Hiển thị các bài đăng có nhãn Phụ nữ Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phụ nữ Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 26 tháng 8, 2009

Phụ Nữ Việt Và Chiến Tranh

Nguồn : Hợp Lưu
TRẦN MỘNG TÚ Thứ Bảy, Ngày 1 tháng 8-2009

Ngày mồng 8 tháng 3 mỗi năm là ngày Phụ Nữ Quốc Tế. Trong ngày này người phụ nữ các nơi trên thế giới của mọi lãnh vực được ca tụng, vinh danh và cám ơn bằng những phương tiện khác nhau. Việt Nam đang trên đà tiến triển văn minh hội nhập, người phụ nữ trong một vài môi trường nào đó cũng đang được đề cao, tưởng thưởng. Nhưng đồng thời trong một góc khuất vắng mà rất gần với đời thường, một số phụ nữ Việt vẫn úp mặt vào hai bàn tay che khuất những tủi nhục của riêng mình.

"Trời ơi, đi chiến tranh đã làm tôi già nua đến thế nào!" Đó là tiếng than của một trong 500 phụ nữ ở Ninh Bình, những người đã tham gia ở trong cuộc chiến được gọi là "Chống Mỹ Cứu Nước."

"Tôi trở về sau chiến tranh, tôi tìm cho mình được một người yêu. Anh ấy muốn lấy tôi, nhưng cha mẹ anh ấy ngăn cản vì tôi là một phụ nữ bệnh hoạn yếu đuối, tôi sốt rét và suy dinh dưỡng, tôi cũng khuyên anh ấy chẳng nên lấy tôi, vì tôi nghĩ mình không có khả năng sinh đẻ nữa." (1)

Chiến tranh thực sự đã hủy diệt hết tuổi xuân của những nữ cán bộ miền Bắc (những người tải đạn, làm đường, tháo gỡ, phá mìn trong thời chiến) khi họ trở về từ mặt trận.

Khi chiến tranh kết thúc vào năm 1975, họ chỉ còn là những thiếu phụ già nua, xác xơ bệnh tật ở tuổi 28-30. Họ tìm đâu ra một tình yêu, một người chồng?

Một số phụ nữ khác sau ba mươi năm đã quá 50 tuổi, thiếu thốn và mang trên người hai căn bệnh không bao giờ chữa hết: Sốt rét và suy dinh dưỡng. Họ sống cô đơn trong những ngôi làng nhỏ bé ở Quảng Bình, cả làng chỉ có người già, phụ nữ và trẻ nhỏ, không hề một bóng đàn ông, với cái tên làng đọc lên tất cả nỗi ngậm ngùi: "Làng Không Chồng" ( 2)

Năm 1975 những người chồng miền Nam bị lùa vào những trại tù dưới danh nghĩa "Cải Tạo." Họ là những người đã từng dùng cả một đời tuổi trẻ của mình để bảo vệ lãnh thổ niềm Nam Việt nam. Bây giờ dù họ còn ở lại Việt Nam hay đã ra nước ngoài sống thì những trang sử họ đã đóng góp vẫn không thể nào phía Bắc có thể xóa trắng được. Những người vợ của họ, có người chồng chết không được chôn, có người vì chính sự sống còn của chồng con, phải phụ chồng lấy cán bộ Bắc Việt, có người may hơn ôm con thủ tiết, có người ôm con lao vào biển. (Chồng đi tù về mới hay vợ con đang nhặt tự do dưới biển sâu.)

Người phụ nữ Việt ra khỏi nước, sống thong thả hơn về phương diện vật chất nhưng có rất nhiều người đã là nạn nhân đau khổ (hơn những người khác) trong cuộc chiến này. Họ bị bầm dập tâm hồn, thể xác. Cái hậu quả của những cuộc hải trình bi thảm đi tìm tự do luôn luôn là những tiếng kêu leng keng không nghỉ trong đầu họ như những chiếc phong linh treo trong đầu gió.

"Đã mấy chục năm, tôi không thể nào quên được chồng, em trai, em chồng tôi bị giết quăng xác xuống biển Đông. Tôi không thể nào quên được em gái tôi, em gái chồng tôi, tôi và mẹ chồng tôi đều bị hải tặc hiếp ngay trên sàn tầu. Chúng tôi sống sót, và chúng tôi tiếp tục sống. Con cháu chúng tôi trưởng thành và lập gia đình ở đây. Nhưng chúng tôi vẫn có mối tủi nhục trong hồn." (Nạn nhân hải tặc Thái Lan, 1979-1980.)

Hơn ba mươi năm sau, những người đàn bà này có thể đã sống trong những viện dưỡng lão ở Mỹ, ở Pháp hay ở bất cứ nơi nào không phải quê hương họ. Họ ngồi đó nhớ lại những bất hạnh đã trải qua, chấp nhận và im lặng. Họ đợi chờ từ giã cuộc đời và niềm đau sẽ được chôn theo đất, hay đốt thành tro, nhưng nhất định không bao giờ kể lại cho con, cháu. Họ sống can đảm và chết trong tự trọng. Giọt lệ nào nhỏ xuống cho những niềm đau cao cả của những phụ nữ này.

Những người phụ nữ Việt trong nước thì ngoài sự héo úa, thất vọng tinh thần, đời sống hàng ngày thiếu thốn làm cho họ thành những người đàn bà cay đắng.

Chúng tôi là những cô gái Trường Sơn

Tóc đã bạc và hồn đầy kỷ niệm

(Trần Thị Bình)

Có người đã vào chùa gửi đời mình dưới chân Phật. Năm 1980 thể chế nhà nước đổi mới chấp nhận cho những Người Mẹ Không Chồng, hai mẹ con cũng được coi như một gia đình, được cấp cho miếng ruộng để cấy cầy kiếm gạo ăn. Đã có hàng ngàn phụ nữ được hưởng thể chế này. Họ là những cựu chiến sĩ Trường Sơn, đã tham gia vào chiến dịch "Người chồng một đêm" trong thời chiến. Phải chăng trước cái tương lai thăm thẳm của ngày về không còn tuổi trẻ để hy vọng làm vợ, làm mẹ, trước cái thiếu thốn của âu yếm, mặn nồng trao xương gửi thịt hay chỉ thuần nhất muốn có đứa con để không phải cô đơn trong tuổi già? Họ đã làm "Người vợ một đêm" giữa những chặng đường máu lửa. Có lẽ cả hai.

Cơ Quan Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc - UNICEF (3) cho biết, ở Việt Nam đổ đồng, mỗi ngày có 7 phụ nữ mang thai, hay vừa sanh con thiệt mạng. Có 82 trẻ sơ sinh chết non. Chưa kể đến những trường hợp nạo hút hay phá thai. Hậu quả của chương trình Kế Hoạch Hóa Gia Đình, để thi hành chính sách cấm sinh đứa con thứ ba của nhà nước. Những người phụ nữ vẫn là những nạn nhân cho những vụ phá thai ở một bệnh viện miễn phí hay rẻ tiền.

Ở một số phụ nữ Việt khác trong nước, sinh ra và lớn lên sau 1975, cho đến lúc này, sau hơn ba mươi năm đất nước thanh bình vẫn tìm cách chạy ra khỏi nước bằng cái sức mạnh duy nhất mình có, cái sức mạnh dán nhãn hiệu "Đàn Bà". Họ tự nguyện đi tìm những cuộc hôn nhân ngàn dặm. Huyền Trân ngày trước đem về được hai châu Ô, Lý (Hai châu Ô, Lý vuông ngàn dặm/ Một gái Huyền Trân đẹp mấy mươi.) Huyền Trân ngày nay đem về cho gia đình được mấy ngàn Mỹ kim; mà hầu hết bị lừa, thay vì làm vợ của một người chồng, họ làm nô lệ tình dục cho tất cả những người đàn ông trong gia đình đó, một số khác bị mua đi, bán lại nhiều lần.

Con số phụ nữ lấy chồng Đài Loan lên đến 60 ngàn người (4). Những dịch vụ môi giới hôn nhân đem đến một mớ (như mớ rau, mớ cá) phụ nữ Việt cho người đàn ông Đài Loan lựa mua. Ở làng quê phía nam Đài Loan những quảng cáo dán trên cột điện: "Cô dâu Việt Nam còn trinh. Nếu cô bỏ trốn được đền cô khác." (5)

Nhân phẩm của người phụ nữ bị hạ ngang hàng với hàng hóa và thú vật.

Hơn ba mươi năm sau, ở Việt Nam, những nạn nhân của thuốc khai quang Agent Orange vẫn còn kiện chính phủ Hoa Kỳ, đòi bồi thường cho những hình hài bị tàn phá và những hậu quả bởi chất độc của bột da cam gây ra: Những bà mẹ trẻ dị hình sinh ra những đứa con dị dạng, tâm thần.(6)

Ôi những người đàn bà trong chiến tranh! Những người đàn bà sinh ra và lớn lên ở Việt Nam. Đã bao nhiêu thế hệ qua đi, từ người bà, người mẹ, người dì, rồi đến chính mình, họ đã sống từng ngày vật vã với chiến tranh của cả hai phía. Tiếng khóc nhiều hơn nụ cười, chịu đựng nhiều hơn hưởng thụ. Hơn ba mươi năm rồi, người Việt của cả hai phía vẫn hô những khẩu hiệu đả đảo lẫn nhau, không ai nghĩ đến những người đàn bà này một cách cụ thể. Những người Việt hải ngoại theo chân nhau về nước chỉ chú tâm trợ giúp giáo dục, y tế cho thanh thiếu nữ. Không ai nghĩ đến việc băng bó vết thương tâm hồn của những phụ nữ lỡ thời này. Họ quá bận bịu lo cho tương lai của thế hệ trẻ mà quên bẵng mất những phụ nữ bất hạnh đang đi về phía mặt trời lặn. Ở miền Bắc hay ở miền Trung, những phụ nữ này cũng sống trong những thôn xóm nghèo nhất, xa thành phố. Hình bóng họ ngồi trước những ngôi nhà lụp xụp nhìn bâng quơ về một chốn vô định trong hoàng hôn là những bức vẽ tĩnh vật buồn, không ai muốn mua về trưng bầy trong những ngôi nhà mới.

Có phải ba mươi năm sau, hình như một điều mà chúng ta cần nhớ đến nhất thì chúng ta lại quên trước tiên: "Những người phụ nữ Việt đáng thương và đáng kính trọng của cả hai miền."

Trần Mộng Tú

Tháng Tư 2007

-----------------------

Ghi chú:

(1) LA Times/David Lamb phỏng vấn phụ nữ Việt trở về sau chiến tranh.

(2) Theo báo Thanh Niên

(3) UNICEF phổ biến ngày 7-4-05

(4) Zone-Thế Giới

(5) Zone-Thế Giới

(6) 79 triệu lít Agent Orange đã thả xuống trong thời gian 1961-1971 vào những khu rừng tình nghi là có Cộng Sản ẩn núp.


Share/Save/Bookmark

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2009

Suy nghĩ về hình tượng mới của phụ nữ Việt Nam*

Nguồn : Tiếng Nói Dân Chủ hoặc blog Tạp Chí Phía Trước
« Hỡi cô gái Việt Nam tôi kính cẩn
Cúi chào cô, người vợ thảo, mẹ hiền,
Cô là hiện thân của lòng kiên nhẫn,
Của dịu dàng, tình âu yếm vô biên » **

Nhắc đến người phụ nữ Việt Nam là nhắc đến sự nhẫn nhịn, hi sinh, lòng bao dung vô biên nhưng cũng là sức tranh đấu mạnh mẽ của người phụ nữ trong bất kì giai đoạn lịch sử nào của nước nhà. Vẫn còn đó dấu ấn của bà Trưng bà Triệu, của công chúa Yên Thành- con gái vua Lý Thánh Tông, của nữ tướng Bùi Thị Xuân, của những người mẹ chôn dấu nỗi đau mất chồng mất con để tiếp tục lặng lẽ hi sinh cho hòa bình độc lập, của những cô gái chưa kịp hưởng tuổi xuân đã quên mình đi giao liên, du kích : « giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh ».

Lê Thị Công Nhân

Cũng như trong quá khứ, người phụ nữ Việt Nam hiện nay xuất hiện một cách tiêu biểu trên phương diện cá nhân và phương diện tập thể, hành động của họ tác động không nhỏ đến thế giới quan của những người xung quanh, trong đó có Nguyễn Hương Giang - một du học sinh ở Pháp. Tác giả đề cao những đóng góp tích cực của phụ nữ Việt Nam ở hải ngoại trong việc xây dựng hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế, nhưng trong phạm vi bài viết tác giả chỉ xin đề cập đến những người ở trong nước.

Biểu tượng mới, rất trẻ

Biểu tượng ấy gắn liền với phong trào dân chủ. Có nhiều gương mặt nữ giới trong phong trào này, điển hình là chị Lê Thị Công Nhân[1]. Những người còn rất trẻ, không xuất phát từ những người cộng sản trước đây nắm quyền và đến lúc nghỉ hưu mới lên tiếng.

Trong một xã hội dùng nỗi sợ chính trị của nhân dân làm bình phong bảo vệ quyền lực cho lãnh đạo, những đòi hỏi nhân quyền, dân chủ được xem là nguy hiểm cho những người đang nắm quyền, nên không được phổ biến rộng rãi, tuy chúng đã du nhập vào Việt Nam khá lâu. Tôi đã biết đến những tư tưởng ấy trước khi công chúng- và tôi- biết đến các chị. Nhưng có lẽ cũng như phần lớn người dân Việt, nỗi sợ trở thành ám ảnh trong tôi, tôi không nghĩ, càng không bàn đến những tư tưởng ấy. Tôi đã nghĩ chỉ lo học cho xong rồi về Việt Nam kiếm chỗ làm thật tốt, « thế sự » đã có Đảng lo, một phần quan trọng của trách nhiệm công dân bị tôi rũ bỏ lúc đó. Sự xuất hiện của các chị đã làm tôi phải suy nghĩ lại : các chị cũng là phái nữ như tôi, cũng có ước mơ bình dị như tôi - mong bình an cho họ hàng và về gia đình nhỏ của mình trong tương lai, có một công việc « kiếm ra tiền » và vui vẻ với bạn bè ; vậy trong xã hội Việt Nam như thế, các chị không sợ khi nghĩ đến những gì các chị làm sẽ chọc giận những người lãnh đạo ? Không sợ sự chọc giận ấy sẽ làm tiêu tan những mong ước bình dị kia ? Tôi nghĩ là có. Đã là con người, những khao khát riêng tư ấy là bình thường, bình thường như sự giằng xé giữa niềm riêng và trách nhiệm cho việc chung của Đất nước. Nhưng các chị đã không để nỗi sợ ấy đánh mất chính mình, lý tưởng của mình.

Tạ Phong Tần
Công Lý và Sự Thật

Tôi nhận thấy trong giới blogger, khi chị Công Nhân bị bắt và ra tòa, hình ảnh của chị được không ít các bạn trong cộng đồng lấy ra làm biểu tượng của blog (và sau này, cũng như vậy, hình ảnh của anh Điếu Cày), một bài hát có tên chị cũng đã được chuyền nhau nghe. Cộng đồng này cũng bị ảnh hưởng (và hưởng ứng) những bài bình luận của chị Tạ Phong Tần/blogger Công Lý và Sự Thật [2] về pháp luật, về sự lạm quyền của nhà lãnh đạo, về sự quấy nhiễu cuộc sống của chính chị bởi chính quyền. Và người ta còn nhắc đến, cảm thông, bênh vực đạo diễn Song Chi khi bị chính quyền hạch sách và tìm cách lấy đi kế sinh nhai vì chị đã tham gia biểu tình trong sự kiện Hoàng Sa-Trường Sa. Lớp trẻ hơn, thế hệ 8X cũng không kém phần : những bài viết của Nguyễn Trang Nhung hay Nguyễn Hoàng Lan trên BBC về tự do ngôn luận, về quan hệ giữa dân và đảng, về chính trị [3] được nhiều người bình luận. Tất nhiên chỉ trích không phải không có nhưng tôi nhận thấy có những đồng tình của các bạn trẻ ở khắp nơi, thậm chí của các bác lớn tuổi. Có bác tâm sự với tôi : đọc những gì các chị ấy viết, nhìn những gì các chị ấy làm thấy lại bừng lên một thời nhiệt huyết của tuổi trẻ và tin vào tương lai. Có bác lại thổ lộ với tôi rằng những hình ảnh của các chị đánh thức phần trách nhiệm công dân lâu nay « bị » ngủ quên trong bác.

Những gương mặt tiêu biểu như thế chưa nhiều nhưng sức thay đổi thế giới quan không phải là nhỏ.

Ý thức đoàn kết tập thể

Trong mấy năm qua, có không ít người bà, người mẹ, người vợ trẻ xuất hiện bên nhau trong những vụ kiện về đất đai, mạnh mẽ lên tiếng đòi quyền lợi của mình, đòi công lý phải được thực hiện. Nói cách khác, họ đứng bên nhau tạo thành hình tượng tập thể, cùng một hoàn cảnh và cùng một mục đích.

Người Việt Nam, nhất là phụ nữ Việt Nam trong thời bình trước đây không như thế, dù phẫn uất đến đâu cũng im lặng chịu đựng, với tâm niệm « một điều nhịn, chín điều lành », « thấp cổ bé họng ». Những người bạn Pháp, khi bàn về xung đột bạo lực ở ngoại ô Paris cuối năm 2005 và cuối năm 2007 [4], nhận xét với tôi người Việt Nam và Trung Quốc sống rất im lặng, không náo động như người Châu Phi, ít thấy người Việt Nam lên tiếng, bất bình vì điều gì. Vậy do đâu lại có sự tham gia đông đảo của các bà, các mẹ trong vụ kiếu kiện về đất đai từ hai năm nay ?

Nguyễn Trang Nhung

Nguyễn Hoàng Lan

Có thể giả thiết rằng hình ảnh đó sẽ dừng lại, vì họ tức quá thì vùng lên, chỉ cần được đáp ứng chút ít là họ sẽ được xoa dịu thôi. Nhưng tôi nghĩ rằng có một điều hoàn toàn có thể xảy ra là tập thể ấy đã bắt đầu ý thức được quyền lợi thực sự của mình - quyền lợi của một người công dân, xa hơn nữa là của một con người và quan trọng hơn họ đã vượt qua nỗi sợ cá nhân khi đứng với nhau trong tập thể. Với hệ thống internet hiện nay, với thế bắt buộc của nhà nước phải mở cửa với thế giới, sự xuất hiện ý thức tập thể ấy là hoàn toàn có thể. Nếu nhà nước vẫn giữ thái độ thiếu cởi mở, đàn áp, dùng vũ lực trong tay mình thay vì thượng tôn pháp luật để giải quyết các vấn đề trong xã hội thì tập thể ấy sẽ còn lan rộng hơn nữa. Vụ việc ở giáo xứ Thái Hà và ở Tòa Khâm sứ là ví dụ điển hình.

Một phần nữ giới Việt Nam đang lên tiếng mạnh mẽ đòi quyền và lợi ích của mình phải được tôn trọng, đòi công lý phải được thực hiện cho mình, cho những người cùng cảnh ngộ như mình, thậm chí cho cả nhân dân, đòi một nhà nước đúng nghĩa « của dân, do dân và vì dân », một nhà nước pháp quyền. Khác với hình ảnh của những phụ nữ Việt Nam trước đây tranh đấu khi vận nước có binh biến, chống lại giặc ngoại xâm hoặc tránh cho Đất nước rơi vào chiến tranh, bị lấn chiếm, những người phụ nữ thế kỉ XXI, từ cái riêng đang ngủ im, đã bắt đầu hướng ra người bên cạnh, ra việc chung và hướng tiếng nói của mình đến nhà nước điều hành trong thời bình, và những gì họ nhắc đến là thuộc về quyền của con người, và công lý, luật pháp - những điều mà lãnh đạo không thích nghe.

Người ta cứ nghĩ là những người như thế thì ít lắm, yếu thế. Tôi thì rất tâm đắc với câu nói của một nữ nhà báo người Pháp : Người đời hay cho rằng thiểu số sẽ không làm gì được. Nhưng sự thật thì chính thiểu số làm nên sự thay đổi.

Nguyễn Hương Giang

* Suy nghĩ của tác giả không nhất thiết phản ánh quan điểm của Phía Trước.
** Tác giả : Đoàn Văn Cừ

© Tạp Chí Phía Trước.

[1] Trong số tám người Việt được trao giải nhân quyền năm 2008, chị là nữ giới duy nhất. http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/07/080723_hellman_prize.shtml

[2] Chị là một thành viên của Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do

[3] Vài bài viết của Nguyễn Trang Nhung trên BBC : Người dân phải được tự do thông tin, Việt Nam cần các tư tưởng khai sáng, Cần có tự do báo chí

Vài bài viết của Nguyễn Hoàng Lan trên BBC : Sôi sục ý dân mùa bầu cử, Chính trị đối với giới trẻ, Nền tảng của quyền lực : Ý dân hay ý Đảng ?, Thân phận của báo chí Việt Nam

[4] Xung đột bằng bạo lực diễn ra bắt đầu ở ngoại ô Paris ở những nơi tập trung dân nghèo, dân thất nghiệp (không ít là dân nhập cư) rồi lan rộng ra khắp nhiều vùng khác.

NHG


Share/Save/Bookmark
Related Posts with Thumbnails