng tác của cả phái tả lẫn phái hữu.

Hạ tuần tháng 11.1925, Toàn quyền Varennes đến thăm Sài Gòn. Mặc dù sức khỏe không được tốt, Phan Châu Trinh đã tham gia đón tiếp ông Toàn quyền và tối ngày 19.11, đã diễn thuyết về đề tài “Luân lý và đạo đức Đông Tây”. Chiều ngày 27.11.1925, đoàn đại diện nhân dân ba kỳ đã trao Thỉnh nguyện thư cho Toàn quyền, trong đoàn bên cạnh Phan Châu Trinh có mặt cả Phan Văn Trường (cánh tả) lẫn Nguyễn Phan Long (cánh hữu). Tối hôm đó, mặc dù bị sốt cao, Phan Châu Trinh đã thực hiện buổi diễn thuyết thứ hai về đề tài “Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa”. Hai buổi diễn thuyết đã nâng cao uy tín của Phan Châu Trinh nhưng sau các hoạt động này, ông phải vào bệnh viện điều trị trong 15 ngày. Từ ngày 27.12.1925, do sức khỏe sa sút, Phan Châu Trinh phải chuyển lên Hóc Môn ở nhà ông Nguyễn An Cư (chú của Nguyễn An Ninh) để điều trị bằng đông y. Đến đầu tháng 2.1926, bệnh ông ngày càng nặng. Ông mất vào ngày 24.3.1926, lúc 21h30. (Lê Thị Kinh, II, tr. 583-610)

Hồi ký của Phan Văn Trường đã được đăng trên nhiều số của báo La Cloche Fêlée, từ 30.11.1925 đến 15.3.1926. Đây chính là thời gian Phan Châu Trinh đang sa sút về sức khỏe và sắp sửa lìa đời. Việc đăng hồi ký chỉ trích ông đúng vào lúc ông không có khả năng đối đáp không thể được coi là cách tốt nhất để bênh vực một người bạn.

Một chi tiết đáng lưu ý khác là sự kiện bản Tuyên ngôn cộng sản được bắt đầu đăng công khai trên tờ La Cloche Fêlée vào ngày 29.3.1926, 5 ngày sau khi Phan Châu Trinh qua đời, 6 ngày trước khi đưa tang Phan Châu Trinh. Đó là chưa kể đến sự kiện Nguyễn An Ninh bị bắt đúng vào sáng ngày 24.4.1926, ngay tối hôm đó Phan Châu Trinh qua đời. Đây là lần đầu tiên Nguyễn An Ninh bị bắt giam và bị kết án 2 năm tù trong phiên tòa diễn ra vào ngày 23.4.1926 (sau khi kháng án rút xuống còn 18 tháng tù).

Điều này cho thấy bản hồi ký này được đăng tải đúng vào lúc diễn ra cuộc tranh chấp gay gắt giữa phái tả (Phan Văn Trường và Nguyễn An Ninh) và phái hữu (Đảng Lập hiến) để tranh giành ảnh hưởng ở Nam Kỳ. Phan Văn Trường chỉ trích Phan Châu Trinh là vì nhà dân chủ này chủ trương hợp tác với phái hữu trong cuộc đấu tranh để giành quyền tự trị cho nhân dân Việt Nam – một mục tiêu ban đầu cần đạt tới trước khi tiến tới đấu tranh giành độc lập hoàn toàn.

IV) Lý do gây ra sự rạn nứt của nhóm Ngũ Long:

Cuối cùng là vấn đề khiến chúng ta quan tâm nhiều nhất: lý do làm rạn nứt nhóm Ngũ Long. Sự tập hợp nhóm này bắt nguồn từ mối quan hệ giữa Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường – khởi đầu từ cuối năm 1911. Đỉnh cao của sự hợp tác giữa hai nhân vật này chính là bản thỉnh nguyện năm 1919 gửi Hội nghị Versailles.

Thế nhưng, kể từ đầu thập niên 1920, tình bạn và tình đồng chí giữa hai nhà yêu nước họ Phan này bắt đầu rạn nứt. Những bất đồng ngày càng gay gắt, không thể hóa giải và sự phân ly trở nên rõ rệt kể từ cuối tháng 3 năm 1923. Rất nhiều nhà nghiên cứu đã nhìn thấy sự rạn nứt này của nhóm Ngũ Long, nhưng lại không thể giải thích được một cách thỏa đáng lý do sâu xa làm cho nhóm này phân hóa. Có người tìm cách giải thích sự rạn nứt này bằng cách dựa vào cá tính. Ví dụ: cho rằng Phan Châu Trinh “thẳng thắn đến thô bạo”, do đó gây va chạm với Phan Văn Trường và những người khác trong nhóm. Nhưng lý do này không đủ để giải thích một số mâu thuẫn về tư tưởng bộc lộ qua một số lá thư trao đổi giữa những người trong nhóm.

Trong một lá thư đề ngày 25.1.1925 gửi cho một du học sinh tên là Đông ở Montpellier, Phan Châu Trinh đã viết như sau: “Tôi xem anh là người thông minh, và các anh em ở Montpellier, nhiều anh em ham học lắm, nhưng khốn nạn thay, nòi giống ta bây giờ như giống tằm bị bệnh lâu năm, con hư thì hư rồi, còn con có thể làm kén được, cũng bị độc đó, mà tơ chỉ chẳng ra gì, hại thay! Thật thế, tôi xem anh Nguyễn Ái Quốc, anh Nguyễn Thế Truyền và ông Phan Văn Trường, rất là người thông minh bực nhứt xứ ta, nhưng xem ra ông nào cũng bị một chứng bệnh nặng cả, chẳng biết ngày sau có làm ra công hiệu gì cho nòi giống ta được nhờ chăng? Hay là trước học tàu là ông đồ hủ nho, nay học Tây là anh đồ hủ Âu mà thôi!” (Tuyển tập PCT, tr. 832)

Tại sao Phan Văn Trường nhận xét rằng Phan Châu Trinh không có đủ những đức tính “để làm nên một người cách mạng” trong khi Phan Châu Trinh lại cho rằng những người khác trong nhóm Ngũ Long đã mắc “một chứng bệnh nặng”, có nguy cơ trở thành những “anh đồ hủ Âu” tương tự như những “ông đồ hủ nho” ngày trước?

Thật ra, lý do sâu xa làm nên sự rạn nứt của nhóm Ngũ Long liên quan đến sự khác biệt về tư tưởng và quan niệm chính trị. Người nắm vững lý do này chính là Nguyễn An Ninh – một người có mối quan hệ thân thiết với cả Phan Châu Trinh lẫn Phan Văn Trường. Ông đã trình bày điều này trong một bài viết có nhan đề “Vài lời nhắc nhở - Điếu văn khóc Phan Văn Trường”, đăng trên báo Trung Lập ngày 27.4.1933.

Theo Nguyễn An Ninh, đã có một sự thay đổi sâu sắc trong nhận thức của Phan Văn Trường kể từ khi có sự phân ly trong Đảng Xã hội. Ông viết: “Hai chữ giác ngộ để khuyến khích thiên hạ ngày nay, trước kia nó không lạ tai gì với Phan Văn Trường. Sự chia rẽ trong Đảng Xã hội Pháp, lúc toàn quốc hội nghị ở Tours năm 1920, có ảnh hưởng một cách sâu xa trong đầu óc của Phan Văn Trường.”[5]

Như chúng ta đã biết, tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp (lúc đó có tên là SFIO), một bộ phận (chủ yếu là giới trẻ) đã tách khỏi SFIO để gia nhập Quốc tế cộng sản, lúc đầu lấy tên là Phân bộ Pháp của Quốc tế cộng sản (Section française de l'Internationale communiste, SFIC) – tiền thân của Đảng cộng sản Pháp (Parti communiste français, PCF) sau này. Về mặt số lượng, đa số trong đảng đã ngả theo phía cộng sản: 120.000 đảng viên gia nhập vào Đảng cộng sản, trong khi SFIO chỉ còn có 40.000 đảng viên. Mặc dù phần lớn các nghị sĩ tại Quốc hội và các đại biểu dân cử cấp địa phương vẫn còn ở lại với SFIO nhưng đảng này đã chịu một sự thiệt hại lớn lao khi tờ báo đảng l’Humanité cùng với giám đốc tờ báo là Marcel Cachin đã đi theo phái cộng sản. Hiện tượng «người già ở lại với đảng dân chủ - xã hội, người trẻ bỏ đảng để đi theo con đường cộng sản của Lenin» không phải là hiện tượng cá biệt ở Pháp, mà ở hầu khắp các nước châu Âu.

Đại hội Tours năm 1920 với sự ra đời của Đảng cộng sản Pháp đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhận thức của Phan Văn Trường. Mặc dù không trở thành một người cộng sản hay một nhà mác-xít thực thụ, Phan Văn Trường ít nhất đã trở thành một nhà mác-xít về mặt nhận thức.

Nguyễn An Ninh so sánh Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh như sau: “Phan Văn Trường nghiên cứu chủ nghĩa “Mã Khắc Tư”, nhờ nó mà hiểu rõ sự tiến hóa của xã hội. Còn Phan Châu Trinh trọn mười mấy năm ở Pháp cứ ôm bộ “Ẩm Băng Lương Khải Siêu” cho đến ngày về nước cũng còn đem theo tàu để lót đầu nằm, thì làm sao hai người không chọi nhau được. Song hai anh em cũng cứ giữ thái độ bạn già mà đối với nhau. Tôi nhắc đến câu chuyện này là cốt ý chỉ rằng Phan Văn Trường là người giác ngộ hơn Phan Châu Trinh. Mà Phan Châu Trinh lại được quý trọng như kia. Còn sự chết của Phan Văn Trường ngày nay, chắc ít người chú ý đến.”(bđd)

Chữ “giác ngộ” mà Nguyễn An Ninh sử dụng có nghĩa là “tiếp thu chủ nghĩa Mã Khắc Tư (chủ nghĩa Marx)”, tức là tiếp thu “quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử”, nhờ đó mà “hiểu rõ sự tiến hóa của xã hội”. Ông đánh giá Phan Châu Trinh là người “kém giác ngộ hơn” vì đầu óc ông này vẫn còn “u mê, lạc hậu”, chìm đắm trong tư tưởng của Lương Khải Siêu. Nhận xét này đúng ở chỗ: Phan Châu Trinh hoàn toàn không chấp nhận chủ nghĩa Marx mà trước sau vẫn là một nhà tự do (libéral, liberal), một nhà dân chủ (démocrate, democrat). Tuy nhiên, Nguyễn An Ninh đã không đúng khi cho rằng Phan Châu Trinh chỉ dừng lại ở tư tưởng của Lương Khải Siêu. Như tôi đã trình bày qua một số bài viết, so với khi mới đọc tân thư, qua tìm hiểu thực tế của nền dân chủ hiện đại, tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh đã phát triển một cách khá hoàn chỉnh và có thể nói, ông nắm rất vững những nguyên tắc căn bản của chế độ dân chủ hiện đại chứ không phải chỉ hiểu biết một cách lơ mơ theo kiểu sách vở, từ chương.

Mặc dù quý trọng cả hai người, nhưng do chịu ảnh hưởng phần nào của chủ nghĩa Marx, Nguyễn An Ninh vẫn thiên về phía Phan Văn Trường: “Phan Châu Trinh lắm khi bị ông ta (tức Phan Văn Trường) phê bình dữ dội, cũng là vì cái tính ngay thẳng của ông ta không hạp với cái tính đầu cơ của Phan Châu Trinh.”(bđd) Tính ngay thẳng, theo cách hiểu của Nguyễn An Ninh có nghĩa là: tả ra tả, hữu ra hữu, không thể có chuyện tả lại cộng tác hay thỏa hiệp với hữu. Tính ngay thẳng cũng có nghĩa là quyết liệt chống Tây, không thỏa hiệp với Tây. Việc hợp tác với phái hữu, hợp tác với người Pháp được coi là có “tính đầu cơ”. Để hiểu những lời lẽ này, chúng ta phải tìm hiểu mối quan hệ giữa những người mác-xít và những người xét lại, hay giữa những người cộng sản và những người dân chủ - xã hội.

Như tôi đã phân tích trong cuốn Huyền thoại về một Nhà nước tự tiêu vong[6], từ cuối thế kỷ 19, cánh tả ở châu Âu đã dần dần tách đôi thành hai phái: cải cách và cách mạng. Sự phân ly này càng rõ rệt hơn sau khi cuộc Cách mạng Tháng Mười nổ ra ở Nga vào năm 1917. Đầu thập niên 1920, sự phân ly này đã dội vào phong trào cánh tả ở Pháp, xé đôi Đảng Xã hội (SFIO) và làm tan rã nhóm Ngũ Long – hạt nhân của phong trào cánh tả Việt Nam.

Bài báo nói trên của Nguyễn An Ninh giúp chúng ta nhìn thấy được lý do thúc đẩy sự phân ly giữa hai nhân vật họ Phan: Phan Văn Trường tiếp thu chủ nghĩa Marx, ngả sang xu hướng cách mạng, trong khi Phan Châu Trinh vẫn giữ lập trường cải cách. Quan niệm chính trị cũng như mục tiêu, phương pháp hoạt động của Phan Châu Trinh khiến ông gần gũi với những người dân chủ - xã hội hơn là những người cộng sản và những người mác-xít trung thành. Đó là lý do cho đến cuối đời, Phan Châu Trinh vẫn gắn bó với những người dân chủ - xã hội Pháp như đảng SFIO (tiền thân của Đảng Xã hội) hơn là những người cộng sản Pháp.

Mặc dù là một người xuất thân từ cánh tả, Phan Châu Trinh là một trong những người hiếm hoi của cánh tả thừa nhận sự tồn tại của cánh hữu như một điều kiện cần thiết của chế độ dân chủ hiện đại. Đó là lý do ông có thể chấp nhận sự cộng tác với những người cánh hữu ôn hòa (ví dụ: Đảng Lập hiến), mặc dù lập trường chính trị của hai bên khác nhau. Có thể coi Phan Châu Trinh là cái gạch nối giữa cánh tả và cánh hữu. Mất cái gạch nối đó, cánh tả và cánh hữu không còn có thể hợp tác với nhau, ngược lại còn đấu tranh với nhau một cách gay gắt.

Có thể nói sau khi Phan Châu Trinh qua đời, sợi dây liên kết giữa hai cánh tả và hữu đã biến mất. Chỉ còn lại sự xung đột gay gắt tả - hữu, tiêu biểu là sự xung đột giữa một bên là Đảng Lập hiến và bên kia là cánh tả bao gồm cả hai phái cộng sản đệ tam và đệ tứ. Nguyễn An Ninh – con người ôn hòa nhất trong cánh tả, vẫn không chấp nhận cộng tác với những người thuộc cánh hữu. Bi kịch của nhà yêu nước này là trong khi cố gắng tạo ra một sự đoàn kết của cánh tả, cuối cùng ông lại mắc kẹt trong cuộc xung đột gay gắt giữa những người cộng sản theo Stalin (như Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Văn Nguyễn) và những người cộng sản theo Trotsky (như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm). Ông là một trường hợp lạ kỳ, vừa được Đảng cộng sản Việt Nam công nhận là liệt sĩ, vừa được những người trốt-kít như Ngô Vân vinh danh. Ông vừa là người anh hùng trong con mắt của những người trốt-kít, đồng thời lại là người góp phần quan trọng vào thắng lợi của Đảng cộng sản – một đảng chính trị nhân danh tự do tuyệt đối để thiết lập một chế độ độc tài tuyệt đối.

Thật ra, tất cả những xung đột chính trị tả - hữu này chỉ có thể giải quyết một cách hòa bình trong khuôn khổ của một chế độ chính trị dân chủ. Kinh nghiệm của các nước châu Âu (nhất là Bắc Âu) cho ta thấy rõ điều đó. Từ chối những thiết chế chính trị dân chủ, xung đột tả - hữu chỉ có thể trở thành đấu tranh một mất một còn. Tấn bi kịch của nước ta bắt nguồn từ đó. Đám tang của Phan Châu Trinh tại Sài Gòn vào ngày 4.4.1926 đánh dấu sự đoàn kết cuối cùng của những phái chính trị tả và hữu của nước ta. Kể từ sau đám tang đó, sự xung đột tả - hữu ngày càng trở nên gay gắt. Những người cánh tả coi những người cánh hữu – dù là ôn hòa, đều là tay sai của thực dân Pháp và từ chối hoàn toàn sự cộng tác. Cuối cùng thì đấu tranh chính trị trở thành chiến tranh, và cuộc chiến ngày càng trở nên phức tạp khi xung đột tả - hữu giữa những người Việt Nam bị che đậy bởi những chiêu bài giành độc lập, chống đế quốc, v.v…

Trở lại với tinh thần Phan Châu Trinh đồng nghĩa với việc từ bỏ những hình thức đấu tranh một mất một còn, để tiến tới tôn trọng sự khác biệt của nhau. Điều đó đòi hỏi một sự hợp tác giữa tả và hữu – nhất là giữa phái tả ôn hòa và phái hữu ôn hòa. Chỉ bằng cách đó người Việt Nam mới có thể loại bỏ được những xu hướng cực đoan về phía tả cũng như về phía hữu, xây dựng một nền chính trị dân chủ trong đó lá phiếu của người dân là tiêu chuẩn đánh giá khả năng cầm quyền của bất cứ phe phái nào.

Tự do chỉ có thể được bảo đảm được bằng dân chủ. Từ chối dân chủ, chúng ta không thể có tự do, vì làm thế nào có được tự do khi ta không tôn trọng chính kiến của người khác? Không dựa trên những nguyên tắc dân chủ, tự do của mỗi người có thể trở thành sự tước đoạt tự do của người khác.

Đà Lạt, 30.11.2010

Mai Thái Lĩnh

________________________________________________________

Ghi chú:

[4] Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự Thật, 1975, bản in lại của Sở Văn hóa – Thông tin Sài gòn – Gia định, tr. 12.
[5] “Vài lời nhắc nhở - Điếu văn khóc Phan Văn Trường”, Trung Lập 27.4.1933 (Nguyễn An Ninh – Tác phẩm, tr. 1037-1038)

[6] Mai Thái Lĩnh, Huyền thoại về một Nhà nước tự tiêu vong, talawas 2005.

Tài liệu tham khảo:

1) Những bài viết của Thụy Khuê đăng trên RFI nằm trong hồ sơ “Nhân Văn Giai Phẩm”:

- Phần XV: Phan Khôi - Chương 1a : Những phong trào chống Pháp đầu thế kỷ XX, RFI 5.9.2010-7.9.2010: http://www.viet.rfi.fr/tong-hop/20100905-phan-xv-phan-khoi-chuong-1a-nhung-phong-trao-chong-phap-dau-the-ky-xx

- Phần XV: Phan Khôi - Chương 1b : Ai viết bài ký tên Nguyễn Ái Quấc tại Pháp từ 1919 đến 1923? RFI 5.9.2010-13.11. 2010: http://www.viet.rfi.fr/tong-hop/20100905-phan-xv-phan-khoi-chuong-1b-ai-viet-nhung-bai-ky-ten-nguyen-ai-quac-tai-phap-tu-19

- Phụ Lục : Nguyễn Ái Quốc, lai lịch và văn bản:

Phần 1: RFI 13.11.2010: http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20101113-phu-luc-nguyen-ai-quoc-lai-lich-va-van-ban-phan-1;

Phần 2a: RFI 19.11.2010: http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20101119-phu-luc-nguyen-ai-quoc-lai-lich-va-van-ban-phan-2a;

Phần 2b: RFI 19.11.2010: http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20101119-phu-luc-nguyen-ai-quoc-lai-lich-va-van-ban-phan-2b

2) TS Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925, Nxb Văn Nghệ TP. HCM, 2000.

3) Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh), Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, tập 1, Nxb Đà Nẵng, 2001. Tập này được xếp thành 4 quyển.

4) Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh), Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, tập 2, Nxb Đà Nẵng, 2003.

5) Nguyễn Văn Dương, Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb Văn hóa – Thông tin, 2006.

6) Trung tâm nghiên cứu quốc học, Nguyễn An Ninh – Tác phẩm, Nxb Văn học, 2009.


Share/Save/Bookmark
Related Posts with Thumbnails