Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Thị Hoài. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Thị Hoài. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2009

Tuyên bố nhân 70 năm Hiệp ước Hitler-Stalin

Nguồn : Talawas

Phạm Thị Hoài dịch

Lời người dịch – Hiệp ước bất tương xâm giữa Đức Quốc xã của Hitler và Cộng hòa Liên bang Xô-viết của Stalin ngày 23 tháng Tám 1939 là một cú sốc lớn với nhiều trí thức cánh tả châu Âu thời ấy, trong đó có Walter Benjamin. Đối với tôi, nhà tư tưởng và nghiên cứu văn học này là một tác giả bắt buộc.

Tất cả những gì diễn ra cho đến trước đó tại nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới: công cuộc tập thể hóa nông nghiệp với hàng triệu người chết đói, Đại Khủng bố, thanh trừng và những phiên tòa giả hiệu xử đối thủ chính trị và những người bất đồng chính kiến…, và ngay cả chuỗi thất vọng triền miên của cá nhân Walter Benjamin trong việc thử cộng tác với giới nghiên cứu văn học Xô-viết không làm cho ông từ bỏ cảm tình và hi vọng vào chủ nghĩa cộng sản như lời đáp khả dĩ nhất cho những câu hỏi then chốt của thời đại mình. Nhưng cú bắt tay giữa Hitler và Stalin đã khiến trục tọa độ định hướng của ông sụp đổ. Tác phẩm cuối cùng của ông, “Về khái niệm ‘Lịch sử’” (Über den Begriff der Geschichte) được viết trong tình trạng suy sụp niềm tin này, như một kinh cầu hồn cho một ước mơ không còn nữa. Ông tự sát ngày 27 tháng Chín 1940, ở tuổi 48.

Sau 70 năm, sự rối loạn tọa độ chính trị phát sinh từ Hiệp ước Hitler-Stalin khiến một bộ óc như Walter Benjamin phải đầu hàng đã có thể được cắt nghĩa từ nhiều thông tin và nhận thức mới. Lịch sử, ít nhất là của giai đoạn này, đã có thể được viết lại, không phải chỉ từ tâm thế của những người chiến thắng, như ông chỉ ra trong Luận điểm VII của tiểu luận nêu trên. Nhưng lịch sử vẫn tiếp tục là bàn xoay của hiện tại. Nghị quyết của Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu OSCE về việc lấy ngày 23 tháng Tám làm ngày tưởng niệm các nạn nhân của chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa Stalin bị phía Nga phẫn nộ phản đối. Nước Nga chính thống của Putin ngày nay vẫn chăm lo cho vinh quang chống phát xít của Stalin và phản đối mọi đánh giá mang tính “xét lại” ý nghĩa của Hiệp ước Molotov-Ribbentrop. Một Ủy ban với 28 ủy viên vừa được thành lập, gồm đại diện cơ quan mật vụ FSB, Hội đồng An ninh Quốc gia, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp… và cả vị Tổng Tư lệnh Quân đội, nhằm “ngăn chặn những hành động xuyên tạc lịch sử, tổn hại lợi ích của Liên bang Nga”. Và sắp tới sẽ có một điều luật cho phép đem công dân nước ngoài ra xét xử trước một tòa án Nga vì tội “bớt xén thành tích của Nga trong chiến thắng chủ nghĩa phát xít”.

Tuyên bố dưới đây của 140 nhà chính trị, nhà sử học, nhà báo, nhà văn và nhà hoạt động xã hội Đức cho thấy một cái nhìn khác. Sự kiện Bức tường Berlin sụp đổ 1989 được đặt trong chuỗi sự kiện khởi đi từ 1939. Nhiều người trong số những người đồng kí tên trong bản tuyên bố này còn chưa sinh, khi tàu Schleswig-Holstein khạc đạn vào bán đảo Ba Lan Westerplatte lúc 4 giờ 45 phút ngày 1 tháng Chín 1939. Dịch tuyên bố này, tôi đồng thời chia sẻ nhãn quan lịch sử của họ.

Phạm Thị Hoài

______________

Mừng 1989, đừng quên 1939!

Những tuần này, tháng này, khắp châu Âu nhớ lại sự kiện chiến thắng các chế độ độc tài cộng sản tại Đông Âu và Trung Âu 20 năm trước. Các chương trình kỷ niệm và hội nghị, các triển lãm và phim ảnh làm sống dậy ký ức về tinh thần dũng cảm dân sự của biết bao người đã bằng sự phản kháng hòa bình của mình vượt qua các chế độ độc tài, tạo cơ sở cho việc thiết lập chế độ dân chủ và khắc phục sự chia cắt châu Âu và nước Đức.

Hiệp ước Hitler-Stalin chia vùng thôn tính

Hiệp ước Hitler-Stalin chia vùng thôn tính

Khởi điểm của sự chia cắt đó và của sự thống trị cộng sản kéo dài hơn bốn thập kỉ tại Đông Âu và Trung Âu là Chiến thanh Thế giới II. Vì vậy, chúng tôi đau buồn và hổ thẹn hồi tưởng ngày 1 tháng Chín tròn 70 năm trước, ngày nước Đức Quốc xã tấn công Ba Lan. Tám ngày trước đó, Đức và Liên Xô đã ký bản Hiệp ước Hitler-Stalin bất hạnh, cho phép hai chính quyền độc tài toàn trị này chia nhau các nước Cộng hòa Baltic, Ba Lan, Phần Lan và Rumani. Vụ tấn công Ba Lan do Đức và Liên Xô tiến hành tháng Chín 1939 mở màn cho một cuộc chiến tranh xâm lăng và hủy diệt chưa từng thấy trong lịch sử. Với cuộc chiến tranh ấy, Đức đã giáng đau thương vô hạn lên các nước láng giềng châu Âu, đặc biệt là Ba Lan và cuối cùng không chừa cả Liên Xô.

Sau khi châu Âu và Đức được giải phóng khỏi chủ nghĩa Quốc xã, toàn châu Âu đã hy vọng vào một tương lai tự do và dân chủ. Nhưng hy vọng này đã trở thành thất vọng cay đắng cho rất nhiều người. Tại một phần nước Đức và tại các nước Đông Âu và Trung Âu vừa suy yếu do chiến tranh và sự thống trị Quốc xã, Liên Xô đã áp đặt những chế độ độc tài mới: với những hậu quả khủng khiếp cho xã hội, cho kinh tế và văn hóa, và cho vô số những người bị đàn áp như những kẻ thù chính trị hoặc phải bỏ mạng vì đã dám đương đầu với nhà cầm quyền. Như vậy, người Đức không chỉ chịu trách nhiệm nặng nề trong việc hủy diệt những người Do Thái châu Âu, trong việc truy bức và giết hại những người dân tộc Sinti và Romani, những người đồng tính luyến ái, những người khuyết tật, những người bị quy là thành phần nhơ nhuốc xã hội và những người bất đồng chính trị, cũng như hàng triệu nạn nhân chiến tranh. Chúng tôi còn đau lòng nhận thức rõ rằng nếu không có cuộc Chiến tranh Thế giới II do Đức châm ngòi thì ở các nước Đông Âu và Trung Âu vừa không có các chế độ độc tài cộng sản, mà nước Đức và châu Âu lục địa vừa không bị chia cắt.

Hôm nay, năm 2009, nhìn lại lịch sử châu Âu và lịch sử Đức thế kỉ 20, chúng tôi ghi nhớ tai họa Quốc xã và vui mừng rằng nước Đức ngày nay là một thành viên bình đẳng và được mến trọng trong gia đình các dân tộc châu Âu.

Chúng tôi cũng tưởng nhớ với lòng biết ơn và kính trọng những con người suốt bốn thập kỉ sau 1945 đã chấp nhận mạo hiểm lớn cho bản thân, không ngừng dũng cảm thách thức các nhà cầm quyền cộng sản độc tài để đấu tranh cho tự do và dân chủ. Không ít người đã phải trả giá cho lòng dũng cảm này bằng sinh mệnh. Những cuộc nổi dậy và các phong trào đòi tự do tại Cộng hòa Dân chủ Đức, Hungary, Tiệp, và đặc biệt thường xuyên ở Ba Lan, đã nuôi sống hi vọng về tự do và dân chủ qua hàng chục năm trời.

Chúng tôi sẽ không quên rằng Ba Lan đã đi đầu trong việc chọc thủng pháo đài của hệ thống quyền lực cộng sản, vì tự do của Ba Lan và vì tự do của chúng tôi. Đồng thời chúng tôi cảm ơn những người ủng hộ Hiến chương 77 của Tiệp Khắc, họ đã khích lệ chúng tôi sống với sự thật. Chúng tôi cũng nhớ ơn tất cả những người ở Hungary đã dọn đường đến dân chủ và mở Bức màn Sắt vào mùa hè 1989. Trước Glasnost và Perestroika từ lâu, các nhà li khai Xô-viết đã dấn thân bảo vệ nhân quyền. Và cuối cùng chúng tôi cảm ơn tất cả những người ở phương Tây chưa bao giờ chịu chấp nhận Bức màn Sắt và các chế độ độc tài cộng sản, đã kiên định lên tiếng về nhân quyền và ủng hộ phong trào đối lập chống chế độ độc tài.

Bằng cách mạng hòa bình, các dân tộc ở Đông Âu và Trung Âu đã giành lại quyền tự do, độc lập quốc gia và quyền tự quyết bị mất 50 năm trước. Những cuộc cách mạng hòa bình đó là nền tảng quyết định để vượt qua sự chia cắt châu Âu và chia cắt nước Đức. Sau khi khắc phục chế độ độc tài của Đảng Xã hội Chủ nghĩa Thống nhất Đức và chọn con đường thống nhất nước Đức, sự tin cậy của các nước láng giềng châu Âu dành cho chúng tôi là một món quà quý báu. Từ thành quả của cuộc cách mạng hòa bình, lần đầu tiên trong lịch sử của chúng tôi, nay mọi người Đức đều có điều kiện để sống trong tự do và dân chủ, trong no ấm, trong một lãnh thổ có biên cương phân định rõ ràng và trong tình tương kính, hữu nghị với các dân tộc láng giềng.

1989 cũng là một năm định mệnh của châu Âu như 1939, tuy theo hướng ngược lại. Một châu Âu tự do và dân chủ phải ý thức rõ lịch sử của mình. Châu Âu cần giữ gìn ký ức về thời cộng sản và công cuộc vượt qua thời cộng sản. Bước đi đầu tiên đã được thực hiện: Tháng Tư vừa qua, Hội đồng châu Âu đã lên tiếng về trách nhiệm này. Con đường phải đi còn dài: Châu Âu cần một văn hóa ký ức chủ động và mang tính trách nhiệm cao, để giúp những thế hệ sau cẩn trọng trước những trào lưu chuyên chế và độc tài mới có thể nổi lên.

Nguồn:Das Jahr 1989 feiern, heißt auch, sich an 1939 zu erinnern! Eine Eklärung zum 70. Jahrestag des Hitler-Stalin-Paktes

Bản tiếng Việt © 2009 Phạm Thị Hoài

Bản tiếng Việt © 2009 talawas blog


Share/Save/Bookmark

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2009

Tân Việt ngữ: “Tàu lạ”

Nguồn : Talawas
Tác giả: Phạm Thị Hoài

“Tàu lạ”, khái niệm vừa xuất hiện trong vài tuần trở lại đây và nhanh chóng hiện diện đến 145.000 lần trên Google, chỉ là một trong những từ khoá quan trọng của một thứ tiếng Việt mới. Viễn cảnh mà George Orwell đưa ra tròn 60 năm trước về một Newspeak vẫn chưa bao giờ hết tính thời sự.

Các hàng tin viết bằng Tân Việt ngữ trên báo chí Việt Nam sẽ chạy như sau:

Sữa lạ vẫn đang bán ở Việt Nam

Phong trào lấy chồng lạ của phụ nữ xã Tiền Phong

Phái đoàn trung ương Đảng và chính phủ lạ sang thăm và làm việc với Đảng và chính phủ ta

Gói du lịch nước lạ của Vietnam Airlines dịp 30 tháng Tư

Phim lạ thay đổi thị hiếu của khán giả Việt Nam

3000 công nhân lạ đến Lâm Đồng

Siết chặt hàng rào với hàng lạ chất lượng kém

Vì sao văn học lạ ăn khách?

Công ti lạ trúng gói thầu xây dựng nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh

Thêm một đập thuỷ điện lạ tại thượng nguồn sông Mekong

Người Việt gốc lạ trong khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam

Kí kết Hiệp ước Việt - Nước lạ về Vịnh Bắc Bộ

Chủ nghĩa bành trướng lạ trong thế kỉ 21

Truyện Kiều sẽ được định nghĩa là 3254 câu thơ lục bát viết bằng chữ Nôm dựa theo tiểu thuyết lạ Kim Vân Kiều truyện.

Tác phẩm Bến lạ của Đặng Đình Hưng cần phải đổi tên, nếu không thì những câu kết ám ảnh của nó có nguy cơ bị dịch ngược về tiếng Việt cổ và dẫn chúng ta về một chốn lạ lùng:

Ồ gặp nhau rồi, sao vẫn cứ li

Một nắm hột khuya rắc vào Bến Trung Quốc

Đời jì

Sao cứ đi đi, những cái vali cứ về Bến Trung Quốc.

Đoạn văn nổi tiếng trong truyện ngắn “Vàng lửa” của Nguyễn Huy Thiệp cần viết lại trong Tân Việt ngữ như sau: “Đặc điểm lớn nhất của xứ sở này là nhược tiểu. Đây là một cô gái đồng trinh bị nền văn minh lạ cưỡng hiếp. Cô gái ấy vừa thích thú, vừa nhục nhã, vừa căm thù nó.”

Nhưng thao tác tránh tên huý chỉ có tác dụng nhất thời. Khi cái tên gọi trại đời thứ nhất đã lĩnh trọn nội dung của cái tên nguyên thuỷ, còn nội dung ấy vẫn tiếp tục là huý kị thì một tên gọi trại đời thứ hai phải xuất hiện thay thế. Chuỗi chạy tên[1] này có thể kéo rất dài.

Khả năng chạy xa nhất của “lạ” là gì?

Là chạy vọt sang “quen”.

Sự tránh né lẩm cẩm của sợ hãi và bất lực này không có chút gì đáng thương hay đáng thông cảm, vì quá lố bịch:

Sữa quen vẫn đang bán tại Việt Nam

Phong trào lấy chồng quen của phụ nữ xã Tiền Phong

Phái đoàn trung ương Đảng và chính phủ quen sang thăm và làm việc với Đảng và chính phủ ta

© 2009 Phạm Thị Hoài

© 2009 talawas blog


[1] “Chạy” khác “đi” như thế nào, tôi không giải thích được cho một người ngoại quốc học tiếng Việt. Tất nhiên “chạy chợ” khác “đi chợ”, “chạy ăn” khác “đi ăn”…, nhưng cái khác không nằm ở chỗ vốn khác, ở tốc độ của hành động di chuyển bằng chân. Càng ngày người Việt càng chạy phong phú hơn: chạy án, chạy dự án, chạy bằng, chạy ghế, chạy thuế, chạy Trung ương… Người Việt ở Đức còn có thêm những sáng tạo khác: chạy xã hội, chạy con Tây, chạy bảng lương, chạy ăn theo, chạy un, chạy bát…


Share/Save/Bookmark

Thứ Năm, 9 tháng 7, 2009

Vẫn còn một lời nói sau

Nguồn : Talawas
Tác giả: Phạm Thị Hoài

Sao chính phủ không cách chức nhân dân

Và bầu một nhân dân khác

Có phải tiện hơn không?

Lần đầu tiên nghe đọc những câu thơ ấy của Bertolt Brecht, tôi không hiểu. Không hiểu nó nói gì. Không hiểu vì sao ở Đông Berlin, người ta đọc nó ngưỡng mộ mà phải kìm giọng thế. Brecht là tác gia có kịch diễn quanh năm, sách in bạt ngàn tại Cộng hoà Dân chủ Đức. Một bông hoa ngoại cỡ cài trên ve áo chế độ. Sao thơ ấy phải thầm thì đọc? Hành trang tinh thần của một sinh viên đến từ miền Bắc Việt Nam cuối những năm 70 không đủ cho tôi hiểu. Mùa thực tập đầu tiên trong Lưu trữ Di cảo Văn học Bertolt Brecht cũng không giúp tôi hiểu nhiều hơn. Chuyên chính vô sản có trật tự của nó: hoa cài ve áo có thể gỡ xuống, áo tất nhiên có thể thay, chỉ người mặc áo là không thể thay đổi. Cái trật tự vững như bàn thạch ấy không phải để hiểu.

Toàn văn bài thơ của Brecht như sau:

Bertolt Brecht

Giải pháp

Sau cuộc nổi dậy tháng Sáu ngày mười bảy

Bí thư Hội Nhà văn cho rải

truyền đơn ở Đại lộ Stalin

Nói nhân dân đã đánh tuột lòng tin

của chính phủ. Chỉ có cách lao động

gấp đôi. Mới mong khôi phục lại.

Sao chính phủ không cách chức nhân dân

Và bầu một nhân dân khác

Có phải tiện hơn không?[1]

Nguyên bản tiếng Đức:

Die Lösung

Nach dem Aufstand des 17. Juni

Ließ der Sekretär des Schriftstellerverbands

In der Stalinallee Flugblätter verteilen

Auf denen zu lesen war, dass das Volk

Das Vertrauen der Regierung verscherzt habe

Und es nur durch verdoppelte Arbeit

Zurückerobern könne. Wäre es da

Nicht doch einfacher, die Regierung

Löste das Volk auf und

Wählte ein anderes?

Song bài thơ này, được thần tượng như một lời phê phán sắc nhọn đầy tính giễu cợt đặc trưng cho phong cách Brecht đối với nhà cầm quyền Đông Đức, không phải là tuyên ngôn chính thức của tác gia lỗi lạc ấy. Nó được viết mấy tuần sau sự kiện 17 tháng Sáu năm 1953, nhưng 11 năm sau, khi ông đã qua đời 8 năm, mới xuất hiện trong Toàn tập Brecht năm 1964.

Còn phát ngôn chính thức của Brecht về sự kiện này thì sao?

*

Ngày 17 tháng Sáu 1953, cuộc nổi dậy[2] chống chính quyền với quy mô lớn đầu tiên trong Khối Xã hội Chủ nghĩa Đông Âu, bước đi đầu tiên về hướng Solidarnosc, diễn ra tại Cộng hoà Dân chủ Đức. Những hoạt động thanh tẩy trong nội bộ giới lãnh đạo chính trị, khủng bố những người bất đồng chính kiến, trấn áp tôn giáo, kiểm soát thanh niên, tình trạng thực phẩm khan hiếm và đắt đỏ đi liền với chính sách vụ thành tích, nâng chỉ tiêu lao động, gặp thời điểm những dấu hiệu nới lỏng đường lối đầu tiên xuất hiện sau khi Stalin qua đời, đã đẩy hơn 1 triệu người dân Đông Đức xuống đường biểu tình và phản kháng. Chính phủ Đông Đức rút về náu tại Berlin Karlshorst, tổng hành dinh của quân đội Liên Xô đóng tại Đông Đức, cầu cứu quân đội của một quốc gia khác ra tay đàn áp nhân dân mình. Xe tăng và Hồng quân Xô-viết đã giải quyết phần còn lại, như 3 năm sau tại Hungary, 15 năm sau tại Praha.

Ngay trong ngày 17 tháng Sáu ấy, Brecht gửi một bức thư cho Walter Ulbricht[3], bày tỏ “sự gắn bó với Đảng Xã hội Chủ nghĩa Thống nhất Đức”[4] và không quên gửi tới Vladimir Semyonovich Semyonov, người đứng đầu Cao Uỷ Xô-viết, nhân vật quyền thế nhất của Moskva tại Đông Đức, lời bày tỏ “tình hữu nghị son sắt” với Liên Xô. Ngày 21 tháng Sáu, tờ Nước Đức Mới (Neues Deutschland), cơ quan ngôn luận của Đảng SED[5], đăng bức thư của Brecht ở vị trí trang trọng trong những tiếng nói ủng hộ chính quyền của các văn nghệ sĩ, trí thức Đông Đức danh tiếng. Hai ngày sau, dưới nhan đề “Không dung tha bọn phát xít!”, cùng nhiều tác giả khác, Brecht tố cáo những thế lực phát xít phương Tây và CIA lợi dụng sự bất mãn có phần chính đáng của công nhân Đông Đức để kích động chiến tranh, bạo lực[6].

Phản ứng từ phía bên kia đến ngay tức thì. Những nhà hát ở Tây Berlin, Tây Đức và Áo vốn hâm mộ Brecht đồng loạt huỷ các chương trình công diễn kịch của ông. Hơn một thập kỉ sau, phong trào tẩy chay Brecht ở phương Tây mới tạm lắng xuống. Nhưng sự kiện 17 tháng Sáu đã vĩnh viễn gắn liền với “Trường hợp Bertolt Brecht”, biểu tượng cho thái độ hai mặt, cơ hội và hèn nhát, của trí thức văn nghệ sĩ trong các chế độ toàn trị ở các nước XHCN.[7] Sau này, trong vở kịch Đám thợ thuyền tập khởi nghĩa (Die Plebejer proben den Aufstand, 1966), người đồng nghiệp nổi tiếng của ông, cũng cánh tả, Günter Grass, chỉ trích không che đậy rằng điều Brecht quan tâm là sự thành công của cuộc khởi nghĩa công nhân trên sân khấu chứ không phải trong cuộc đời thực vào ngày 17 tháng Sáu năm 1953.[8]

Còn mặt sau của những phát ngôn chính thức của Brecht là gì?

Cũng trong bức thư gửi Walter Ulbricht nói trên, Brecht yêu cầu nhà cầm quyền Đông Đức thực hiện một chương trình thảo luận thẳng thắn với giới công nhân về tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, vì sự bất mãn của công nhân ở thời điểm xảy ra cuộc khởi nghĩa là chính đáng. Phần này của bức thư không bao giờ được báo chí Đông Đức công bố. Trước công luận, chỉ có những lời bày tỏ “sự gắn bó với Đảng XHCNTN Đức” và “tình hữu nghị son sắt” với Liên Xô của Brecht, ngay sau khi hai thế lực này kết hợp để dùng bạo lực bẻ gãy cuộc nổi dậy đòi dân chủ đầu tiên của những người lao động tại một nước XHCN Đông Âu. Không phải chỉ có giới trí thức đủ khôn ngoan để chơi trò chơi hai mặt. Nhà cầm quyền rất biết dùng hai mặt ấy, mặt nào vào lúc nào, cho trò chơi quyền lực của mình. Sự cố 17 tháng Sáu đeo đẳng Brecht cho đến cuối đời. Một thời gian dài, đi đâu ông cũng đem theo bản sao nguyên vẹn bức thư tai tiếng nói trên, ấn nó vào tay bạn bè, người quen, một chiến dịch thanh minh vô vọng.

Nhưng Brecht vẫn còn một lời nói sau: bài thơ “Giải pháp”, với những câu kết đã trở thành kinh điển của dòng văn chương phản kháng:

Sao chính phủ không cách chức nhân dân

Và bầu một nhân dân khác

Có phải tiện hơn không?[9]

Giải pháp mà Brecht đề nghị với chính quyền Đông Đức đến muộn 11 năm, nhưng có thể dùng tốt cho chính quyền Việt Nam, cũng một nước xã hội chủ nghĩa, những ngày này. Tiện hơn cả là cách chức giới trí thức đang đánh tuột lòng tin của chính phủ qua việc tiếp tục kiến nghị dừng Đại Dự án Bauxite Tây Nguyên. Và bầu một giới trí thức khác. Cũng nên giải tán luôn Đại tướng Võ Nguyên Giáp và bầu một Đại tướng Võ Nguyên Giáp mới. Tất nhiên trước đó cần bãi nhiệm Chiến thắng Điện Biên Phủ và bầu một Chiến thắng Điện Biên Phủ mới. Không có gì mà chính quyền nhân dân không thể làm được, đơn giản nhất là việc cách chức nhân dân.

*

56 năm sau, cũng ngày 17 tháng Sáu, theo thông tin trên báo chí chính thống tại Việt Nam, Luật sư Lê Công Định ký tường trình nhận tội chống phá nhà nước Việt Nam và xin khoan hồng. Trước ông và sau ông đã có và sẽ còn có nhiều bản tường trình, nhiều chữ ký, nhiều tuyên bố quy phục chính quyền, nhiều lời tỏ tình hay hứa hẹn gắn bó sắt son với quyền lực như thế. Chúng có vai trò của chúng, trong cái trật tự tưởng vững như bàn thạch của chế độ toàn trị. Nhưng tôi tin rằng vẫn còn một lời nói sau, không cần đến 11 năm như những câu thơ của Brecht.

© 2009 Phạm Thị Hoài

© 2009 talawas blog


[1] Bản dịch của Phạm Thị Hoài

[2] Còn được gọi là Khởi nghĩa Nhân dân hoặc Khởi nghĩa Công nhân. Nổ ra tại Berlin, cuộc nổi dậy nhanh chóng lan ra 500 địa phương và đạt tới quy mô chưa từng thấy tại các nước Đông Âu XHCN. Năm ngày sau, ngày 22/6/1953, đại lộ chính tại Tây Berlin nằm trên trục Đông Tây nối hai nửa thành phố Berlin được đổi tên thành Đường 17 tháng Sáu, tên này được giữ cho đến ngày nay. Cộng hoà Liên bang Đức (Tây Đức) lấy ngày 17 tháng Sáu làm Ngày Quốc khánh cho đến năm 1990. Từ 1990, Quốc khánh Đức là Ngày Thống nhất 3 tháng Mười.

[3] Ở cương vị người đứng đầu Đảng XHCNTN Đức (Tổng Bí thư, sau chuyển thành Bí thư Thứ nhất) và Nhà nước CHDC Đức (Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng), Walter Ulbricht (1893-1973), được coi là nhà lãnh đạo điển hình theo đường lối Stalin, đã góp phần khắc hoạ đáng kể diện mạo của CHDC Đức trong hai thập niên 50 và 60. CHDC Đức dựng Bức tường Berlin trong thời gian ông cầm quyền. Năm 1971, ông bị thất sủng dưới triều Brezhnev. Người thay thế ông là Erich Honecker.

[4] Tên của Đảng Cộng sản cầm quyền tại Đông Đức cho đến cuối năm 1989. Ngày 1 tháng Mười Hai 1989, Quốc hội Đông Đức xoá bỏ độc quyền lãnh đạo của Đảng SED trong Điều 1, Hiếp pháp CHDC Đức. Hậu thân của Đảng SED tại nước Đức thống nhất là Đảng Xã hội Chủ nghĩa Dân chủ (PDS). Từ ngày 16 tháng Sáu 2007, Đảng PDS thống nhất với các đảng và tổ chức chính trị cánh tả khác thành Đảng Cánh Tả, chiếm 53 trong tổng số 612 ghế tại Quốc hội Đức khoá đương nhiệm (2005-2009).

[5] Sau khi đập tan cuộc khởi nghĩa, ban lãnh đạo Đảng XHCNTN Đức cũng nhanh chóng tìm ra thủ phạm trong nội bộ Đảng để thanh toán cuộc khủng hoảng chính trị của mình. Cùng với Bộ trưởng Bộ An ninh Quốc gia (Stasi) Wilhelm Zaisser, Tổng Biên tập tờ Nước Đức Mới Rudolf Herrnstadt, uỷ viên BCHTƯ Đảng, ứng viên Bộ Chính trị, bị coi là những phần tử đi chệch đường lối, bị tước bỏ mọi chức vụ và khai trừ khỏi Đảng.

[6] Đến nay, những quy kết cho các thế lực phát xít phương Tây và CIA nào đó trong cuộc nổi dậy ngày 17 tháng Sáu tại Đông Đức không hề có một bằng chứng nào thuyết phục, trong khi mới đây, tháng Năm 2009, hồ sơ giải mật của Bộ An ninh Quốc gia Đông Đức (Stasi) cho thấy người đóng vai trò châm ngòi cho phong trào sinh viên và trí thức cánh tả phản kháng tại Tây Berlin và Tây Đức, Karl-Heinz Kurras, một nhân viên cảnh sát Tây Berlin, là đảng viên Đảng XHCNTN Đức và cộng tác viên của Stasi.

[7] Một mặt, khi từ chốn tị nạn Hoa Kỳ trở về châu Âu qua ngả Thụy Sĩ, Brecht ngửi ra ngay “cái mùi tỉnh lẻ nồng nặc” của Đông Berlin, hết sức dị ứng với đường lối văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa sẽ thống trị tại xứ này và không có ảo tưởng gì về chế độ xã hội mệnh danh là chủ nghĩa xã hội sẽ được thiết lập tại đây. Nhưng mặt khác, chỉ có Đông Berlin mới sẵn sàng cấp cho ông một nhà hát, trong khi Wien, München, Zürich đều từ chối. Vậy khôn ngoan nhất, như Brecht đã hành động, là trở thành công dân Áo, ký hợp đồng cho toàn bộ các tác phẩm của mình với một nhà xuất bản đầy uy tín tại Tây Đức, và nhận một nhà hát kịch tại Đông Berlin. Một mặt, Brecht nhìn rõ Stalin là một “gã vô lại, xơi tái chiến hữu không thèm chớp mắt” và chủ nghĩa Stalin đã trở thành cơn ác mộng cho cả những trí thức cánh tả không mang thẻ Đảng Cộng sản như ông. Nhưng mặt khác, khi Thomas Mann từ chối Giải thưởng Stalin năm 1954 thì người thế chân không cần tìm đâu xa, chính là Brecht.

[8] Hư cấu và hiện thực, cái nào xâm lấn cái nào? Dường như các nhân vật sân khấu của Brecht đã trả lời câu hỏi đó bằng hành động thật của tác giả của chúng. Tác giả của Galileo GalileiNgười tốt thành Tứ Xuyên cũng đu dây và đeo mặt nạ như các nhân vật của mình, với niềm tin là bằng cách đó lách qua những câu thúc của hoàn cảnh để theo đuổi những mục đích cao hơn của bản thân.

[9] Phản ứng của Brecht xuất phát từ bài viết ngày 20 tháng Sáu 1953 trên tờ Nước Đức mới, trong đó Bí thư Hội Nhà văn Đông Đức (tương đương với Tổng Thư kí Hội Nhà văn Việt Nam) Kurt Barthel, uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng XHCNTN Đức, phê phán và yêu cầu công nhân Đức phải nỗ lực gấp bội để lấy lại lòng tin của chính phủ: “Bây giờ các người chỉ có cách lao động thật nhiều, thật tốt thì mới mong chính phủ tha thứ cho hành động đáng xấu hổ này.” Những nhà văn nổi tiếng của Đông Đức như Stephan Hermlin và Stefan Heym cũng góp phần đáng kể vào việc bôi nhọ cuộc nổi dậy ngày 17 tháng Sáu trong các tác phẩm của mình.


Share/Save/Bookmark

Thứ Tư, 8 tháng 7, 2009

Phạm Thị Hoài, trên sinh lộ mới của văn học

Nguồn : Sóng từ trường 1

Thụy Khuê

Sóng từ trường

Phạm Thị Hoài,
trên sinh lộ mới của văn học



Sau Thiên Sứ xuất bản năm 1989, Mê Lộ, năm 90, Từ Man Nương Ðến AK Và Những Tiểu Luận, (nxb Hợp Lưu, 1993, Hoa Kỳ) là một tác phẩm quan trọng trong tiến trình văn học của Phạm Thị Hoài và văn học Việt Nam hiện đại, xác định chủ đích đổi mới văn chương mà Phạm Thị Hoài đã mở đường bằng Thiên SứMê Lộ. Phong cách khai quang ấy xuất hiện dưới hai hình thức:

- Cập nhật hóa tản văn với ngôn ngữ các ngành nghệ thuật đương đại như điện ảnh, hội họa, âm nhạc...
- Từ chối lối kể chuyện một chiều theo trật tự cổ điển, tác giả soi cái nhìn hai chiều vào một hiện tượng: đi từ ngoại cảnh đến nội tâm, hoặc ngược lại. Lối nhìn mới ấy cho phép độc giả tiếp nhận một lúc cả hai khía cạnh: khía cạnh khách quan (nhìn từ bên ngoài của người viết) và khía cạnh chủ quan (nhìn từ bên trong của chính hiện tượng vừa được viết ra).

Ðó là lối viết flash (nói kiểu điện ảnh) hoặc lập thể (nói kiểu hội họa), cắt đứt mạch tư tưởng bằng những gros plan thoáng qua trong đầu. Ðiều này thường xảy ra trong trí óc chúng ta (đang nghĩ chuyện này nhảy sang chuyện khác): ý nọ nhằng ý kia (chữ của Nguyễn Tuân). Nhưng chính sự "nhằng nhịt" ấy mới là tư tưởng trong trạng thái tinh chất.


*

Sự chuyển mình của Phạm Thị Hoài hình thành qua cách đặt câu hỏi: Trước hết, viết là gì?

Viết, theo Phạm Thị Hoài, là một cách ứng xử với bản thân và ứng xử với môi trường.
Như thế nghĩa là thế nào? Nghĩa là Phạm Thị Hoài không viết về một cái gì, không hề thuật chuyện, không hề kể chuyện. Mà Hoài chọn cách thuật, cách kể, cách thể hiện chữ nghĩa để nói lên tư tưởng của mình. Và chính cái tư tưởng ấy cũng không có tham vọng "giải quyết" gì cả: Ðọc xong "câu chuyện", không những "vấn đề" vẫn còn nguyên, mà nó còn đưa đến trăm ngàn "vấn đề" khác rối rắm hơn. Phạm Thị Hoài sử dụng ngôn ngữ như một chất liệu. Ngôn ngữ ở đây không có tác dụng "tiêu thụ" của những ký hiệu. Ở điểm này, Hoài gần gũi với các họa sĩ, nhà thơ, điện ảnh gia, kịch tác gia hơn là các tiểu thuyết gia kể chuyện theo lối cổ điển.


*



Tác phẩm Từ Man Nương Ðến AK Và Những Tiểu Luận được chia làm năm phần. Xuyên qua năm phần ấy, ngôn ngữ giữ những chức năng khác nhau:

Phần I: Gồm hai tùy bút, thật ra là hai bản giao hưởng: giữa ngôn ngữ và tình yêu (trong "Man Nương"), giữa ngôn ngữ và những kỷ niệm một đời phong trần (trong "Kiêm Ái").

Phần II: Gồm một bài tường thuật và một bài tham luận: "Cuộc Ðến Thăm Của Ngài Thanh Tra Chính Phủ" và "Nền Cộng Hòa Của Các Nhà Thơ". Hai bài này viết theo lối ngụy biện và phản chứng.

Phần III: Gồm hai truyện ngắn, vừa có tính cách siêu thực: pha trộn dĩ vãng và thực tại, thực tại và ảo giác; vừa có tính cách cực thực: phá vỡ mọi ảo tưởng về cuộc đời, với tựa đề "Một Anh Hùng" và "Những Con Búp Bê Của Bà Cụ".

Phần IV: Truyện ngắn "Thuế Biển" dạo đầu cho tiểu truyện "Thày AK, Kẻ Sĩ Hà Thành", tác phẩm then chốt của Phạm Thị Hoài.

Phần V: Gồm ba tiểu luận. "Viết Như Một Phép Ứng Xử": bàn về quan niệm viết của tác giả. "Một Trò Chơi Vô Tăm Tích": Nói về chức năng của văn chương và "Văn Học Và Xã Hội Việt Nam" luận về cách sử dụng văn học trong đời sống Việt Nam.

Những phân đoạn trên đây có vẻ như không liên lạc gì với nhau nhưng toàn bộ tổng hợp chặt chẽ chủ trương đổi mới bút pháp và cách thị sát con người của Phạm Thị Hoài. Trong năm phần, chỉ có phần thứ nhì và phần thứ năm Hoài dùng ngôn ngữ như một ký hiệu thông thường để dẫn giải và lý luận. Những phần còn lại, ngôn ngữ giữ địa vị chất liệu phản ánh tư tưởng trong trạng thái nguyên thủy, chưa pha trộn màu mè, chưa được sắp xếp thứ tự như khi đã phát âm ra ngoài thành tiếng nói, và lại càng không phải là thứ ngôn ngữ mà nhà văn đã dàn xếp với những quy luật, xảo thuật, lớp lang, với hằng hà sa số hư từ, liên từ, giới từ, chấm, phẩy, rườm và cộm để bao bọc chữ nghĩa.
Gọt cái vỏ ngoài đi, Phạm Thị Hoài làm hiện hình "ngôn ngữ nguyên chất": sắc, thô, gai góc, và thể hiện nó dưới một quan niệm mỹ học khác, dựa trên những điểm:

- Gợi nhạc trong âm điệu thầm của các thanh âm.

- Gợi hình trực tiếp bằng từ vựng chiến lược, hoặc gián tiếp qua ẩn dụ công phá.

- Phô bày một lúc hai lớp lang: vừa hiện tượng (qua cách tả), vừa bản chất (qua cách luận), cả hai phong cách xen kẽ nhau, trùng hợp nhau, làm nên một hợp chất cô đọng, súc tích, nhiều hình ảnh, châm biếm, chua cay, mà cũng thấm đậm, đau đời.

Ngôn ngữ Phạm Thị Hoài do đó vừa gọn, sắc và có chất thơ đối với người đồng điệu, vừa khó hiểu đối với người không cùng độ nhạy cảm và quan điểm thẩm mỹ. Ngôn ngữ ấy cần sự cộng tác của người đọc. Ðộc giả không đọc Phạm Thị Hoài như đọc một câu chuyện kể theo mạch cổ điển, đọc đâu hiểu đấy, mà vừa đọc vừa khám phá, vừa phải "nhai lại" những điều vừa đọc, đối thoại với chính mình và đối thoại với tác giả. Nói cách khác: đọc Hoài cũng là một cách ứng xử, với mình, với tác giả và với môi trường. Ðọc như thế đòi hỏi một phong cách trí thức, trí thức trong nghĩa biết suy nghĩ mà nhà văn hay những người có bằng cấp cao không hẳn là một phạm trù.


*



Man Nương, tại sao lại Man Nương? Man Nương có liên quan gì đến người con gái trong truyền thuyết "Truyện Man Nương" ghi trong Lĩnh Nam Chích Quái? Hay là người con gái thổ dân miền sông Ðà, núi Tản, xưa gọi là Man, nay là Mán? Chắc là có. Man còn là một biến tự (anagramme) của Nam - tên thật Phạm Thị Hoài. Nhưng những điều ấy không mấy quan trọng, Man Nương vừa là bản giao hưởng của tình yêu, vừa chứng minh một thử nghiệm bút pháp. Mạch văn ở đây diễn tả trực tiếp tư tưởng lóe ra trong đầu với cường độ nhanh, chậm, đứt khúc, ghềnh, thác của một dòng sông. Nói như một nhà âm nhạc: "dòng nhạc chảy trong đầu tôi" thì Man Nương chính là "dòng tư tưởng chảy trong đầu người tình" từ khi người yêu đến cho đến lúc nàng đi, mỗi buổi chiều từ hai giờ đến bốn giờ, trong căn phòng xanh lơ, vuông vắn (4mx4m5) và chiều cao standard 2m8: kích thước "tiêu chuẩn" của một đời sống bình thường. Và tình yêu cũng bình thường, trần trụi không màu mè, son phấn như trong các tiểu thuyết bán chạy, giữa một người đàn ông "khẳng khiu, nhan nhản xương" với một người đàn bà có "khuôn mặt và mái tóc không cùng ê-kíp". Man Nương là sự tiếp xúc trực tiếp bằng thị giác, thính giác, xúc giác và tâm linh giữa hai cá thể. Man Nương là lưu lượng chan hòa của tình yêu trong nhịp đập thiết tha và dồn dập nhất: bản giao hưởng nhẹ tấu lên khi Man Nương se sẽ bước vào phòng:

"Man Nương, tôi gọi em như vậy những buổi chiều bốn mét nhân bốn mét rưỡi nhân hai mét tám màu xanh lơ trong căn phòng trống rỗng tầng ba có hai nhành xanh một thứ cây nào đó tôi không bao giờ biết tên.
Man Nương, em không rón rén nhưng cũng không thật đàng hoàng băng qua một hành lang dài bếp dầu hôi chậu và guốc dép vãi như kẹo trước mỗi cửa phòng phòng nào cũng bốm mét rưỡi nhân hai mét tám màu xanh lơ." (trang 10)

Thử đọc to lên, chúng ta mới thấy văn trong Man Nương không thể đọc vì sự phát ngôn không bắt kịp nhịp chữ và lượng chữ dài hơn lượng thở. Ngôn ngữ ở đây là những "tiếng thầm" biến tấu trong đầu khi dồn dập, khi xô lệch, khi cao, khi thấp, khi buông, khi thả, tùy theo động tác thể xác hay suy tưởng tâm linh. Chức năng ngôn ngữ ở đây là gợi hình, biểu cảm, môi giới cho cảm xúc giữa hai người tình. Những hình ảnh nhấp nhô không chỉ là những hình ảnh đẹp mà còn xen lẫn những góc cạnh méo mó, lệch lạc của đời thực: đã bao lần em gắng thu xếp một tư thế lý tưởng nào đó lúc thì giấu giếm ngực lúc xua đuổi hai cái xương chậu và chủ yếu là thủ tiêu những đường cong ngược, ôi Man Nương! (trang 11)

Man Nương không phải là bản giao hưởng du dương trầm bổng trong không khí lãng mạn "tiểu thuyết" mà là một bản nhạc khác thường, hiện đại, cực thực, với những sần sùi, gai góc, những "đường cong ngược"... trên thân thể và tâm hồn con người ngay trong phút giây cực lạc. Ngòi bút sắc và đôi mắt sáng của Hoài không ở đó để ghi lại khía cạnh đặc dị (singularité) của đời sống mà để khai quật, mổ xẻ, lột mặt nạ (démasquer) khía cạnh bình thường dưới nhiều lăng kính, nhiều góc độ khác nhau. Nếu văn cổ điển dùng sự thành thực làm chuẩn thì văn của Phạm Thị Hoài dùng sự thực làm chuẩn. Ðiểm khác nhau và cái mới là ở chỗ đó.


*



Ðối với Phạm Thị Hoài, mẹ Việt Nam không phải là hình ảnh những bà mẹ Âu Cơ, đẻ ra trăm trứng, trứng rồng, trứng tiên. Cũng không phải là những bà mẹ kháng chiến huyễn hoặc và thần thoại trong thơ Tố Hữu. Mẹ Việt Nam của Phạm Thị Hoài là bà mẹ giang hồ "Kiêm Ái", sống trong những căn buồng cũng giang hồ như những ga tàu treo, cái gì cũng chuẩn bị nhổ neo, những bà mẹ bán trôn nuôi miệng, bán tấm thân trần hình cong chữ S, sần sùi ở bờ biển vĩ độ mười hai mười ba, để mua về những kỷ niệm rách nát, treo lủng lẳng trên tường. Những bà mẹ bị những đứa con khôn sớm nhìn sõi vào từng vết tích kệch cỡm, chiếu kính hiển vi vào từng sợi dây thần kinh nhàu nát của cuộc đời phong trần, trụy lạc, càng ngày càng nhão mãi ra. Những đứa con ấy còn nhẫn tâm khai quật quá khứ, cả những tầng "người người lớp lớp" đã chôn sâu dưới lòng đất mà mùi xú uế còn không ngớt xông lên. Những đứa con quật mồ ấy không nhân nhượng với quá khứ gian dối của cha và hiện tại giang hồ của mẹ. Cũng phải.

Mẹ Việt Nam của Phạm Thị Hoài còn là những bà cụ mũi nhăn nheo như một quả chuối khô giữa mặt ngồi bên bờ hồ, bán những con búp bê, những đứa con do chính bà sản xuất ra. Những đứa con gái ấy có vóc dáng như thế này: Một con áo cộc tay chấm đỏ, vạt sa, quần cháo lòng ống sớ, đi hài thun đỏ đế trắng. Một con mặc bộ ca-rô xanh nhợt, cổ viền valide nâu, ủng trắng mềm lót đế giả da nâu. Một con áo chẽn vải bạt, ve to vàng nhạt, quần lửng cũng vàng nhạt và đôi hài đế vàng... ("Những Con Búp Bê Của Bà Cụ")

Những dáng vóc "rệu rạo bán ba mươi đồng không ai thèm mua" ấy được Phạm Thị Hoài sinh động hóa thành những thiếu nữ Việt Nam -không phải là những người con gái da vàng, yêu quê hương như yêu người yếu kém trong nhạc Trịnh Công Sơn- người thiếu nữ Việt Nam của Phạm Thị Hoài, ngày hôm nay là những con bé nhà hàng xóm bên phải đang cầm chặt chiếc tích-kê trong tay chờ nạo thai lần thứ ba trong vòng một năm rưỡi. Bạn đừng hình dung nó là đứa con gái trơ tráo nhảy tót lên bàn nạo xong rồi phủi đít trèo xuống. Lần nào nó cũng khóc mùi mẫn đủ ba mươi phút tiêu chuẩn trước khi phải nhường giường cho người tiếp theo. Ðáng lẽ phải khóc cho cái tình yêu vừa bị vét ra bằng hết thì nó lại chỉ khóc vì bị bác sĩ chửi mắng, làm như nếu được đối xử nhẹ nhàng hơn thì nó còn năng lui tới đây hơn [...]
Trong khi đó thì con bé nhà hàng xóm bên trái đã hoàn thành thêm một chùm thơ mới toanh, dĩ nhiên nói về tình yêu là cái nó chưa hề nhấp thử một giọt [...]. Nó viết những bài thơ giống như của các thi sĩ nổi tiếng phương Ðông, những người chỉ ưa tiêu diêu du, thơ nó có nước sông Hoàng tuôn từng dòng lớn từ trên trời xuống, có núi Thiên Mụ, có bến Tầm Dương, có những tâm sự đột ngột xuống hàng [...] Phố tôi lại khoái những cảm xúc bịa rất dở của nó, người nào không thấy hay thì vỗ tay đen đét vào trán tự trách mình không đủ trình độ thưởng thức [...]. Con bé bèn làm thêm những bài thơ vạch trần tội ác xã hội mà nó đọc được trong đống báo cũ mua về để gói cà [...]
Những vại cà được bảo trợ bắt đầu đóng váng mà con bé không hay biết, nó còn đang ở trong thời quá khứ, cái gì cũng khắc biến thành dĩ vãng liêu xiêu, vẫn bịa dở như bao giờ. Tôi đến huơ huơ đồng bạc trước mắt nó và bảo, hai trăm này, hai trăm này, để nhấc nó ra khỏi cái quá khứ không hề có, nước sông Hoàng chảy như thế là nhiều rồi. (trang 95, 96, 97, 98)

Sự nhẫn tâm của tác giả lúc nào cũng chờ đợi và sẵn sàng chọc thủng bất cứ màng lưới nào chắn che sự thật kèm thêm việc sử dụng ẩn dụ công phá để sai khiến hình ảnh về hùa, phóng ra những tấm portrait, những nhận xét, hay những cảnh huống, khi thì hài hước, khi thì nên thơ, khi cay đắng, tàn nhẫn đến lạnh người:

"Một bên mi giả của nàng sắp rơi và hai quả đồi non trên ngực nàng so le nhau, mỗi quả ở một độ cao, có lẽ do đắp vội " (trang 92)

"Kỷ niệm còn là những vết thủng trên tường bê-tông... một đồ đạc treo nặng tình nghĩa nào đó đã sơ tán... Mẹ con em sống kiểu thời chiến, kỷ niệm cũng ngụy trang, vội vội vàng vàng." (trang 22)

"Nửa Nam đất nước thì nhuốm màu cải lương, nửa Bắc tỉ tê em chã." (trang 113)
"Văn sĩ và họa sĩ là hai thứ duy nhất ở Hà Nội có thể sánh với phù sa sông Hồng, dày đặc và vô tận." (trang 127)

"Tượng là những hình khối cực kỳ tiên tiến của tâm linh, đứng giữa cuộc giao hoan tưng bừng của các thời đại đá đồng gốm sắt ấy ta mới được biết tâm linh của chúng ta vón cục như thế nào, rỗ chằng rỗ chịt như thế nào." (trang 129)

Phạm Thị Hoài tạo ra một thế giới đa diện: vừa có thực, cực thực vừa mộng ảo, siêu thực. Tác dụng của ẩn dụ biến những hình hài cụ thể trở thành trừu tượng và những ý niệm trừu tượng trở thành cụ thể để Hoài vẽ -một hiện tượng- với ít nhất một ảnh thật, một ảnh ảo và một ảo ảnh, với lượng chữ nhỏ nhất. Nếu trước Hoài người ta vung vít chữ nghĩa thì tới Hoài, chữ nghĩa đã được tiêu xài dè sẻn, nếu không muốn nói là tiết kiệm tới độ tối đa.


*



Những bài viết trong phần hai, có tựa là "Làng Ðinh", đứng riêng một thể loại khác, gồm một bài tự thuật và một bài tham luận. Bài thứ nhất, "Cuộc Ðến Thăm Của Ngài Thanh Tra Chính Phủ" là lời của một "dân làng" vừa "tâm sự" vừa "giải thích" lý do tại sao làng Ðinh vắng bóng nhiều thứ như: khoa học, triết học, thi ca v.v... Tóm lại, những thứ đó đối với họ đều "phù phiếm" cả. Tay ấy lý luận như thế này: sở dĩ chúng tôi không có các nhà thơ, vì chúng tôi không coi việc bầu trời xanh trong mắt một người đàn bà là một nội dung ra hồn, bầu trời quê tôi xanh hay không, điều đó phụ thuộc vào thời tiết và được phản ánh trung thực trong mắt tất cả một ngàn nhân khẩu, hơn hai trăm hộ... chứ đâu phải độc quyền miêu tả của riêng ai... (trang 41). Chúng tôi không có triết học bởi vì các triết gia thuộc loại ưa giật dây kẻ khác, làm lũng đoạn xã hội, khi họ còn sống đã đành, mà ngay cả khi họ đã yên phận đâu đó ở thế giới bên kia, họ vẫn tiếp tục già mồm triết lý. Cho nên, họ chính là những kẻ đầu têu nguy hiểm nhất. (trang 43)

Cái lối lý luận gàn này gồm thâu cả ngụy biện lẫn phản chứng cứ từ từ dẫm lên những thực trạng -mà bình thường ta gọi là thảm trạng- bằng thứ ngôn ngữ hóm hỉnh, hài hước, đánh đu với phi lý, khiến người đọc càng nghiền ngẫm càng thú vị và cái thú vị càng cao thì cái chua cay càng lớn. Phạm Thị Hoài từ chối loại "cảm xúc" dễ dàng trực tiếp. Hoài lựa chọn gián tiếp: muốn khóc phải cười trước đã.
Bài tường thuật kết thúc trong chủ ý: Anh đã lường gạt dân quá nhiều lần, thì lần cuối anh có muốn nói thật, muốn đổi mới thật, họ cũng chẳng tin.

Làng Ðinh với bốn bức cổng chào, phải chăng là hình ảnh nước Việt trường thiên bế quan tỏa cảng, cóc cần đến các thứ triết học, thi ca phù phiếm, "văn minh văn hiến" mà vẫn chiến thắng khơi khơi, thì ngày nay, ích gì mà phải đổi mới?

Ðối lập với tiếng nói của "nhân dân" là bài tham luận của một ông quan văn tựa đề "Nền Cộng Hoà Của Các Nhà Thơ", trong đó diễn giả mô tả một nền cộng hòa văn học chỉ đạo mà đội ngũ nhà thơ được tổ chức theo phạm trù quân sự: gồm thi sĩ thường và sĩ quan thơ ca. Sĩ quan thơ ca lại có ngạch trật: dự bị, úy, tá, tướng và nguyên soái, với một ban tham mưu, một bộ tư lệnh và hai tổng tư lệnh toàn cõi thơ: Về toàn cục, lực lượng thơ ca sẽ được tổ chức thành thi đoàn, gồm các nhà thơ chủ lực, và thi khu của các thi sĩ địa phương [...] Chúng ta sẽ có các bộ phận thơ chỉ huy, hậu cần, phòng không, văn công, đặc nhiệm, đại bác, cảm tử, thiết giáp... nói chung rất là phong phú. Một tòa án đặc biệt chuyên ngành, vâng, tòa án binh, sẽ tập trung xét xử những vi phạm đẳng cấp và nghi thức trong nội bộ đội ngũ các nhà thơ - chiến sĩ [...] Cái đẹp loại một, loại hai, cho chí cái đẹp hạng bét không còn pha trộn tùm lum như trong thùng nước mắm mậu dịch (trang 66, 67)

Cái cười ở đây xác nhận tâm cảm bi quan tột độ của Phạm Thị Hoài trước xã hội Việt Nam hiện tại.

Hai bài viết trong phần "Làng Ðinh" đã là lý do chính khiến tác phẩm không thể xuất bản được ở trong nước.


*



Những bài viết trong ba phần đầu cho chúng ta khái niệm tổng quát về con người và xã hội Việt Nam. Nhìn sâu, từ người mẹ giang hồ trong Kiêm Ái đến Những Con Búp Bê Của Bà Cụ hay những anh hùng chỉ là nạn nhân của xã hội. Ngay cả ông quan văn sáng chế ra cái nền cộng hòa bất hủ của các nhà thơ cũng chỉ là thứ sản phẩm tất yếu của một xã hội thượng thừa quy chế quân luật và bao cấp.

Phần thứ tư với truyện ngắn Thuế Biển, tác giả đưa ra một mô hình "thủ phạm", để dẫn tới phần thứ năm, thầy AK, điển hình cho các khuôn mặt thủ phạm khác đã cấu tạo nên cái xã hội ấy. Người đàn ông trong Thuế Biển mới chỉ là nét phác, sơ đồ của một thứ "lương tâm" luôn luôn được đánh bóng mạ kền, thứ người biết trọng danh dự, trọng chữ nhân tâm, một loại đức Chúa hằng sáng, đức Phật từ bi. Những "đức tính" ấy (của người đàn ông) làm nên "cái diện mạo tinh thần của cả một cộng đồng."
Và tất cả những cố gắng li ti làm vừa lòng kẻ khác của ông khi đi chơi với gái: ngôn từ, ngôn từ, rồi lại ngôn từ... làm liên tưởng tới Pandora(1) và dẫn đến cái acte gratuit (chữ của Gide), hành động vô cố cuối cùng và lạnh lùng của người con gái: "Tôi giơ tay ra, rất nhẹ, và nhìn theo cho đến khi mái tóc tóc người da đỏ của ông ta mất hút giữa những làn sóng biển. Dưới đó không có bảo hiểm. Sau lưng tôi là tiếng rú của một ni cô. Tiếp theo là a di đà phật." (trang 117)

Thuế Biển với kết từ dứt khoát và lạnh lùng: lương tâm thật (người con gái) loại trừ lương tâm giả (người đàn ông), mới chỉ là khúc nhạc dạo đầu cho tiểu truyện Thầy AK, Kẻ Sĩ Hà Thành, trong phần thứ năm.

Phần tối thượng trong tác phẩm, Phạm Thị Hoài dành riêng cho giới trí thức văn nghệ sĩ với tiểu truyện "Thầy AK, Kẻ Sĩ Hà Thành" bằng ngòi bút biếm tuyệt.

Thầy AK, một thứ thầy đời, một kẻ sĩ chính diện, AK gồm thâu toàn bộ đức tính mười hai đệ tử của chàng:

- Kẻ sĩ thứ nhất ưa dự án, phác họa và đề cương.
- Kẻ sĩ thứ nhì: có thể viết ngàn trang sách mà không cần hiểu nghệ thuật là gì.
- Kẻ sĩ thứ ba: vừa là họa sĩ kiêm điêu khắc, tác phẩm lổn nhổn những nỗi đau xoắn vặn mù mịt vào nhau, những nỗi đau rỗng và láo toét như những khẩu hiệu chính trị.
- Kẻ sĩ thứ tư thuộc loại mình tự xỉ vả mình: bao nhiêu điều xấu trên đời tôi nhận hết - tôi cầu kinh sám hối.
- Kẻ sĩ thứ năm: bao nhiêu xấu xa thuộc người khác, chúng nó khốn nạn thật, chúng nó dạo này làm căng, chúng nó không để cho mình yên đâu...
- Kẻ sĩ thứ sáu: Chuyên xưng tụng những khuôn mặt sống nổi danh nhất ở đất Hà Thành. Qua họ, chàng nhận ánh hào quang ké và phản xạ lại: chàng sáng hơn họ.
- Kẻ sĩ thứ bảy: thuộc lòng các vĩ nhân đã chết. Voltaire nói thế này, Goethe nói thế kia...
- Kẻ sĩ thứ tám: Là đấng học sĩ chính qui, phó tiến sĩ, phó viện trưởng, phó giáo sư, hiên ngang quẳng những danh giá văn bằng vào sọt rác mà chúng ta ngẩn ngơ nhặt lên và tiếc của.
- Kẻ sĩ thứ chín: là một anh nhà quê, hiền lành ngồi nghe và chu đáo trả tiền khi tất cả đều bước ra khỏi quán.
- Kẻ sĩ thứ mười: là một nhà phê bình nghệ thuật tuyệt đối tránh dùng thể khẳng định mà chỉ ưa những
"phải chăng, có phải, có lẽ, dường như, nếu như, đâu như..."

Mười vị đó cộng thêm cô học trò Kiều Mai và một đệ tử thứ mười hai, vẽ nên toàn diện các khuôn mặt sĩ phu Bắc Hà.


*



Trong lối công phá những sâu mọt xã hội, Phạm Thị Hoài không thèm đếm xỉa đến những thứ mà mọi người chờ đợi. Chính quyền nếu có xuất hiện trong tác phẩm chỉ là thứ chính phủ mà người dân không thèm biết nằm ở đâu, ở hướng nào dưới gầm trời mênh mông này (trang 46) hoặc ám chỉ mông lung: b?i>?y giờ chúng ta đang ở trong một ngôi miếu thờ Ông Rắn mà dân bản xứ công kích gọi là Người (trang 146). Chữ Người viết hoa.

Ðối tượng của Phạm Thị Hoài, ở đây, là những bộ mặt trí thức văn nghệ sĩ, xúc không hết, có thể so sánh với phù sa sông Hồng dày đặc và vô tận. Và thầy AK là một biểu tượng. AK là tên một khẩu súng, biểu tượng phá hoại? AK là AQ của Lỗ Tấn và K của Kafka(2) ghép lại? Nếu AQ điển hình cho bộ mặt bần cố Trung Hoa thời Lỗ Tấn thì AK là khuôn mặt trí thức điển hình mà Phạm Thị Hoài chọn lựa cho xã hội Việt Nam ngày nay.

Phạm Thị Hoài mở đầu bằng hình ảnh hóa thân mà Kafka bày ra trong La Métamorphose: anh chàng Gregor Samsa sáng dậy tự nhiên thấy mình biến dạng thành một con bọ khổng lồ. Sự thoát xác của nhân vật trong truyện Kafka, cuốn sách thày AK vừa đọc, nhưng không hiểu và gán cho nó ý nghĩa "luân hồi" chỉ là vấn đề "trình độ" của người trí thức và mở đầu cho cuộc phiêu lưu mang hình thức thánh giáo của hai thầy trò AK, trong một môi trường mà đạo đức xã hội đã bị thầy trò AK làm ô nhiễm đến tận xương tủy.
Nếu AQ của Lỗ Tấn, là nạn nhân của xã hội Trung Hoa thời đầu thế kỷ thì AK của Phạm Thị Hoài là thủ phạm đã ô nhiễm xã hội Việt Nam hiện nay. AK là ai? AK là những người giả hiền, mang mặt Chúa, Phật đi truyền giáo. Những trí thức ấy lừa bịp bản thân và lừa bịp quần chúng. Họ là những nhà văn tự lừa đảo trong văn phong, trong tư tưởng... họ sát nhân bằng ngôn ngữ, bằng ngòi bút. Họ là những thầy thuốc chữa bách bệnh bằng dầu cù là. Họ là những thầy giáo dạy học trò bằng lộng ngôn và ngoa ngữ. Họ là những con bù nhìn chính trị, suốt đời chỉ biết nhai lại độc một bản diễn văn. Họ là những thi sĩ làm thơ bằng cảm xúc bịa. Họ là những họa sĩ, điêu khắc gia sáng chế những quằn quại giả tưởng... Không khí trào lộng và hý lộng trong cuộc thánh du của hai thầy trò AK càng cao thì bản cáo trạng càng dài.

Phạm Thị Hoài là một người trí thức công khai nhìn nhận trách nhiệm của trí thức. Trách nhiệm trước tiên đối với bản thân, sau đó với chữ nghĩa và sau cùng với người đồng loại.

Paris 17-4-1993

Chú thích
(1)Người đàn bà đầu tiên trên trái đất, trong thần thoại Hy Lạp, trách nhiệm đem cái xấu đến cho nhân loại.
(2) K là nhân vật chính của Kafka trong hai tác phẩm Vụ Án (Le procès) và Lâu Ðài (Le Château)

© 1991-1998 Thụy Khuê


Share/Save/Bookmark

Man Nương

Nguồn : Việt Nam Thư Quán

Phạm Thị Hoài

Man Nương

Man Nương, tôi gọi em như vậy những buổi chiều bốn mét nhân bốn mét rưỡi nhân hai mét tám màu xanh lơ trong căn phòng trống rỗng tầng ba có hai nhành xanh một thứ cây nào đó tôi không bao giờ biết tên.
Man Nương, em không rón rén nhưng cũng không thật đàng hoàng băng qua một hành lang dài bếp dầu xô chậu và guốc dép vãi như kẹo trước mỗi cửa phòng nào cũng bốn mét nhân bốn mét rưỡi nhân hai mét tám màu xanh lơ.
Trước cửa phòng tôi chỉ có một đôi dép nhựa tái sinh nâu thô kệch cở bốn mươi sáu là ít nhất. Ðộng tác đầu tiên của em là cúi nhón đôi giày tràn trề nữ tính vừa trút ngoài cửa vào theo, đặt chính xác ở góc càng mở cửa càng là tàng hình. Rồi mới úp mặt vào ngực tôi mở sẳn, rồi hai bàn chân trần tìm trèo lên hai chân tôi cũng đã mở sẳn em có thêm năm centimet bệ đỡ để nhích úp mặt vào cổ tôi, rồi hai cánh tay tìm ghì lên vai tôi để em đu úp mặt vào mặt tôi, thế là tới đích.
Man Nương, những buổi chiều từ hai giờ đến bốn giờ tôi gọi em như vậy, từ hai giờ đến bốn giờ nắng quái ác tôi chỉ có một chiếc quạt ba mươi nhăm đồng cực kỳ tế nhị muốn đặt kiểu gì nó cũng tự xoay mặt vào tường, hơn nữa từ hai giờ đến bốn giờ thành phố chưa có điện. Tôi đóng tất cả cửa sổ, mong ánh sáng cũng được tế nhị như cái quạt. Vì sao ? Man Nương, em và tôi chúng ta không phải nhân vật chính trong tiểu thuyết bán chạy nhất. Ðiều đó đã rõ ràng. Tôi là một người đàn ông chỉ có chiều cao là chiều cao không gỡ lại được gì. Khẳng khiu, nhan nhản xương, đốt nọ đốt kia, nhiều tới mức chính tôi cũng chẳng buồn xem chúng có được một hài hoà trật tự nào đó chăng. Chúng không có. Em đã nhìn thấy. Em còn nhìn thấy chỗ khuỷu tay tôi chỗ bẹn chỗ hai tai chảy xuống toàn là nhăn nhó. Còn chỗ ấy là một cục xám nâu thảm hại không đáng một cái liếc mắt của trường phái nạ giòng âm thầm từng trải. Ngực thì mỏng tanh. Móng tay móng chân không cắt theo đường lối. Quần áo tầm thường. Người đàn ông này cũng không tỏa hương thèm khát ở môi ở các ngón tay dù ngón run run rờ trên em. Run run thật. Vì làm sao tôi tin được đây là không gian ái tình. Tôi cũng đã nhìn thấy em không phải một trang mỹ nữ với đùi dài thẳng tắp với ngực vênh vểnh và tóc xõa xõa. Man nương, em chẳng có gì giống thế. Ðã bao lần em đứng trước gương không biết nên trách khuôn mặt hay trách mái tóc hai thứ nhất định không cùng êkíp. Rồi cả hai lại hoàn toàn độc lập với những gì còn lại. Ðã bao lần em gắng thu xếp một tư thế lý tưởng nào đó lúc thì giấu giếm ngực lúc xua đuổi hai cái xương chậu và chủ yếu là thủ tiêu những đường cong ngược, ôi Man Nương!
Em úp mặt vào mặt tôi. Chúng mình không biết hôn một cách chuyên nghiệp. Tôi nghe nói người ta dùng lưỡi tách hai hàm răng. Em hẳn cũng nghe nói người ta xoay nghiêng mặt một góc bốn mươi lăm độ.
Nghe nói phải từ từ gỡ hai khuy áo trên. Phải sững sờ vài giây trước điều kỳ diệu thấp thoáng rồi có hai cách, hoặc vừa dịu dàng cúi xuống đặt môi vừa khe khẽ ngắm như thể đấy làm bằng pha lê bằng sứ Tàu bằng ngọc lan bằng hai giọt sương khổng lồ, hoặc tay phải bao giờ cũng là tay phải có một nhà văn đã nói về nỗi bất hạnh của những kẻ thuận tay trái cuống cuồng mơn nắn vò xé từ bên này qua bên kia từ bên kia qua bên này như thể chẳng kịp như thể nó sắp đột ngột vượt lên thách thức như một dải Hoàng Liên Sơn hay sắp biến mất sau trận động đất, cách hai là cách như dại cách một là cách như ngây. Còn em, em phải cong người ra phía sau cong mãi cong mãi con tôm của tôi chiếc lạt của tôi. Tôi mãi muốn làm mái vòm linh động rủ theo em. Che cái nắng quái ác cái nắng thiếu hẳn đức tế nhị.
Nhưng nghe nói phải diễn biến tiếp.
Bây giờ cũng có hai cách.
Cách một tôi vẫn áo quần nguyên nhè nhẹ trải em ra gấm của tôi vóc của tôi có hai con mắt và một ngón tay. Em thì mắt khép đùi khép còn lại lồ lộ run từng cơn thụ động. Cho đến khi em phải lật mình sang nghiêng, e lệ dốc thèm muốn xuống một bên lườn, một nửa sổ xương sườn thấp thỏm. Tôi mới liếm phơn phớt hai vành tai làm bằng nhung the và hai nhũ đầu có mùi táo tàu. Ðừng anh làm gì, em phải nói với khăn trải giường như thế câu ấy là bắt buộc. Nếu không chúng ta là phường đồi trụy. Một câu nói có sứ mệnh tổng vệ sinh tích cực thân thể xú uế của chúng ta. Rồi chúng ta lại bốc mùi đã khử trùng của hành lang bệnh viện.
Cách hai nghe nói phải oanh liệt hơn. Như thể hai dòng sông đã sốt ruột chảy và chảy qua bao nhiêu phong cảnh qua những bè gỗ thả những áo quần giặt đùm đụp những đập thủy điện xây vội những vô bê tần ngần, để bây giờ đổ ập vào nhau. Không có tôi trước hay em trước. Không có sĩ diện và những chùm tiết hạnh khả phong treo hoài phòng khách. Tôi phải ồn ào giải phóng em khỏi lớp trong lớp ngoài lớp lịch sự lớp văn minh giải phóng em khỏi lòng tự trọng quá sâu sắc. Tất cả sẽ rơi là tà hoặc cuộn thành mả thành đụn vô chủ như trên mặt trăng. Rất gợi cảm. Rồi tôi cũng hùng hổ lộn vèo qua đầu chiếc sơ mi trong khi một tay lần này tay trái vẫn giữ em. Dòng sông của tôi đừng chảy ra biển. Rồi chúng ta phải gầm gừ. Ở cách hai này gầm gừ là bắt buộc. Lẽ ra tôi dùng thêm từ rên rỉ. Nhưng trong tai tôi từ ấy xấu xí như chiếc cà vạt phải đeo đúng cách vào các dịp nào đó. Em không có cơ hội nói một câu gì vì tôi bịt kín miệng em tôi lấp hết các cửa ngõ ngay từ đầu tôi ào ào đánh phá bằng nhiều tốc độ vừa đánh vừa kìm. Cứ như ý tôi thì thành lũy này cho phép trọn vẹn hai tiếng đồng hồ từ hai giờ đến bốn giờ. Cho đến khi mỗi đứa đều băng qua điểm ích kỷ tuyệt vời chỉ còn đủ sức thán phục nhau bằng cách thiếp đi năm phút trong khi tay nắm tay nhau. Nếu không chúng ta là phường bạc bẽo.
Vẫn hoặc là như dại hoặc như ngây.
Nhưng đã xác định, tôi và em chúng ta không ở trong tiểu thuyết bán chạy nhất. Nghe nói thì thế đấy. Nghe nói thì người ta yêu nhau cứ như thế một sự kiện. Cứ như thể tiệc tùng. Cứ như thể Niết Bàn. Tôi không có ý chống lại các superlatives như hồi vị thành niên, nhưng đã từng lên khỏi một vài tiệc lớn nơi quý ông quý bà mỗi người một chiếc ly trong tay xoay hoay trình bày một phong độ. Tôi đã quẳng chiếc ly của mình vào một lùm cây gần nhất rồi chuồn. Và cũng từng chuồn khỏi một vài Niết Bàn nơi các quý vị nâu sồng lườm nguýt nhau vì xôi oản và chứng chỉ phong di tích lịch sử. Ðã được xếp hạng.
Nghĩa là tôi rất yên tâm vì những buổi chiều màu xanh lơ ấy không giống như nghe nói.
Giống làm sao được. Tôi cứ nhìn kỹ vào cuộc sống của mình, soi đi soi lại, như tự nghiện, như rắp tâm viết hồi ký, thì thấy rõ. Không có sự kiện đáng bàn tít lớn nào xảy ra với tôi. Hồi nhỏ chắc tôi cũng đã lên sởi, đã mấy lần gãy tay và mắc chứng táo bón, chứng bỏ học, chứng lười đánh răng. Tất cả những chuyện đó thật đáng yêu nhưng chúng chẳng cho phép tôi thành chú bé khác thường. Tôi cũng đã là cái giá áo cho những trang phục hiếu chiến nhất là suốt một tuổi vị thành niên. Hồi ấy mỗi ngày tôi búng ngón tay và nhổ nước miếng mấy trăm lần. Từng cái lông chân của thiên hạ đều khiến tôi giận dữ và kinh tởm. Sau khi thấy thế chỉ tổ cho bà con khu phố được giải trí không mất tiền, tôi chuyển qua trầm ngâm. Ngay từ hồi ấy tôi đã hiểu thấu đáo ý nghĩa của việc lặng ngồi nhấm nháp một tách trà ở ngã tư Hòa Mã, nơi cứ hai tuần tàu điện lại chẹt chết ai đó. Ngay từ hồi ấy tôi đã tập dượt những ý nghĩ bao quát về số phận. Tôi nghĩ ngợi về sự cẩu thả không thể tin được của con người trong cái cách họ im im đóng cửa cãi lộn hoặc an ủi nhau tất cả thường diễn ra quanh mâm cơm người này gắp thêm một miếng cho người kia người khác thì hất nước mắm ra chiếu, trong cái cách họ lê dép đi ra đường hoặc dính chặt vào yên xe đạp, trong cái cách họ chào nhau bằng những câu xoi mói, họ vén quần đái giữa phố một cách khiêu dâm, họ ngồi chồm hổm ở khắp mọi nơi như những con khỉ vui sống, họ tỏ tình không ý nhị gì cho lắm, họ sực nức mùi cá biển cắt ô toàn thành phố trong cùng một ngày. Tôi nghĩ ngợi rất nhiều về tương lai. Tương lai khi ấy đối với tôi vẫn còn là ngôi sao treo khuất ở đâu đó. Tôi cũng bỏ công lên đường tìm kiếm những kẻ giống mình, nghĩa là những kẻ trầm tư chĩa mắt vào cuộc đời mà họ chưa từng sống. Nhưng đấy là nhận định bây giờ. Thưở ấy tất nhiên tôi lang thang đi tìm tri âm như một kẻ đã sống quá đủ kể cả đời sống tình ái. Có một cô tên Lan hơn tôi mấy tuổi chịu trách nhiệm về điều đó. Chúng tôi ngồi ở công viên Pasteur rồi chạy tuốt lên đường Lê Phụng Hiếu trốn công an và hai dân vệ. Cuối cùng ở con dốc gần lò mổ tôi mới biết cô nàng là nạn nhân của bệnh đậu mùa và hôi rình ở miệng ở nách còn những chỗ khác tôi hoàn toàn lú lẫn. Thế là quá đủ. Tôi cặp kè sống chết với Vũ và Lâm. Vũ là một đứa lẻo khoẻo thích đội mũ phớt biết kéo vĩ cầm xuất thân giáo sư cả bố lẫn mẹ. Trên thế gian này không có ai đáng cho nó nói chuyện dù chỉ là câu thế nào khỏe chứ. Vì thế sự trầm ngâm của tôi là hợp cách. Lâm lại là hình ảnh của rất muốn dùng bạo lực. Vì lý do tổng quát, nó bị ám ảnh bởi ý nghĩ rằng chỉ riêng sự có mặt của nó trên đường phố đã đủ là lời tuyên án trực tiếp nhất nếu không muốn nói là sự khủng bố đầy hân hoan với tất cả những gì còn lại, nó với bộ râu quai nón tương lai với cặp mắt chứa chan tình cảm và đôi môi cố mím để khỏi mếu mếu cười cười. Rút cục chúng tôi cũng chỉ là một bộ ba phổ biến bao giờ người ta cũng ưa chuộng con số ba. Làm như nhân ba thì phấn chấn hơn nhân bốn. Tất cả những chuyện ấy cũng thật đáng yêu thật đáng nhớ lại kể lại với gia thêm một chút bột canh Việt Trì. Nhưng sòng phẳng mà nói những sóng gió tuổi choai choai ấy đến một lúc nào đó bỗng nhiên đi đâu hết. Tôi chẳng biết bây giờ Vũ đã đội chiếc mũ phớt bao nhiêu trong cuộc đời. Lâm đã lầm bầm nguyền rủa bao nhiêu lưỡi dao cạo. Một ngày nào đó gần đây tôi chợt nhìn thấy Vũ dắt chiếc một linh ba mặt mũi đầy tự trong kiểu trí thức thuộc địa và theo sau một quãng nghi binh là một nàng đeo kính cố tách khỏi môi trường. Tóc nàng để rất dụng ý. Khóe miệng thì chán chường căng thẳng. Những phụ nữ hạng siêu việt này chỉ có một mục đích trong cuộc đời là săn tìm một người đàn ông có thể hiểu mình được. Họ quá là không đơn giản chút nào. Tôi mừng cho Vũ từ đằng sau. Thế mà nó đã tìm được ai đó đáng cho nó nói chuyện. Thế mà nó trưởng thành, đã có một đời sống xã hội thật rồi cứ nhìn cách nó chọn xe pháo thì biết. Còn Lâm đôi ba lần lướt qua ngay sát mũi tôi nhưng tôi chẳng kịp đánh hơi xem nó là ai. Mà tôi chắc cũng không dậy mùi VIP khiến nó phải miễn cưỡng ngoảnh lại. Nó đã quệt vỡ cái đèn xi-nhan bên trái của tôi để lách lên chui qua chiếc chân tàu ở đầu đường Khâm Thiên, nó tỏ ra biết quý thời gian ở tình huống chắn tàu như phần lớn người Hà Nội hiện đại và cũng giống như phần lớn người Hà Nội hiện đại nó không xin lỗi. Thế cũng là một trưởng thành.
Man Nương, chẳng bao giờ em cật vấn tôi tôi cật vấn em xem chúng ta có đáng một hàng tít lớn nào không. Cứ thử nghĩ xem khi người ta đẹp khi người ta cường tráng người ta nổi tiếng và giàu có mà lại còn yêu nhau và yêu nhau hợp đạo lý thì có gì mà nói nữa. Hoặc khi người ta bị xô vào nhau như Chí Phèo Thị Nở thì cũng chỉ cần nói một lần trong sách vở là đủ. Chúng ta chẳng có gì giống thế.
Tôi rất mừng thấy em không phải hạng phụ nữ siêu việt như trên vì tôi không thích là mục đích của đời em. Nếu như thế tôi sẽ bứt rứt tôi sẽ gồng lên và một lúc nào đó cái không gian ái tình màu xanh lơ nóng hầm hập trơ trụi của chúng mình dứt khoát sẽ biến thành vũ đài. Tôi sẽ vung vẩy hò hét ở đó trên cơ sở cặp mắt sáng rực của em. Không, vì tôi biết tới gần giây phút sung sướng thực nhất có một màn mây mỏng đùng đục kéo qua mắt em, trông em đau đớn thất thần như trong cơn vượt cạn, rồi ở cái điểm ích kỷ tuyệt vời ấy em lờ đờ nhắm mắt khẽ trào ra một hai giọt lệ, còn tôi thì khụt khịt như bị ngạt mũi. Theo thẩm mỹ riêng của tôi như thế đáng cảm động hơn vũ đài.
Tôi cũng rất mừng thấy em không phải hạng phụ nữ nổi loạn muộn mằn. Em không có một quá khứ dại dột nào để bây giờ phải cân bằng. Em cũng không hầm như chúng mình trong nhiệt độ cao của những tâm hồn bây giờ mớt biết bốc cháy. Em lại càng không xoa dịu lương tâm bằng cái cách phổ biến là vò xé nó. Không phức tạp, không riết róng, không ồn ào. Nếu cần nói về em, tôi luôn chỉ biết em không như thế nào. Cứ trử dần đi trử dần đi, có thể còn lại là em, ôi Man Nương !
Tôi thường hết lòng ngắm em vào lúc hai giờ năm phút và bốn giờ kém năm phút. Hai giờ năm phút em gỡ tóc ra và chải. Bốn giờ kém năm phút em chải và búi tóc lên. Bao giờ cũng là cái lược ấy, cũng nhựa tái sinh, cũng màu xanh lơ, bán rất nhiều ở các mẹt hàng xén ngoài chợ. Tôi không thể hình dung em với một cái lượt khác. Ðến nỗi buổi chiều cuối cùng tôi đã hỏi xem em cái lược ấy. Em nhẹ nhàng bảo như thế có xúc phạm vợ anh không. Tôi cười trừ và bỏ ngay ý định. tôi không cho phép ai cho phép cái gì xúc phạm vợ tôi ngoài chính tôi. Nàng cũng biết thế và nàng không đau đớn quá mức cần thiết.
Ở khoảng giữa hai lần chải đầu, tất cả diễn ra đều đều, trật tự. Tôi đã nói rồi, không có sự kiện. Ðầu tiên em lơ đãng liếc qua một hai mẩu báo rơi chểnh mảng trên sàn tôi thường mua bánh mì kẹp trong giấy báo. Trong khi đó, tôi kiểm tra một lần nữa các cửa sổ rồi rót nước lọc cho vào cái nắp phích. Tôi tới ngồi bệt trên sàn cạnh em, quạt quạt bằng bia tờ phụ san thể thao văn hóa. Có Madonna và Maradona. Chẳng bao giờ tôi đưa ra một nhận xét tích cực về áo quần và mùi hương của em vì với em tôi không nỡ nịnh. Em trang phục theo lối tổng thể không thay đổi nên mọi nhận xét về biến cách của chi tiết một cái cổ áo dăm ba cái cúc mấy đường chít chít lượn lượn đều vô ích. Chỉ có một lần em giắt thêm hoa ngọc lan trong nịt vú. Ðấy không còn là biến cách mà là một phá cách đàng hoàng. Nhưng chỉ một lần em không lặp lại chẳng hiểu vì sao tôi cũng không hỏi.
Rồi lượng chừng mẩu báo đã dẫn luận xong, tôi đỡ em nằm xuống, vẫn ngay trên sàn nhà chỉ thêm hai chiếc gối chứ chẳng giường chiếu khăn khiếc trải gì hết. Hai chiếc gối bọc cùng loại vải kê ô cùng một đường may như đôi quần đùi của tôi. Em sẽ không nói gì với khăn trải giường, phải rồi, đấy là một tất yếu. Trong cái ánh sáng khó tả đã được tôi dàn xếp trước, trên nền gạch vàng nhờ nhợ và từ góc nhìn chênh chếch xuống trông em thật tươi. Mi mắt sẫm hơn, vành môi rõ ràng hơn, gò má thanh thoát hơn. Tôi ôm em một lúc vừa ôm vừa quạt vẫn phẩy đi là Madonna phẩy về là Maradona. Ðược khoảng trăm cái tôi mỏi tay em cũng tự động nhích ra. Ðến lượt những câu chuyện bâng quơ. Có gì mới không em. Có gì mới không anh, hai câu hỏi và hai cái lắc đầu thế là hết năm phút. Ðấy là tốc độ sống bình thường, tôi biết có những người còn chậm hơn. Chúng ta đào đâu ra từ bốn giờ chiều hôm trước đến hai giờ chiều hôm sau những thông tin túi bụi. Tôi với em chúng ta thuộc loại chưa từng gửi đi đâu một bức điện khẩn. May lắm mỗi người trong chúng ta có được một hai quyết định tạm gọi là quan trọng trong cuộc đời. Trong cả cuộc đời, tôi muốn nhấn mạnh. Hai mươi hai tiếng đồng hồ chỉ vừa xoẳn cho ta tự nhiên già đi một chút không nhận thấy, tự nhiên quên đi một cái gì không rõ, tự nhiên ra ra vào vào thêm mấy lượt ở ngay cửa nhà ta mà thôi. Nghe thì chán nhưng thực ra tất cả những chuyện ấy cũng thật đáng yêu. Vì thế tôi vẫn đầy hứng khởi theo sát những chuyện không mới của em. Hôm nay con bé hàm em lại nhất định không chịu đi nhà trẻ. Hôm nay em gặp chị ấy chị ấy ở đầu chợ. Hôm lâu lắm không gặp trông có vẻ béo ra. Lý tưởng thẩm mỹ của em là béo tôi có thể hiểu được. Hôm nay hôm nay hôm nay. Tôi không có khả năng miêu tả cuộc đời mình giản dị sinh động như thế, nên lòng dâng tràn âu yếm. Và bắt đầu run run rở trên em. Làm sao tôi tin được đây là không gian ái tình.
Em nhổm dậy, xoay lưng cởi áo, tôi cũng nhốm dậy xoay lưng. Bên nào ra bên ấy không có cảnh ngổn ngang vô chủ. Trung thành với truyền thống mảnh trong vẫn ở trong mảnh ngoài vẫn ở ngoài ngăn nắp trên sàn. Em không hề biết trên đời này có cái gọi là hiệu ứng đồ lót. Còn tôi cũng không hề biết cách nâng niu những thiên thể bé nhỏ ấy tôi sợ chúng tuột qua kẽ ngón tay. Rồi chúng ta cùng quay nhanh lại cùng trườn vội vào lòng nhau cùng nhìn sâu vào mắt nhau thết là mắt khỏi chạm vào những chỗ khác. Tay cũng thế môi cũng thế nói chung cái nào vào cái ấy rồi tất cả cùng trật tự đi tới đích, hoặc thỉnh thoảng cũng không đi tới đích. Tinh thần chung là không sáng tạo. Có thể tôi luôn tỏ ra sung sướng hơn tình cảm thực một chút. Có thể tôi tìm cách giấu giếm một vài cố gắng. Và có thể em một đôi lần cùng nhẫn nại nằm đó cho cái tình yêu thật kém điêu luyện này có chỗ mà đậu vào. Có thể như vậy. Ðấy không là những động tác giả. Ðấy chỉ là để thay thế những xin lỗi cám ơn tương kính như trong hội nghị mà chúng ta chẳng thể du dương cất lên.
Sau đó đến lượt em quạt, quạt mãi quạt mãi. Vài chục nghìn chiếc tôi đếm không chính xác vì lần nào cũng thể đúng lúc ấy hai nhành xanh một thứ cây nào đó tôi không bao giờ biết ten đột ngột lách qua một khe cửa sổ nhòm vào. Như một nụ cười hiền. Nhân chứng duy nhất đây, kẻ khích lệ duy nhất đấy. Tôi quên bẳng những đốt xương nhan nhản của mình, quên sự trầm tư, quên rằng bên cạnh tôi em đã thu xếp được một tư thế lý tưởng từ lâu; tôi nháy mắt và đánh lưỡi với một con thạch sùng treo lặng phắc trên trần: tôi ư ử trong cổ họng: Man nương ơi man nương. Không bao giờ em biết tôi gọi em như thế.
Buổi chiều cuối cùng đợi em búi tóc xong tôi đã bẻ một trong hai nhành xanh ấy trao cho em. Em chớp chớp mắt ngạc nhiên rồi bỏ nó vào chiếc túi cán bộ thường đeo kéo phécmơtuya thật chặt. Một nửa nụ cười hiền nhàu nát theo em vượt qua lại một hành lang dài bếp dầu xô chậu và guốc dép vãi như kẹo...
Tôi định bụng đem theo nốt nhành xanh còn lại sớm hôm sau khi giả từ Hà Nộị Nhưng việc ra đi bận rộn khiến tôi quên đi mất. Căn phòng của tôi đã bán.

Share/Save/Bookmark

Thứ Ba, 7 tháng 7, 2009

Phạm Thị Hoài, thiên sứ

Nguồn : Sóng từ trường 1

Thụy Khuê

Sóng từ trường

Phạm Thị Hoài, thiên sứ



Tập nói, bé Hon chỉ biết một câu duy nhất, "thơm nào". Nó chìa đôi môi bé xíu, hồng hồng, thỏ thẻ "thơm nào". Nhưng mọi người còn nhiều việc cần hơn những cái hôn. Mẹ gắt lên: "Ra chỗ khác, thơm với tho gì, không kịp mở mắt ra đây này."
Bố cáu: "Thôi, thôi, đủ rồi, ướt nhèm cả mặt người ta."
Anh cả quát: "Cút!"
Bé Hon lẫm chẫm, lủi thủi bước đi, bé Hon đi ngủ, rồi bé Hon ngủ luôn một giấc thiên thu, không bao giờ dậy nữa. Nó đã vĩnh viễn ra đi, vì ở đây người ta không thích hôn, người ta không thiết hôn, người ta không thèm hôn.
Thiên Sứ là sự chết yểu của tình yêu trong bối cảnh xã hội vội vã chạy theo đồng tiền, với những ngụy trang của con người trong cử chỉ, trong ngôn ngữ, đến lợm giọng.

. Phạm Thị Hoài vừa tàn nhẫn vừa dịu dàng, vừa ngỗ ngược vừa dễ yêu, vừa táo bạo vừa kín đáo, sống sượng, cụt ngủn mà ngây thơ trong sạch như một Thiên Sứ lỡ sa xuống trần, rơi vào mảnh đất Việt Nam, lạc vào thế giới người lớn chỉ biết "uy tín và danh dự", những danh từ quá trừu tượng mà bé Hon không thể hiểu, không cần hiểu, chỉ cần hôn.


*



Ba mươi hay mười bốn, ba hay bẩy tuổi, bé Hon, bé Hoài, Phạm Thị Hoài hay Phạm Thị Hoài Nam chỉ là một, một kẻ cần yêu, đòi quyền được yêu, được thông cảm, đối chất với những kẻ không biết yêu, không có khả năng yêu.
Bé Hon là hương thơm, là trìu mến, đối chọi với sắt và thép.
Hoài chia loài người ra làm hai loại: Homo A và Homo Z. Homo A là những kẻ biết yêu và Homo Z là những kẻ không biết yêu. Chỉ đơn giản có thế.
Hoài là cơn sốt của tuổi vị thành niên thèm đập phá, khao khát tự do, chống lại xã hội hẹp hòi, tù túng, chống lại giả tạo, hủ lậu và đàn áp tư tưởng.
Bé Hon là mầm sống tự do bị giam trong cũi, trong lồng.

Hoài, vai chính trong Thiên Sứ, nhân vật không chịu lớn, hao hao giống chú lùn trong truyện Cái Trống (Le Tambour) (1959) của Günter Grass, một tác phẩm pha trộn thực tại với hoang tưởng trong bức tranh châm biếm độc địa xã hội Dantzig, dưới chế độ Hitler.
Sự từ chối không chịu lớn của Hoài tương tự như sự không muốn lớn của chú lùn, từ chối những giả trá của người lớn, bằng một thái độ lạnh lùng, bằng sự châm biếm cay độc, bằng cái nhìn hoài nghi, xoi mói vào những nhân vật xung quanh.
Hoài lột trần cuộc sống gia đình, lột trần bộ mặt cha, mẹ, anh, chị và chính mình để tìm ở họ một khía cạnh thực nào đó, ngoài những cử chỉ và ngôn ngữ mà họ đã sử dụng như một cái máy.

*



Thiên Sứ viết theo lối tiểu thuyết mới, từng đoạn cắt rời, đổi phông, như những khúc đứt của một bức tranh lập thể, khó hiểu, chắp nối những mẩu tư tưởng, những mảnh gương vỡ của cuộc đời, lộn xộn, chất chồng trong đầu. Bối cảnh rời rạc, không có trật tự nhất quán, tác giả không thuật chuyện mà trình bày những ý thức con người trước một thực trạng.
Phạm Thị Hoài là sự thức tỉnh của lương tâm trước những rạn vỡ của xã hội, của tâm linh con người mà chủ yếu là sự triệt tiêu thông cảm.

Paris tháng 8-1991
© 1991-1998 Thụy Khuê

Share/Save/Bookmark

Thiên Sứ ( Chương 3 : BÉ HON )

Nguồn : Việt Nam Thư Quán

Phạm Thị Hoài

Thiên Sứ

Chương 3

BÉ HON


Thực ra, tôi không phải đứa con út. Tôi buộc lòng thay thế bé Hon
Nó không có tuổi, khó lòng hình dung nó già hơn hay trẻ hơn. Nó đến, rồi đi, như một thiên sứ pha lê ghé trần gian nhân cuộc dạo chơi miên viễn.
Bé Hon ra đời, khi mẹ tôi tưởng không còn sinh nở được nữa. Một bữa, không hiểu sao cả dây quần áo nhà phơi bị bỏ quên qua đêm ngoài trời. Kì lạ, chỉ riêng bộ đồ lót của mẹ đẫm sương và loang lổ vết từa tựa như chàm. Mẹ ca cẩm, rồi tặc lưỡi: “Không mất là may! Thôi thì đồ lót, ai thấy mà sợ!” (Quan điểm phổ biến của con người với những gì khuất mắt. Khủng hoảng thế hệ, chị Hằng mắc bệnh sùng bái đồ lót, chị kén chọn chúng như thể kén chọn tri âm. Hỏi, không có năm 1975 trọng đại và cuộc xâm lấn ồn ĩ của thế giới tiêu dùng slip corset tinh xảo, TV cassette tinh xảo, cigarette whisky tinh xảo túa ra từ nửa nam đất nước, liệu những vùng cơ thể thầm kín của chị tôi có chịu cảnh cô đơn?}
Không lâu sau, mẹ mang thai. Bố mẹ phân vân, 4 anh chị em tôi đã quá đủ để chất gánh nặng lo toan lần hồi từng bữa, rồi tặc lưỡi: “Thôi thì trời sinh voi, trời sinh cỏ. Của trời cho, mất gì chẳng nhận!”
Con bé lọt lòng, không chịu cất tiếng khóc, mà mỉm cười làm thân với đủ 13 nữ hộ sinh đứng quanh bàn đẻ. Thế là cả 13, lúc đầu ngơ ngác, sau bật khóc như một đồng ca. Mẹ tôi, hoảng hốt cực độ, bắt giọng lĩnh xướng. Họ im bặt khi bố xuất hiện, và con bé lại mỉm cười với bố, khiến ông ngã phịch xuống 1 chiếc ghế. Đó không phải là nụ cười hài nhi. Bé Hon chưa bao giờ là 1 hài nhi. Nụ cười ấy tàng ẩn trong thời gian, chu du hành trình bất tận của nó, và đôi khi cũng hiện ra nguyên vẹn dưới mắt người trần.
Nó ăn ít, ngủ ít, chỉ cười. Nó không chịu hé mở bí mật về tuổi tác mình cho bất kì ai, ngay từ đầu. Nó không mang nét nào của người trong gia đình: tóc óng mượt, mắt lóng lanh như mắt thiếu nữ, cặp má lúc nào cũng 3 tuổi, cái miệng lúc nào cũng mỉm cười thân thiện và bí ẩn với muôn vật, nước da trong suốt, trắng xanh, sứ giả pha lê dịu dàng mỏng mảnh. Mẹ bảo, trần đời, chưa có đứa trẻ nào dễ nuôi vậy.
Nó nằm trong chiếc nôi bé xíu, lặng lẽ ngủ, cứ tỉnh dậy là ban phát hào phóng nụ cười mê hồn cho muôn vật. Nụ cười bảo chúng tôi đi lại nhón gót, nói năng khẽ khàng và nhìn nhau nương nhẹ. Đó là những ngày thần tiên. Mọi sinh hoạt gia đình, bữa cơm thanh đạm thường lệ, buổi tối xum vầy, giấc ngủ êm... bỗng thành những nghi lễ giản dị và trang trọng. Kẻ khóc thuê trên mái thôi nỉ non bài ca mặn đắng. Những chiếc chân ghế long không còn kêu ken két ai oán nữa. Như có chiếc đũa thần bắt nhịp điệu sống êm ả lạ thường. Những con người tưởng đã gán thanh quản bẩm sinh là gầm ghè cáu bẳn, tưởng đã thả nổi gương mặt nhân chi sơ của mình cho những nếp hằn lo âu khắc nghiệt, bỗng hóa thân trở lại thuở ban đầu. Thế giới vụt sáng trong và hiền lành, mang bộ mặt hài đồng ngủ trong nôi. Hạnh phúc giản dị và bất ngờ quá, khiến tôi ngộp thở.
Kẻ ngỗ ngược nhất nhà, anh cả tôi, bỗng thành mềm yếu. Sáng sáng, anh dậy trước, rón rén tới cạnh bên chiếc giường nôi, có khi cả tiếng đồng hồ, chờ nhận nụ cười đầu tiên bé Hon tặng cho ngày sắp đến, rôøi nhẹ nhàng mở cửa, xách nước giặt quần áo cả nhà, sau đó mới đánh thức mọi người. Thời kỳ đó, anh vừa đào ngũ, đạp xích lô chui lủi ở Hà Nội và không nuôi nhiều hy vọng ở cuộc đời. Mẹ ngạc nhiên: “Thằng Hạc giở chứng đấy à?” Bố: “Ôi dào, được dăm bữa nửa tháng !” Anh tôi cười hiền lành, một homo-A đích thực.
Nhưng những dấu hiệu báo động đầu tiên đã xuất hiện. Đôi khi bố đi làm về, mệt mỏi bởi những nỗi phiền muộn bất tận lúc nhân sự, lúc tiền lương ở cơ quan, ngồi phịch xuống giường, vơ lấy chiếc điếu cày, và vừa đưa điếu lên ngang chừng, bỗng dập đóm, quăng điếu, rủa: “Cười cái gì mà cười! Có cái gì mà cười! Ai cười với mày!” Cỗ máy tâm lý của con người quả là bí ẩn, nó chỉ cần vừa đủ dầu mỡ dể tránh rệu rạo, quá tay 1 chút nó tuột xích, và mọi chuyện đều hỏng. Cỗ máy của bố đơn điệu, hình như càng đơn điệu càng khó lường. Bé Hon làm sao lường nổi. Nó không thể phanh nụ cười pha lê ấy, như loài ve sầu không thể phanh giọng hát – chức năng tồn tại của mình. Cuộc đụng độ giữa những cỗ máy và thiên sứ pha lê. Những cái nhón gót, khẽ khàng, gượng nhẹ quả là thứ xa xỉ phẩm gia đình tôi không kham nổi.
Huống hồ những cái hôn.
Tập nói, bé Hon chỉ biết 1 câu duy nhất: “Thơm nào!” Nó đã thôi nằm trong chiếc giường nôi. Nó lẫm chẫm khắp nhà, vòng cành tay mảnh mai như 2 bông lau ôm cổ bất kỳ người nào, chìa đôi môi bé xíu hồng hồng, thỏ thẻ: “Thơm nào!” và hào phóng ban phát những cái hôn trẻ thơ thơm ngậy mùi sữa. Gia đình tôi quay cuồng trong dòng thác hôn bất tận của nó. Mặt chúng tôi lúc nào cũng ướt đẫm mùi sữa. Nó không cần biết ai đang làm gì, đang ghĩ gì, đang bận bịu với bất kể chuyện gì, nhu cầu “thơm nào” của nó buộc thế giới phải dừng tay đáp, dẫu chiến tranh đang rơi xuống đầu cũng vậy.
Nhưng loài người còn nhiều việc cần kíp hơn những cái hôn. Thỉnh thoảng, mẹ gắt lên: “Ra chỗ khác, thơm với tho gì, không kịp mở mắt đây này!: Bố: “Thôi, thôi, đủ rồi, ướt nhoèn cả mặt người ta!” Con bé không vội nản, lại lẫm chẫm vòng quanh nhà, tìm kiếm những cặp môi sẵn sàng đón nhận nguồn yêu không bao giờ cạn của nó. Nhiều lúc, chẳng còn ai, nó ngọt ngào rủ “Thơm nào” với con mèo khoang, và con mèo không bao giờ từ chối.
Tôi cũng không bao giờ từ chối. Tôi sẵn lòng ôm cả phần yêu chưa kịp phân phát của bé Hon. Nhưng con bé, như tất cả những kẻ hào phóng, ý thức sâu sắc về lẽ công bằng, và kiên tâm vòng quanh thế giới 400 ô vuông nâu, đến với những ai chưa nhận đủ môi hôn ở đời.
Giá tất cả những ai chưa nhận đủ môi hôn ở đời đều kêu to tín hiệu SOS.
Hôm anh cả tôi nhận giấy triệu nhập ngũ trở lại, bé Hon cũng sà đến, đòi “thơm nào.” Lúc đầu, anh không để ý, mắt cứ nhìn như chọc thủng trần nhà, móng tay đánh lách cách, sau, anh gạt phắt nó sang bên, lầu bầu: “Cút!” Thì chính anh đã từng thức canh bên chiếc giường nôi, chờ nhận nụ cười mê hồn đầu tiên trong ngày của bé. Lại 1 cỗ máy rò rỉ. Không phải do tuột xích?
Hôm sau, bé Hon không dậy nữa. Cả nhà bận bịu với buổi liên hoan tiễn đưa anh tôi lên đường, chẳng ai để mắt đến nó. Tôi ôm con mèo khoang ngé xuống chiếc giường nôi bé xíu, thấy bé Hon khép mắt, miệng vẫn mỉm cười làm thân với muôn vật. Sau này, mẹ bảo: “Tôi ngó vào, tưởng nó ngủ. Ngủ mà vẫn cười cơ chứ!”
Nhưng bé Hon không bao giờ dậy nữa, sứ giả pha lê yếu ớt, lạc vào thế giới này ban phát nụ cười và môi hôn. Nó không cần ai vuốt mắt, tự nó, đủ cho nó, cho cả muôn vật xung quanh. Nó đi, mang theo bí mật về sự có mặt lạ lùng của nó ở gia đình tôi. Bố kết luận: “Thôi thì của thiên trả địa.”
Đó là 1 ngày mùa đông giá buốt. Tới phút chót, cập môi đòi vô tận những cái hôn của bé vẫn chói rực như 2 mảnh than hồng rơi lạc giữ trần gian u xám lạnh lùng. Tôi trốn dưới gầm giường, con mèo khoang cũng thế, khi người ta đưa bé Hon đi. Tôi không khóc, nhân danh nụ cười và những cái hôn thơm ngậy mùi sữa. Không phải mất mát, mà là lời cảnh tỉnh. Sứ giả của tình yêu đã đến, đã kiên nhẫn và đã bỏ đi, con chim trốn tuyết. Chỉ còn biết hy vọng 1 ngày mùa ấm đón chim về.
Mẹ cấm khẩu mất 1 tuần. Khi giọng trở lại, mẹ chỉ còn nhớ những lời nguyền rủa. Mấy ngày sau, con mèo khoang từng ở nhà tôi 8 năm trời cũng bỏ đi, nó vốn là mèo hoang lạc tới. Anh Hạc đóng gần biên giới phía bắc 3 năm, xuất ngũ kịp ngày bốc mộ bé Hon. Lúc mở ra, quan tài trống không, thơm tho sạch sẽ, đọng duy nhất nụ cười làm thân với muôn vật của thiên sứ pha lê bị trục xuất. Người ta hỏa thiêu chiếc áo gỗ tinh khiết ấy, hỏa thiêu luôn nụ cười của bé, người ta hoàn thành bổn phận của kẻ ở lại.
Tôi buộc lòng thành đứa con út. Trời không sinh ra tôi, đất cũng chẳng nhận tôi về. Chỉ có bé Hon hưởng hành trình ấy. Hành trình khép kín.


Xem toàn bộ truyện tại đây

Share/Save/Bookmark
Related Posts with Thumbnails