Hiển thị các bài đăng có nhãn Lữ Giang. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lữ Giang. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 24 tháng 2, 2010

Phía trước một con đường (Lữ Giang)

Nguồn : e-ThongLuan

Phía trước một con đường
Lữ Giang

“…nếu chúng ta nâng cao cuộc sống và trình độ kiến thức của họ lên, họ sẽ từ từ ý thức được những quyền của con người và của người dân, và đòi hỏi phải tôn trọng những quyền đó, đồng thời họ cũng sẽ tự tìm ra một lối thoát cho cuộc sống của chính họ…”

Hôm 5.2.2010 chúng tôi đọc thấy trên trang nhà hayyeuthuongnhau.org của Linh mục Nguyễn Bá Thông bài “Phía trước một con đường” của tác giả là Tư Cua An Thới Đông, nói về cuộc sống của người dân nghèo An Thới Đông. Bỗng dưng chúng tôi nhớ đến những phản ứng của một số người Việt chống cộng ở Mỹ về những lời tuyên bố của Dân Biểu Cao Quang Ánh liên quan đến việc cải thiện tình hình ở Việt Nam, chúng tôi nhớ đến “Những Mục Tiêu Thiên Niên Kỷ” (Millennium Development Goals) của Liên Hiệp Quốc đề ra vào năm 2000... Tuy nhiên, trước khi đi vào vấn đề, chúng ta hãy nghe anh Tư Cua kể về cuộc sống của người dân An Thới Đông ở thành phố Sài Gòn hiện nay.

An Thới Đông ở trong huyện Cần Giờ thuộc thành phố Sài Gòn và nằm ở phía đông nam của Sài Gòn, cách trung tâm khoảng 50 cây số. Thời VNCH, địa bàn quận Cần Giờ gồm hai quận Cần Giờ và Quảng Xuyên, thuộc tỉnh Phước Tuy. Quận Quảng Xuyên được thành lập ngày 29.1.1959, gồm các xã Bình Khánh, An Thới Đông, Tam Thôn Hiệp và Lý Nhơn. Ngày 9.9.1960, chính quyền VNCH chuyển hai quận này sang tỉnh Biên Hòa.

Sau khi chiếm miền Nam, chính quyền cộng sản đặt huyện Cần Giờ thuộc tỉnh Gia Định sau đó đưa qua tỉnh Đồng Nai và đổi thành huyện Duyên Hải. Ngày 28.2.1978 huyện Duyên Hải được sáp nhập vào thành phố Sài Gòn và ngày 18.12.1991 đổi tên thành huyện Cần Giờ. Huyện Cần Giờ hiện nay có diện tích 714 cây số vuông với dân số là 68.213 người, bao gồm thị trấn Cần Thạnh và 6 xã: Bình Khánh, An Thới Đông, Lý Nhơn, Tam Thôn Hiệp, Long Hòa và Thạnh An. Đây là huyện có tổng sản lượng (GDP) thấp nhất của thành phố.

Tính từ thời Pháp thuộc, qua thời VNCH “tự do dân chủ” đến thời Xã Hội Chủ Nghĩa “độc lập tự do hạnh phúc”, cuộc sống của người dân An Thới Đông vẫn vậy, gần như chẳng có gì thay đổi. Họ chẳng hề nghĩ đến tự do, dân chủ hay nhân quyền, và cũng chẳng bao giờ đòi “giải phóng quê hương”, họ chỉ lo miếng ăn. Chúng ta hãy nghe anh Tư Cua kể chuyện:


Share/Save/Bookmark

Chủ Nhật, 24 tháng 1, 2010

Một đất nước khốn cùng! (Lữ Giang)

Nguồn : e-ThongLuan

Photobucket - Video and Image Hosting

Một đất nước khốn cùng!
Lữ Giang

“… cũng như bao lần trước đây tại nước này, vào đúng lúc tình hình có vẻ đang tiến triển tốt hơn thì một thảm hoạ mới lại giáng xuống …”

Nhân vụ động đất xẩy ra ở Haiti hôm 12.1.2010 gây ra thảm hoạ lớn cho đất nước này, bình luận gia Nick Caistor có viết một bài dưới nhan đề “Haiti's history of misery” (Lịch sử khốn khổ của Haiti) được đài BBC phổ biến hôm 14.1.2010.

Nick Castor là một nhà nghiên cứu về lịch sử và những vấn đề của Mỹ Châu Latin, do đó ông có nhiều nhận định khá sâu sắc về Haiti. Mở đầu bài nói trên, ông viết:

“Haiti có vẻ là nơi phải hứng chịu quá nhiều hậu quả của các đợt hỗn loạn, nghèo khổ và thiên tai. Và cũng như bao lần trước đây tại nước này, vào đúng lúc tình hình có vẻ đang tiến triển tốt hơn thì một thảm hoạ mới lại giáng xuống”.

Trước khi trở lại những nhận định của Nick Castor, chúng ta thử nhìn qua đât nước và con nguời của Haiti.

Sống bằng bánh đất

Trong bài “Rising food costs force haiti’s poor to resort to eating dirt” (Gia tăng giá thực phẩm bắt buộc người nghèo ở Haiti phải ăn đất) phổ biến ngày 29.1.2008, ký giả Jonathan M. Katz của hãng thông tấn AP cho biết trong giờ ăn trưa ở một trong những khu ổ chuột tồi tàn nhất Haiti, Charlene Dumas đang ngồi gặm những mẩu bánh đất. Với giá thực phẩm gia tăng, những người nghèo nhất ở Haiti không đủ tiền mua gạo ăn hằng ngày, một số phải dùng những biện pháp khác để lấp đầy dạ dày của họ.

Một nơi làm bábh đất


Bà mẹ 16 tuổi Charlene cùng với đứa con trai mới 1 tháng tuổi đã phải sử dụng biện pháp chữa đói của cha ông để lại: ăn bánh làm từ đất sét khô lấy từ vùng cao nguyên miền trung của Haiti. Đó là thứ đất sét (mud) từ lâu được phụ nữ có thai và trẻ em coi trọng bởi theo họ chúng chống axít và có nhiều calcium!

Nhưng ở những nơi như Cité Soleil chẳng hạn, một khu ổ chuột bên bờ biển mà Charlene đang sống cùng đứa con nhỏ của mình, 5 đứa trẻ khác, và hai cha mẹ đều thất nghiệp, bánh được làm bằng đất bình thường (dirt), muối, và dầu thực vật đã trở thành bữa ăn hàng ngày của họ.

Charlene nói: “Khi mẹ tôi không nấu gì cả, tôi phải ăn chúng ba bữa một ngày”. Woodson, con trai của cô, nằm im trên tay cô, trông thậm chí còn nhỏ hơn cả lúc cậu bé mới ra chào đời.

Mặc dù thích vị béo cũng như vị mặn của chiếc bánh đất, nhưng Charlene cho biết những chiếc bánh đó làm cô thấy đau dạ dày. Cô nói: “Khi tôi cho con bú, thằng bé dường như thỉnh thoảng cũng bị đau bụng vậy”.

Những người đi buôn chở đất từ thị trấn Hinche ở miền trung đến chợ La Saline, để chúng giữa những bàn rau, thịt ruồi nhặng bâu đầy. Những người phụ nữ mua đất về sau đó nhào nặn chúng thành bánh đất ở những nơi như Fort Dimanche, một khu ổ chuột gần đó.

Mang những rổ đất và nước leo từng bậc thang lên mái của một nhà tù cũ, họ nhặt nhạnh đá, sỏi trong đất trên một tấm khăn, rồi sau đó quấy chúng trong mỡ và muối. Rồi họ nhào nặn hợp chất đó thành bánh đất, phơi khô chúng dưới ánh nắng mặt trời. Khi bánh đã "chín", chúng được cho vào rổ mang ra chợ hoặc ra ngoài đường phố bán.

Khi một phóng viên ăn thử loại bánh đó, anh ta đã phải nhổ ra ngay lập tức khi miếng bánh vừa chạm vào đầu lưỡi. Vài giờ sau, mùi vị khó chịu của đất vẫn còn nhờ nhợ trong miệng.

Theo một số chuyên gia nghiên cứu tục ăn đất, bánh đất vừa có tác hại vừa có tác dụng đối với sức khoẻ. Đất có thể có động thực vật ký sinh hoặc chất độc gây chết người. Tuy nhiên, nó cũng có thể củng cố thêm hệ miễn dịch của bào thai ở trong tử cung đối với một số bệnh. Nhưng bác sĩ Gabriel Thimothee, người đứng đầu bộ Y tế Haiti cho biết: "Hãy tin tôi, nếu tôi thấy ai ăn thứ bánh đó tôi sẽ ngăn họ ngay"!

Bà Marie Noel, 40 tuổi, là người bán bánh đất trong chợ để kiếm tiền nuôi 7 đứa con. Gia đình bà cũng ăn thứ bánh đó. Bà nói: "Tôi hy vọng một ngày nào đó tôi sẽ có đủ thức ăn để chúng tôi không phải ăn những thứ này nữa. Tôi biết loại bánh đó không tốt".

Trên tờ The Guardian của Anh ngày 29.7.2008, ký giả Rory Carroll cũng đã viết bài “Haiti: Bánh đất đã trở thành bữa ăn ổn định khi giá thực phẩm vượt lên trên tầm với của gia đình” để nói lên tình trạng tương tự. Ký giả này kể lại, bà Marie-Carmelle Baptiste, 35 tuổi, một người sản xuất bánh đất, đã nói với ông ta: “Bánh này làm cho khỏi đói. Các ông phải ăn những bánh đó thôi khi chẳn gcó gì chung quanh”!

Haiti khốn khổ


Haiti là một quốc gia ở Tây bán cầu, trong vùng biển Caribé, Trung Mỹ, gần sát với Cuba, gồm một phần phía tây của đảo Hispaniola. Phía đông của hòn đảo này là Cộng Hoà Dominican (Dominican Republic). Haiti có những dãy núi cao khoảng 2.800 mét chạy dài từ đông sang tây, xen kẻ với những thung lũng và đồng bằng đông dân. Chữ Haiti phát xuất từ thổ ngữ AYITI của người Taino trong vùng có nghĩa là “đất của những núi cao” (land of high mountains). Diện tích Haiti chỉ có 27.750 cây số vuông (tương đương với tiểu bang Maryland) nhưng dân số nay đã lên khoảng 8.700.000 người, gồm có 95% là người Phi Châu da đen, 80% theo Thiên Chúa Giáo La Mã và 16% theo Tin Lành. Ngôn ngữ chính là tiếng Pháp và tiếng Créole.

Tài nguyên thiên nhiên là bauxite và tôm cá. Nông phẩm gồm cà phê, mía, gạo và bắp. Sản phẩm kỹ nghệ là đường biến chế, gạo, hàng vãi và xi-măng. 66% làm nghề nông, 25% làm ngành dịch vụ và 9% làm kỹ nghệ hay thương mại. Tài nguyên ít, con người lại thường ỷ lại, lười biếng, hay xâu xé nhau và không có khả năng vươn lên, nên Haiti được coi là nước nghèo nhất ở Tây bán cầu.

Hiện nay khoảng 80% người dân Haiti phải sống dưới 2 đô la một ngày, trong khi chỉ một phần rất nhỏ những người giàu có đang nắm giữ toàn bộ nền kinh tế.

Một lịch sử bi thảm

Christopher Columbus đã cập bến Môle Saint-Nicolas ngày 3.12.1492 và tuyên bố đảo này thuộc Tây Ban Nha và đặt tên cho nó là La Espanola. Đây là vùng đất mà những người thuộc sắc tộc da đỏ Carib và Arawak đang sinh sống. Các thống đốc Tây Ban Nha bắt đầu nhập cảng những người nô lệ Phi Châu vào để khai thác. Năm 1697 vùng đất này trở thành thuộc địa của Pháp và được đổi tên thành Saint Domingue. Năm 1791, một nửa triệu người nô lệ đã nổi loạn và năm 1801, Pierre Dominique Toussaint l’Ouverture tuyên bố độc lập. Hoàng Đế Napoleon đã đưa quân đến dẹp loạn, nhưng người da đen đã thắng và năm 1804, nước này tuyên bố độc lập trên toàn đảo Hispaliona và lấy tên là Haiti, tức đất của những núi cao.

Tuy nhiên, năm 1843, nhóm dân theo Tây Ban Nha ở phần phía đông đảo Hispaliona nổi loạn và thành lập một quốc gia khác lấy tên là Cộng Hoà Dominican. Nước này rộng đến 48.442 cây số vuông, nói tiếng Tây Ban Nha và có nền văn minh cao hơn.

Trong thế kỷ 19, Haiti bị cai trị bởi một chuỗi các chế độ độc tài làm nền kinh tế kiệt quệ. Năm 1915, Hoa Kỳ đem quân xâm chiếm nước này. Sau Đại Chiến II, Haiti được trao trả độc lập, Dumarsais Estimé được chọn làm Tổng Thống. Nhưng năm 1949, Tướng Paul Magloire làm đảo chánh và đưa Haiti trở lại chế độ độc tài. Năm 1957, François Duvalier được bầu làm Tổng Thống và trở thành một nhà độc tài khét tiếng. Ông bị ám sát năm 1971 và người con của ông là Jean-Claude, thường được gọi là “Baby Doc”, lên kế vị. Năm 1986 “Baby Doc” phải bỏ nước ra đi sau những cuộc rối loạn liên tiếp. Tháng 1 năm 1988 quân đội tổ chức bầu cử và Leslie Manigat được bầu làm Tổng Thống. Nhưng đến tháng 8 Tướng Prosper Avril lại làm đảo chánh. Ông tổ chức bầu cử Tổng Thống ngày 6.12.1990 và Linh mục Jean-Bertrand Aristide được bầu làm Tổng Thống. Aristide nhận chức ngày 7.2.1991 và được hoan hô như là một anh hùng dân chủ. Nhưng đến tháng 9, Tổng Thống Aristide bị đảo chánh phải đi lưu vong. Hoa Kỳ và các nước trong tổ chức các quốc gia Mỹ Châu đã áp dụng cấm vận và phong toả hải cảng Port-au-Prince, nên ngày 15.10.1994 quân đội Haiti đồng ý trao quyền lại cho Aristide. Quân đội Hoa Kỳ đem quân vào gìn giữ an ninh cho việc chuyển quyền và kể từ ngày 31.3.1995 lực lượng gìn giữ Hoà Bình của LHQ đến thay quân đội Hoa Kỳ.

Chính quyền Haiti quyết định tổ chức bầu cử lại, nhưng Linh mục Aristide không tái tranh cử nữa và chỉ định René Préval thay thế ông. Trong cuộc bầu cử ngày 27.12.1995, René Préval thắng cử và trở thành Tổng Thống.

Năm 2000 Linh mục Aristide tái ứng cử và đắc cử, nhưng chế độ Aristide trong nhiệm kỳ thứ hai này bị tố cáo là tham nhũng. Báo cáo của Uỷ ban Công lý và Hoà bình Haiti công bố vào tháng 4 năm 2003 cho biết rằng giết người, bạo hành, bắt cóc: một chuỗi các tội ác xảy ra hằng ngày ở Haiti. Có 117 người chết trong 4 tháng đầu năm. Hội Đồng Giám Mục Haiti đã lên tiếng: “Chúng tôi nhận thấy rằng tình đoàn kết giữa con người với nhau đã tan biến. Chúng tôi lo lắng về sự cẩu thả của một số người nắm giữ vận mệnh của những người khác”.

Năm 2004 quân đội lại làm đảo chánh. Boniface Alexandre lên lãnh đạo chính phủ lâm thời. Phái Bộ Ổn Định cuả LHQ (The United Nations Stabilization Mission) liền đến Haiti. Trong cuộc bầu cử vào tháng 2 năm 2006, René Préval, người thân tín của Aristide, lại tái đắc cử lần thứ hai.

Đội quân LHQ đến gìn giữ hoà bình


Chúng ta hãy nghe một số đoạn trong bài “Lịch sử khốn khổ của Haiti” do ký giả Nick Caistor tường thuật lại:

1. Thiên tai: Rất nhiều cư dân trong khu ổ chuột bị buộc phải tới Port-au-Prince vì điều kiện tại các vùng nông thôn còn khổ hơn. Tình trạng suy dinh dưỡng nghiêm trọng, Aids và các bệnh kinh niên khác đang lan tràn.

Haiti chiếm 1/3 khu núi phía tây của đảo Hispaniola. Khi những người châu Âu lần đầu đặt chân tới đây cách đây hơn 500 năm, họ ngạc nhiên là đất nước này lại có nhiều rừng đến như vậy. Giờ đây, chỉ còn 3% rừng nguyên sinh còn sót lại. Phần lớn các khu rừng đã bị chặt để lấy gỗ hoặc làm than củi, vốn là nhiên liệu phổ biến nhất tại nước này. Chính việc chặt phá rừng đã làm gia tăng các hậu quả của một loạt trận bão đổ vào nước này năm 2008, khiến gần một ngàn người thiệt mạng và một triệu người bị mất nhà cửa sau khi bốn cơn bão ập vào thành phố quan trọng là Gonaives trong vài tuần...

2. Bão tố chính trị: Bên cạnh thiên tai, Haiti còn phải gánh chịu nhiều hậu quả trong suốt lịch sử đầy biến động chính trị và các chế độ cai trị tồi.

Khi ‘Baby Doc’ Duvalier bị truất quyền năm 1986, có vẻ như nước này cuối cùng cũng được hưởng một giai đoạn dân chủ. Sau vài năm bất ổn, hi vọng mới được hình thành và gắn với cuộc bầu cử năm 1990, khi cựu tu sĩ Công giáo Jean-Bertrand Aristide đắc cử.

Tuy nhiên, giai đoạn cầm quyền của ông ta chấm dứt chỉ sau vài tháng, khi các tướng tá quân đội lên tước quyền. Kinh nghiệm dân chủ tại Haiti bị cắt ngắn, hàng ngàn người trở thành nạn nhân của chế độ mới và hàng người người khác phải bỏ chạy khỏi nước này trên các xuồng bè tự tạo.

Lượng thuyền nhân di tản quá lớn vào Mỹ năm 1994 đã thuyết phục Tổng thống Bill Clinton rằng đã đến lúc phải dẹp bỏ các sĩ quan quân đội ở Haiti. Một lần nữa, ông Jean-Bertrand Aristide được phục hồi quyền lực, và một kỷ nguyên chính trị mới có vẻ bắt đầu.

Dưới sự cầm quyền của ông Aristide và người kế nhiệm là René Préval, cùng với sự trợ giúp của Liên Hiệp Quốc cũng như các tổ chức viện trợ quốc tế khác, đời sống đã cải thiện đôi chút, mặc dù Haiti vẫn là quốc gia nghèo nhất tại Tây bán cầu, với thu nhập bình quân chưa đầy hai đô la/ngày.

Khi ông Aristide tái đắc cử Tổng thống nhiệm kỳ hai vào năm 2001, tình hình chính trị lại thụt lùi, với nhiều biến động và bạo lực gia tăng. Tổng thống Aristide bị buộc phải từ chức vào đầu năm 2004, sau vài tháng biến động chính trị leo thang tại nước này. Một lực lượng gìn giữ hoà bình của LHQ với 9000 lính được gởi tới Haiti từ đó nhằm mang lại ổn định và giúp xây đường sá cũng như các cơ sở hạ tầng quan trọng khác.

3. Dập tắt hi vọng: Dưới thời của Tổng thống René Préval, vốn đắc cử nhiệm kỳ hai vào năm 2006, tình trạng tại Haiti đã có những cải thiện quan trọng: công ăn việc làm được tạo ra, các khu ổ chuột trở nên đỡ bạo lực và bắt đầu có dấu hiệu gia tăng về du lịch.

Nhưng giờ đây, cũng như bao lần đã xảy ra trong quá khứ của Haiti, những hi vọng mới này lại bị dập tắt. Liên Hiệp Quốc và cộng đồng quốc tế phải đưa ra những nỗ lực khổng lồ đơn giản chỉ để cứu hộ cho hàng ngàn nạn nhân cũng như dọn dẹp sau động đất.

Nói chuyện sau những thảm hoạ năm 2008, Tổng thống Préval nói Haiti cần sự giúp đỡ lâu dài chứ không nên để “luôn bị bỏ rơi một mình để đối phó với những thảm hoạ mới”.

Đối diện với khu dinh Tổng thống tại Champ de Mars ở Port-au-Prince là một bức tượng lớn mô tả những người bị bỏ rơi trên hoang đảo, là các nô lệ bỏ trốn, vốn là biểu tượng của cuộc đấu tranh giành độc lập của Haiti vào cuối thế kỷ 18.

Người dân Haiti giờ đây cần có tinh thần tương tự nếu họ muốn vượt qua thảm hoạ mới đây nhất giáng xuống nước này.

Nén hương lòng

Trong bài “Nén hương lòng” đăng trong mục “Chuyện có thật” trên website hayyeuthuongnhau.org ngày 24.11.2008, Linh mục Martino Nguyễn Bá Thông ở Saint Teresa of Avila Catholic Church, Grovetown, GA, có kể lại câu chuyện sau đây sau một chuyến viếng thăm Haiti (những tiểu đề do chúng tôi thêm vào):

1. Lâm cảnh cùng khốn: Người Haiti mang dòng máu da đen. Tổ tiên của họ là những nô lệ đến từ Phi Châu nên một phần nào tính “thụ động” vẫn còn trong họ, chính vì thế đất nước họ rất nghèo và chậm phát triển.

Miền nam của Haiti có những mảnh đất màu mỡ trồng rất nhiều xoài, chuối và lúa gạo, nhưng vẫn với những công cụ thô sơ và sản xuất bằng tay nên không thể nào cạnh tranh nổi với thế giới công nghệ tiên tiến của ngày hôm nay. Chẳng hạn như xoài của họ ăn rất ngon và rất thơm (như xoài thanh ca của VN vậy đó) nhưng họ lại không biết bảo quản nên khi ăn trái nào cũng bị nhão từ bên trong – và chuối thì cũng như thế. Khi tôi đi qua các ruộng lúa đang khoe sắc vàng, thì vẫn nhìn thấy các người còm lưng gặt lúa và đập lúa bằng chính đôi tay của mình. Thế mới biết được, Việt Nam chúng ta vẫn còn hơn họ nhiều lắm!...

Nhắc đến nhà thương thì tôi nghĩ cũng nên nói để quý vị rõ là cả nước Haiti vừa mới có nhà thương phục vụ 24 giờ một ngày đầu tiên cách đây khoảng một năm. Tuy vậy khi vào nhà thương, gia đình người bệnh cần phải ra trước cửa bệnh viện mua cho bác sĩ đôi găng tay khám bệnh vì bệnh viện không có găng tay...

Haiti có 3 không: không đường, không điện, không nước, nên tỉ lệ bị nhiễm HIV ở đây rất cao.

Đói triền miên


Tôi là kẻ đã lang thang với trẻ bụi đời khắp năm châu trên 10 năm nay. Đã nhìn thấy những cảnh đời bất hạnh và cuộc sống nghèo khổ đến độ tôi nghĩ không thể nào nghèo hơn được nữa. Tôi không dám nói những gì tôi nhìn thấy ở Haiti là nghèo nhất, nhưng có thể nói là một trong những nước nghèo nhất. Cái khổ nhất mà tôi đã chứng kiến tận mắt là ở Zaire và Rwanda (hai nước ở Phi Châu) khi mà con người phải ăn “đất” để sống...

2. Tên của em là Matthew!: Lần đầu tiên, tôi gặp nó cũng là một đêm tối trời. Tôi vẫn còn nhớ hôm ấy đang lang thang đạp xe vòng quanh nhà thờ Saint Mark ở nước Haiti, nhân chuyến tôi đi thăm giáo xứ “kết nghĩa” với giáo xứ của tôi, thì cái xe đứt sên. Đang loay hoay chưa biết thế nào thì nó xuất hiện. Với những ngón tay thoăn thoắt và hai viên đá trên tay, nó đã có thể nối lại sợi dây sên cho xe và rồi nó lại biến nhanh vào bóng đêm như lúc nó xuất hiện.

Và thế là tôi cũng chẳng còn nhớ đến nó. Và rồi sáng Chủ Nhật khi tôi đồng tế trong Thánh Lễ thì nó lại xuất hiện. Đứng trên Cung Thánh tôi thấy nó cứ thập thò ngoài cửa nhà thờ không vào. Và cuối lễ qua một người thông dịch tôi đã biết được tên và cuộc đời của nó!

Tên của em là Matthew! Cả ông bà nội ngoại của em đã mất vì bệnh Siđa (do vi khuẩn HIV). Bố mẹ em cũng đã mất vì căn bệnh này cách đây gần 5 năm. Không ai biết là em có họ hàng thân thích hay không. Cũng chẳng ai biết là em có còn anh chị em ruột thịt hay không. Những người dân ở khu này chỉ biết đến em là một đứa trẻ “có thể” cũng bị mang vi khuẩn HIV, mồ côi và lang thang. Tuy vậy, theo lời của họ thì em là một đứa bé rất ngoan, luôn giúp đỡ người khác khi cần và chưa bao giờ ăn cắp của ai cái gì! Mỗi khi em đói mà không có gì ăn thì em lại ra cây xăng gần đó xin người qua lại bố thí, mà nếu cuối ngày chẳng được gì thì em lại gõ cửa nhà cha xứ!

Thế là không biết vì sao, tôi tự mình phá lệ do chính tôi đặt ra – đó là nhận một đứa trẻ làm con nuôi. Tôi không nuôi em trong nhà xứ, và em cũng không ở nhà bố mẹ tôi. Nhưng tôi nuôi em bằng tình thương và dĩ nhiên là cả vật chất nữa. Cuộc sống Linh Mục của tôi “không nên” nhận con nuôi, vì điều đó có thể sẽ làm tôi phải lo lắng thêm về vật chất – vì mỗi tháng tôi sẽ phải gởi cho em 50 USD, đó là chưa kể đến những lúc “trái gió trở trời”, nhưng em là một ngoại lệ. Với lại không biết em sẽ còn sống được bao lâu nữa...

Mỗi tháng tôi gởi tiền “tiếp tế” cho em! Và cứ mỗi khi em nhận được tiền em lại viết cho tôi một lá thư bằng tiếng Pháp! Cũng may, tôi có vài giáo dân biết tiếng Pháp nên cũng không đến nỗi nào!

Noel vừa qua, tôi “thặng dư” cho em một chút, coi như đó là món quà Chúa Giáng Sinh tặng em và tôi nhận được một lá thư của em rất dài, xin được trích một đoạn như sau:
“Bố Thông yêu quý,
“... Đã gần 5 năm nay con “tủi thân” một mình vì không có cha mẹ. Nhưng hôm nay con đã dám ngẩng cao đầu nhìn mọi người vì con đã... có một người cha! Con đã bắt đầu dám vào bên trong nhà thờ để đi lễ, không còn phải lén lút đứng ở bên ngoài nữa. Con đã khoe với mọi người là con đã có một người cha! Là bố đó!

“Bố còn nhớ tấm hình mà con với bố chụp chung mà bố gởi cho con không? Lúc nào con cũng mang nó bên người! Đi đâu con cùng khoe là con không còn “cô đơn”, không những con đã có một người cha, mà cha của con lại là một Linh Mục nữa đó! Từ ngày mọi người biết con là “con nuôi” của bố, họ đối xử với con tốt hơn – và bố tin con đi, con cũng đã và đang làm cho bố hãnh diện đó!

“Dành dụm từ những đồng tiền bố cho con, con đã “xây” được một cái nhà bằng “vách đất” 4 mét vuông và giờ đây con không còn phải “lang thang” nữa. Con đã có chỗ “nương thân”. Và chỗ nương thân của con cũng là chỗ mà những người bị nhiễm vi khuẩn HIV như con có thể đến tá túc! Con vẫn đang chia sẻ tình thương của bố dành cho con đến với mọi người đó!

“À bố ơi, đã có hai người chết trong nhà của mình (em gọi căn nhà của em đang ở là nhà của em và tôi). Con ước gì có bố ở đây để bố Xức Dầu và Cầu Nguyện cho họ! Nhưng bây giờ bố vẫn có thể xin Chúa được mà phải không bố?...”
Thật tôi không thể tin đó là lá thư của đứa bé chỉ khoảng 18 tuổi với trình độ văn hoá lớp 3.

Hôm nay cũng là một đêm tối trời – sau bữa ăn tối tôi hay đi bộ qua nhà thờ để chầu thánh thể thì chuông điện thoại cầm tay của tôi reo - đầu dây bên kia là giọng nói của ông thầy xứ gọi từ Haiti...

Cúp điện thoại, tôi thẫn thờ bước vào nhà chầu. Không ngờ, mới gần em đó mà giờ đã quá xa, xa khỏi tầm với của con người. Cầu xin cho em được bình an nơi đó! Tôi sẽ dâng lễ cầu nguyện cho Linh Hồn của em! À, mà quên nữa chứ, ngày mai tôi sẽ gởi tiền để trả chi phí an táng cho em. Vì em là đứa con mà tôi đã nhận! Tí nữa thì bố quên – con tha lỗi cho bố nhé!

Bố của con,
LM Martinô Nguyễn Bá Thông
Misere Mei Deus

Tổ chức Y tế liên châu Mỹ nói số người chết ở Haiti là từ 50.000 tới 100.000, trong khi Thủ tướng Haiti Jean-Max Bellerive nói ít nhất là 100.000. Ông nói 25.000 xác chết đã được thu gom và chôn cất. Nhân viên cứu trợ đang nỗ lực tìm người sống sót còn mắc kẹt dưới đống đổ nát. Phóng viên Chris Barria cho biết: "Tình trạng thật là vô trật tự, hỗn loạn, và cảnh sát lại không có mặt ở đây. Người ta đánh nhau, ném đá vào nhau". Uỷ Ban Hồng Thập Tự Quốc Tế ước tính có khoảng 3 triệu người Haiti – tương đương 1/3 dân số - có thể cần cứu trợ khẩn cấp!

Chúng tôi thường đọc website www.hayyeuthuongnhau.org và theo dõi những việc LM Nguyễn Bá Thông đã làm trong nhiều năm qua, một đôi khi có tường thuật lại. Nay đọc câu chuyện trên, rồi nghe tuyên cáo đòi “giải phóng quê hương” [1], tôi chỉ biết đọc lời nguyện: “Misere mei, Deus, secundum magnam misericordiam tuam...” (Lạy Chúa, xin đoái thương quê hương chúng con theo lượng khoan dung của ngài!).

Ngày 18.1.2010
Lữ Giang

[1] Thỉnh thoảng một số người Việt chống cộng lại ra một tuyên cáo, tuyên ngôn “giải phóng quê hương”, cho đỡ buồn...

© Thông Luận 2010

Share/Save/Bookmark

Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2009

Tiến trình bị mất đất (Lữ Giang)

Nguồn : e-ThongLuan

Tiến trình bị mất đất
Lữ Giang

“… một số “sử gia” đời nay khi viết sử, thường không dựa theo chính sử như cụ Trần Trọng Kim, mà chỉ ghi lại những phần mình thích, bỏ đi những phần bị coi là mất “khí thế” hay không oai hùng, biến hoá nhiều đoạn và thêm huyền thoại vào làm cho sử không còn là thực sử nữa!…”

Chúng ta nhớ lại, nhân dịp Đại Hội Đảng Toàn Quân từ ngày 3 đến 11.1.2001, Lê Đức Anh đã đứng lên tố Lê Khả Phiêu 10 tội, trong đó có một tội rất quan trọng là “Bán đất, bán biển cho Trung Quốc” trong chuyến đi Trung Quốc chầu Giang Trạch Dân. Người đầu tiên đưa sự tố cáo này ra công luận là Đỗ Việt Sơn, một đảng viên đảng CSVN về hưu và có lẽ là đàn em của Lê Đức Anh. Sau đó, Luật sư Lê Chí Quang viết bài “Hãy cảnh giác Bắc Triều” nói rõ rằng phần đất bị “bán” là 720 cây số vuông. Nguyễn Chí Trung, thư ký của Lê Khả Phiêu, nói với báo chí rằng Lê Khả Phiêu là “nạn nhân của những âm mưu đánh phá của 3 vị cố vấn là các ông Đỗ Mười, Lê Đức Anh và Võ Văn Kiệt”.

Dĩ nhiên, nhóm Lê Khả Phiêu phải phản pháo. Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh đã cho Thượng Tướng Nguyễn Nam Khánh dùng tài liệu vụ án chính trị T-4 tại Tổng Cục II thuộc Bộ Quốc Phòng để “chơi” lại nhóm Lê Đức Anh.

Khởi sự từ đó, một phong trào tố đảng CSVN làm mất đất mất biển được phát động ở hải ngoại, nhưng người Việt chống Cộng không dùng những chữ “Bán đất, bán biển cho Trung Quốc” của Lê Đức Anh, mà đổi thành “Dâng đất dâng biển cho Trung Quốc” . Chiến dịch này đã trở nên rầm rộ khi Trung Quốc thành lập huyện Tam Sa thưộc tỉnh Hải Nam bao gồm cả hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, sau đó phong toả Biển Đông.

Thật ra, người Việt đã bị Tàu cướp đất dài dài trong tiến trình lịch sử, bắt đầu từ thời mới lập quốc cho đến ngày nay, do đó người Việt phải tiến dần xuống phía Nam. Tuy nhiên, cha ông chúng ta cũng đã chiếm đất của Lâm Ấp, Chiêm Thành và Chân Lạp để lập thành một nước mới.

Trong bài này chúng tôi chỉ nói về tiến trình bị mất đất trong lịch sử. Trong bài sau, chúng tôi sẽ bàn đến chuyện đòi đất của tiền nhân để rút kinh nghiệm.

Bài học lịch sử?

Chúng tôi xin nhắc lại, trong cuộc phỏng vấn của đài RFA ngày 24.7.2009 về đề tài “Việt Nam cần làm gì trước thái độ lấn lướt của Trung Quốc?”, Giáo sư Trần Văn Đoàn dạy học ở Đại Học Quốc Lập Đài Loan có nêu lên hai đề nghị: (1) Đọc lại bài học của tất cả những triều đại Việt Nam. Cái gì đã mất rồi thì không bao giờ đòi lại được. (2) Cách hay nhất, cái chiến lược của mình là làm thế nào để không mất đất nữa mà thôi.

Ông nói rõ: “Tôi không nói để bảo vệ nhà nước Việt Nam…”

Nhưng với nhiều người Việt chống cộng ở hải ngoại, đề nghị này rất khó nghe. Lý do thứ nhất: Người Tàu có “Tam thập lục kế” (với người Tàu, con số 36 có nghĩa là nhiều lắm), nhưng một số người Việt đấu tranh ở hải ngoại chủ trương chỉ có “biểu dương khí thế” là thượng sách, không cần biết kết quả như thế nào. Mọi kế khác gần như không được chấp nhận. Như vậy học sử để làm gì? Lý do thứ hai: Sử đâu mà học?

Trong bài Tựa của bộ Việt Nam Sử Lược, cụ Trần Trọng Kim (1882 – 1953) có than phiền: “Sử mình đã không hay, mà người mình lại không mấy người biết sử. Là vì cách học tập của mình làm cho người mình không có thể biết được sử của mình” .

Bài Tựa này được viết vào năm 1919, khi bộ Việt Nam Sử Lược lần đầu tiên được xuất bản, nhưng đến nay vẫn còn đúng. Không những thế, một số “sử gia” đời nay khi viết sử, thường không dựa theo chính sử như cụ Trần Trọng Kim, mà chỉ ghi lại những phần mình thích, bỏ đi những phần bị coi là mất “khí thế” hay không oai hùng, biến hoá nhiều đoạn và thêm huyền thoại vào làm cho sử không còn là thực sử nữa! Một vài thí dụ cụ thể:

(1) Khi viết về vua Lê Lợi đánh thắng giặc Minh, các “sử gia” ta chỉ ghi lại “Bình Ngô Đại Cáo” và giấu đi tờ biểu thê thảm mà Lê Lợi dâng lên vua Minh xin phong vương. Trong vụ Nguyễn Huệ đánh thắng quân Thanh, các “sử gia” ta cũng chỉ ghi lại “Hịch Đánh Trịnh” của Nguyễn Hữu Chỉnh và “Hịch Gọi Đò” của Nguyễn Huệ, còn tờ biểu được Nguyễn Huệ dâng lên vua Thanh năn nỉ xin ban sắc phong được coi như không có. Họ cho rằng những tở biểu đó làm mất “khí thế” nên phải loại ra khỏi sử, không nên cho con cháu đọc.

(2) Thiền sư Lê Mạnh Thát đã sửa lại sử, cho rằng không có chuyện Bắc Thuộc lần thứ nhất và Mã Viện đem quân đánh hai Bà Trưng. Trái lại, các đời vua Hùng Vương đã kéo dài ra đến sau Công Nguyên, tức đến khi Phật giáo được truyền vào đất Việt! Việc sửa sử này nhắm mục tiêu chứng minh: “Phật giáo là dân tộc” vì đã du nhập vào Việt Nam từ đời Hùng Vương!

Pháp nạn kinh hoàng (gần như làm cỏ) mà Nguyễn Huệ đã gây ra cho Phật Giáo để có phương tiện tiến đánh quân Thanh, không được ai ghi lại một vài dòng, kể cả các “sử gia” Phật Giáo! Họ chỉ nói đến “Pháp nạn” dưới thời Ngô Đình Diệm!

(3) Tàu xây Ải Nam Quan như thế nào và các diễn biến về sau ra sao, đã được ghi rất tỉ mỉ trong chính sử của Tàu cũng như của ta. Công Ước Thiên Tân ngày 9.6.1885 giữa Pháp và Trung Hoa và các văn kiện đính theo đã gọi Ải Nam Quan là “Porte de Chine” (cửa của Trung Hoa) và vẽ nó nằm trên đất Trung Hoa. Ấy thế mà để “tố cộng”, các “sử gia” và các chiến sĩ chống cộng đã coi những văn kiện lịch sử và pháp lý đó như không có, cùng nhau ngồi “khóc Nam Quan”! Có “đại sử gia” còn biến hoá Ải Nam Quan ra hai phần, một phần nói là của Tàu và một phần nói là của ta, để cho “hợp với lòng dân”!

Bây giờ người Việt ở trong cũng như ngoài nước, gần như nhà nào cũng xem phim Đại Hàn, trong đó có nhiều phim lịch sử, chẳng hạn như Thời Đại Anh Hùng, Những Ngày Đen Tối, Jumong, Bài Ca Sơ Đông, Đại Hiệp Sĩ, v.v. Qua các bộ phim này, chúng ta thấy người Đại Hàn đã diễn tả rất trung thực lịch sử của họ: thời kỳ nào cường, thời kỳ nào nhược, những sự rối loại trong cung đình, những thủ đoạn gian ác áp chế dân lành của các quan lại phong kiến, những phương thức mà cha ông họ đã dùng để chống ngoại xâm… Nhờ diễn tả lịch sử một cách trung thực như vậy, người Đại Hàn ngày nay đã rút được kinh nghiệm lịch sử để xây dựng một đất nước Đại Hàn tốt đẹp hơn. Trái lại, sử của người Việt đã bị hai bên đối nghịch biến chế theo sở thích và theo nhu cầu chính trị, làm sao có thể dựa vào đó để rút kinh nghiệm của cha ông được?

Nước ta khởi từ bên Tàu?

Theo truyền thuyết và dã sử, thời kỳ Hồng Bàng bắt đầu từ năm 2879 trước Tây lịch, thuộc niên đại vua Kinh Dương Vương, với quốc hiệu Xích Quỷ. Địa bàn của Việt Nam dưới thời Kinh Dương Vương nằm ở tận bên Tàu, rất rộng lớn: Phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía đông là Đông Hải, phía tây là Ba Thục (Tứ Xuyên), và phía nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành).

Nước Chiêm Thành lúc đó nằm ở đâu? Bộ Phương Đình Dư Địa Chí của Nguyễn Văn Siêu đã ghi lại như sau:

“Chiêm Thành: phiá đông giáp bể, phía Tây đến Vân Nam, phía nam giáp Chân Lạp, phía bắc liền Annam, phía đông bắc đến Quảng Đông..”.

Thật ra, phải đến thế kỷ thứ 13, nước ta mới có quan viết sử, nên những điều xẩy ra trước đó đều được chép lại theo tục truyền, không biết đúng được bao nhiêu phần trăm. Nhưng chắc chắn người Việt ngày xưa ở tận bên Tàu, sau đó trụt dần xuống phía nam. Tại sao như vậy? Cụ Trần Trọng Kim giải thích:

“Người nòi gióng Việt Nam ta mỗi ngày một nẩy nở ra nhiều, mà ở phía bắc đã có nước Tàu cường thịnh, phía tây thì lắm núi nhiều rừng, đường đi lại không tiện, cho nên mới theo bờ biển lấn xuống phía nam, đánh Lâm Ấp, dứt Chiêm Thành, chiếm đất Chân Lạp, mở ra bờ cỏi bây giờ. ”

Đây là kiểu “Dùi đánh đục thì đục đánh săng (gỗ)”, hay “Cá lớn nuốt cá bé”.

Đồng trụ nằm ở đâu?

Nước ta có ranh giới đầu tiên với nước Tàu là do Mã Viện ấn định. Lịch sử kể lại rằng dưới thời Đông Hán, năm 41 sau Tây lịch, vua Quang Vũ của Tàu sai Mã Viện làm Phục Ba Tướng Quân, sang đánh Trưng Vương, đem đất Giao Chỉ về lại cho nhà Hán (Thiền sư Lê Mạnh Thát nói chuyện này không có!). Mã Viện dời phủ trị về Mê Linh và dựng cây đồng trụ ở chỗ phân địa giới, khắc sáu chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”. Nghĩa là cây đồng trụ gãy thì người Giao Chỉ mất. Người Giao Chỉ đi qua dưới chân cột đồng ấy cứ lấy đá bồi đắp lên mãi thành gò đống cao, vì sợ cột đồng ấy bị đổ gãy.

Nhưng cột đồng này đã được dựng ở đâu?

Theo Lĩnh Ngoại Đại Đáp của Tàu (đời Đường) và An Nam Chí Lược của Lê Tắc, cột này được dựng ở Khâm Châu, trong vùng hang động Cổ Sâm.

Khâm Châu là một châu của Tàu nằm sát biên giới với Giao Chỉ, còn Cổ Sâm là một động của ta nằm sát biên giới Tàu.

Sách Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quế Đường (tức Lê Quý Đôn) có ghi: “Giữa đỉnh núi Phân Mao ở Khâm Châu có cột đồng to độ hai thuớc. Có lẽ đây là Mã Tống dựng lên”.

Núi Phân Mao (Phân Mao lĩnh) ở đâu?

Sách Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi viết:

“Vân Cừ, Kim Tiêu, Phân Mao ở về Yên Bang (sau tránh huý đổi làm Yên Quảng). Vân Cừ là tên sông, tên khác của sông Bạch Đằng, Tiền Ngô Vương bắt Hoằng Tháo, Hưng Đạo Vương bắt Ô Mã Nhi đều ở đây. Phân Mao là tên núi, Kim Tiêu là cột đồng. Ở phía Tây lộ Hải Đông 300 dặm có đèo Phân Mao, ở nửa đèo có cột đồng của Mã Viện dựng, lớn chừng ba thước”. (“Dư Địa Chí”, Nguyễn Trãi toàn tập, bản dịch của NXB KHXH – Hà Nội, tr. 202)

Sách Gia Khánh Trùng Tu Nhất Thống Chí của Nhà Thanh cho biết: Núi Phân Mao ở phía Tây Khâm Châu (nay là đất tỉnh Quảng Đông). Năm Tuyên Đức thứ 2 (1427) thời Minh, núi ấy thuộc vào châu Tân An của Giao Chỉ. Đến năm Gia Tĩnh thứ 21 (1542) Mạc Đăng Dung hàng, mới thuộc về nước Tàu.

Đồng trụ nếu to 2 thước ta (theo Lê Quý Đôn) hay 3 thước ta (theo Nguyễn Trải) thì cũng rất lớn. Mỗi thước ta bằng 0,425 mét. Như vậy 2 thước là 0,850 mét và 3 thước là 1,275 mét.

Về sau, cả người Tàu lẫn người Việt đều không biết rõ đồng trụ nói trên nằm ở đâu. Sách Khâm Định Việt Sử Thương Giám Cương Mục có cho biết năm 1272, nhà Nguyên đã sai Ngột Lương sang Việt Nam hỏi giới mốc đồng trụ ngày trước ở đâu. Vua Trần Thánh Tôn đã sai viên phái Lê Kính Phu đi hội đồng khám xét. Lê Kính Phu tâu với Nhà Nguyên: “Chỗ cột đồng do Mã Viện dựng lên lâu ngày bị chìm lấp, nay không thể biết ở chỗ nào được” . Việc đó sau cũng thôi. (Quyển VII, tr. 219).

Thật ra, Mã Viện không phải chỉ dựng một đồng trụ ở Cổ Sơn. Ông đã mở mang bờ cỏi của nhà Hán, dựng lên một đồng trụ ở Đèo Ngang (giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình) và hai đồng trụ ở Bình Định. Phương Đình Dư Địa Chí của Nguyễn Văn Siêu cho biết: Sách Tần Thư Điạ Lý Chí ghi: Ở quận Nhật Nam có cột đồng từ đời Hán dựng làm địa giới. Sách Lâm Ấp Ký chép: Phía tây quận Nhật Nam có nước Tây Đồ Di, Mã Viện qua đất này dựng hai cột đồng nêu bờ cỏi nhà Hán.

Quận Nhật Nam lúc đó gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định ngày nay (có tài liệu cho là đến tận cửa Đại Lãnh, Phú Yên). Vùng này là bắc Chiêm Thành.

Nhìn lại, nếu đồng trụ do Mã Viện dựng để phân ranh giới Việt – Trung mà còn thì nó cũng đã nằm trên đất Tàu, vì năm 1540 Mạc Đăng Dung đã giao vùng đất Cổ Sơn, nơi có đồng trụ, cho Trung Hoa rồi.

Mất đất dưới thời phong kiến

Nhiều người tưởng rằng, trong lịch sử, cha ông chúng ta luôn kiên cường dựng nước và giữ nước, không để mất một tấc đất nào. Thực tế không phải như vậy. Ngoài việc bỏ Hồ Nam, Quảng Đông và Quảng Tây chạy xuống Bắc Việt hiện nay, cha ông chúng ta còn phải chịu bị mất đất rất nhiều lần.

Mặc dầu Mã Viện đã dựng đồng trụ ở Phân Mao để đáng dấu ranh giới giữa Giao Chỉ và nước Tàu, những việc phân định ranh giới giữa hai nước không dễ dàng vì biên giới rất rộng lớn. Mỗi lần có tranh chấp, vua hay quan Tàu đều dành quyền quyết định phần nào thuộc Tàu và phần nào thuộc ta.. Thí dụ năm 1442, nhà Minh gởi dụ cho vua Lê Thái Tông, nói rằng Chiêm Lãnh và Như Tích là thuộc Châu Khâm của Trung Quốc, do Hoàng Khoan cai quản, nên phải trả lại cho Trung Quốc. Năm 1547, Đô Đốc Mã của nhà Thanh gởi thư cho Chúa Trịnh và nói: “Từ Sa Châu trở ra ngoài đến Phân Mao - Đồng Trụ là đất của quý quốc cày cấy chăn nuôi từ lâu, cho về An Nam” .

Ngoài chuyện tranh chấp về vùng biên giới, các vua và quan Tàu luôn tìm cách chiếm thêm đất của nước ta. Tạm bỏ qua “một ngàn năm đô hộ giặc Tàu” đi, chúng ta thấy từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ thứ 18, dưới các triều đại của Trung Quốc từ Tống, Nguyên, Minh đến Thanh đều đem quân xâm lấn Đại Việt. Nhà Tống xâm chiếm 2 lần, nhà Nguyên 3 lần, nhà Minh và nhà Thanh mỗi vương triều một lần. Ngoài những cuộc xâm chiếm đại quy mô như thế, các triều đại Trung Quốc cũng thường tìm cách cướp đất của người Việt ở vùng biên giới. Sau đây là một số thí dụ cụ thể:

1.- Mất hai động Vật Ác và Vật Dương

Dưới thời nhà Tống, Quách Quỳ đã chiếm 4 châu và một huyện của Đại Việt là Quảng Nguyên, Quang Lang, Tô Mậu, Môn, và Thuận châu. Sau đó, năm 1057 Nùng Tôn Đàn nộp động Vật Ác và năm 1064 Nùng Trí Hội nộp thêm động Vật Dương. Vua Lý Nhân Tông phái sứ qua thương lượng nhiều lần, vua Tống chỉ chịu trả cho 4 châu và một huyện, nhưng không trả hai động Vật Ác và Vật Dương.

2.- Mất 59 thôn ở Cổ Lâu

Năm 1401, khi Hồ Hán Thương được Hồ Quý Ly nhường ngôi, đã sai sứ sang xin vua nhà Minh phong vương. Vua Thánh Tổ nhà Minh nghe tin ở An Nam đang có chuyện lộn xộn nên cho điều tra và biết được Hồ Quý Ly đã cướp ngôi nhà Trần. Nhà Minh muốn nhân cơ hội này đem quân sang chiếm nước An Nam, lấy lý do là để hạch tội Hồ Quý Ly. Khởi đầu, vào năm 1405 nhà Minh sai sứ sang đòi lại đất Lộc châu, tức Lộc Bình thuộc tỉnh Lạng Sơn ngày nay, viện lý do đất này trước đây thuộc châu Tự Minh của tỉnh Quảng Tây. Lúc đầu Hồ Quý Ly không chịu, nhưng thấy áp lực của nhà Minh quá nặng nên Hồ đã sai quan hành khiển là Hoàng Hối Khanh đến dàn xếp. Hoàng Hối Khanh quyết định cắt 59 thôn ở Cổ Lâu nhường cho Tàu. Hồ Quý Ly thấy cắt nhiều quá, có mắng Hoàng Hối Khanh. Tuy đã nhún nhường như thế, nhà Minh vẫn không chịu, đem binh qua chiếm nước ta.

3.- Mạc Đăng Dung giao hai châu và 4 động cho Tàu

Theo sách Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú, năm 1540 khi Mạc Đăng Dung đầu hàng nhà Minh, đã trao trả 2 châu và 4 động cho nhà Minh. Hai châu là Như Tích và Chiêm Lãng, và 4 động là Tê Phù, Kim Lạc, Cổ Sâm và Liêu Cát. Các lãnh thổ này được sát nhập vào châu Khâm của Tàu. Nhưng Mạc Đăng Dung không được nhà Minh phong vương mà chỉ phong làm Đô Thống Sứ.

4.- Mất 13 châu và 3 động

Năm 1684, thổ quan huyện Khai Hoá của tỉnh Vân Nam đem quân chiếm ba động Vị Xuyên, Bảo Lạc và Thủy Vĩ thuộc tỉnh Tuyên Hưng của ta. Chúa Trịnh Thuận Đức cho sứ qua đòi lại nhưng nhà Thanh không trả.

Năm 1698 thổ quan tỉnh Vân Nam lại chiếm thêm ba động Ngưu Dương, Hồ Điệp và Phổ Viên thuộc tỉnh Tuyên Quang. Sứ thần Nguyễn Đăng Đạo đến Trung Quốc xin vua Khang Hy trả lại, nhưng vua từ chối. Chúa Trịnh Bính lại phái sứ khác qua nhà Thanh xin xem lại vụ này, nhưng quan Tuần Phủ Quảng Tây không cho đi. Từ đó, ba động này kể như mất luôn.

Năm 1781, Hoàng Công Thư đã đem 10 châu của nước Việt nộp cho Tổng Đốc tỉnh Vân Nam. Triều đình ta gởi thư yêu cầu Tổng Đốc Vân Nam xét lại biên giới. Tổng Đốc Vân Nam trả lại thư và nói rằng biên giới tự nhiên không cần vạch lại.

Trên đây là một số vụ mất đất điển hình trong thời phong kiến.

Mất đất dưới thời XHCN

Có thể nói, nếu không có Pháp xâm chiếm và đô hộ nước ta, khó mà ấn định được đường ranh giới hợp lý và khoa học trên bộ và trên biển giữa Việt Nam và Trung Hoa.

Sau nhiều lần thương lượng rất gay cấn, kể cả dùng sức mạnh quân sự, ngày 9.6.1885 nhà cầm quyền Pháp và Trung Hoa đã ký Công Ước Thiên Tân về biên giới Việt – Trung được gọi là “Hiệp Ước Hòa Bình, Hữu Nghị và Thương Mại” (Traité de Paix, d'Amitié, et de Commerce). Công ước này đã được bổ túc do công ước ngày 26.6.1887 và công ước ngày 20.6.1895.

Mặc dầu có những hiệp ước ấn định ranh giới một cách rõ ràng nói trên, kể từ năm 1954, sau khi Pháp rút khỏi miền Bắc, Trung Quốc bắt đầu xâm phạm biên giới Việt Nam. Những vụ xâm phạm này đã được nhà cầm quyền Hà Nội ghi rõ trong tập Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, do nhà xuất bản Sự Thật của Hà Nội xuất bản năm 1979, sau khi Trung Quốc đem quân “dạy cho Việt Nam một bài học”. Trong “Lời Nhà Xuất Bản”, nhà xuất bản Sự Thật nói rõ đây là toàn bộ “Bị vong lục của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc nhà cầm quyền Trung Quốc gây khiêu khích, xâm lăng lãnh thổ Việt Nam ở vùng biên giới”.

Vì tập sách khá dài, chúng tôi chỉ ghi lại những điểm chính. Trong phần “Tình hình Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay”, nhà cầm quyền Hà Nội cho biết thủ đoạn lấn chiếm đất của Trung Quốc như sau:

(1) Từ xâm canh, xâm cư, đến xâm chiếm đất (tr. 8).
(2) Lợi dụng việc xây dựng các công trình hữa nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam (tr. 10).
(3) Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam (tr. 11).
(4) Từ mượn đất của Việt Nam đến biến thành lãnh thổ của Trung Quốc (tr. 12).
(5) Lợi dụng việc vẽ bản đồ giúp Việt Nam để chuyển dịch đường biên giới, điển hình là đã sửa ký hiệu ở khu vực thác Bản Giốc (mốc 53), nơi chúng định chiếm một phần thác Bản Giốc và cồn Pò Thông (tr.14)...

Sau đây là một số trích đoạn được trích dẫn:

1.- Từ xâm canh, xâm cư đến xâm chiếm đất

Tài liệu cho biết:

“Lợi dụng đặc điểm là núi sông hai nước ở nhiều nơi liền một dải, nhân dân hai bên biên giới vốn có quan hệ họ hàng, dân tộc, phía Trung Quốc đã đưa dân họ vào những vùng lãnh thổ Việt Nam để làm ruộng, làm nương rồi định cư những người dân đó ở luôn chỗ có ruộng nương, cuối cùng nhà cầm quyền Trung Quốc ngang ngược coi những khu vực đó là lãnh thổ Trung Quốc”.

Một thí dụ cụ thể: Từ năm 1956 phía Trung Quốc tìm cách nắm số dân Trung Quốc sang làm ăn ở Trình Tường bằng cách cung cấp cho họ các loại tem phiếu mua đường, vải và nhiều hàng khác, đưa họ vào công xã Đồng Tâm thuộc huyện Đông Hưng, khu tự trị Choang-Quảng Tây. (tr. 8 và 9)

2.- Lợi dụng việc xây dựng các công trình hữu nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam

“Năm 1955, tại khu vực Hữu Nghị Quan, khi giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ biên giới Việt-Trung đến Yên Viên gần Hà Nội, lợi dụng lòng tin của Việt Nam, phía Trung Quốc đã đặt điểm nối ray đường sắt Việt Trung sâu trong lãnh thổ Việt Nam trên 300m so với đường biên giới lịch sử, coi điểm nối ray là điểm mà đường biên giới giữa hai nước đi qua. Ngày 31 tháng 12 năm 1974, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đã đề nghị Chính phủ hai nước giao cho ngành đường sắt hai bên điều chỉnh lại điểm nối ray cho phù hợp với đường biên giới lịch sử nhưng họ một mực khước từ bằng cách hẹn đến khi hai bên bàn toàn bộ vấn đề biên giới thì sẽ xem xét..”. (tr.10)

3.- Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam

“Trên đoạn biên giới đất liền cũng như ở các đoạn biên giới đi theo sông suối, tại nhiều nơi, phía Trung Quốc đã tự tiện mở rộng xây dựng các công trình để từng bước xâm lấn đất.

“Tại khu vực mốc 53 (xã Đàm Thuỷ, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) trên sông Quy Thuận có thác Bản Giốc, từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đã công nhận sự thật đó. Ngày 20.2.1970 phía Trung Quốc đã huy động trên 2.000 người kể cả lực lượng vũ trang lập thành hàng rào bố phòng dày đặc bao quanh toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới, làm việc đã rồi, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên sông và ở cồn Pò Thoong, và ngang nhiên nhận cồn này là của Trung Quốc... (tr.11 và 12).

Trên đây chỉ là một vài thí dụ cụ thể. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này sau.

Lệnh phải giữ đất

Năm 1473 khi Lê Duy Cảnh, Thái bảo kiến dương bá, đi trấn giữ ở vùng biên giới giáp với tỉnh Quảng Tây, vua Lê Thánh Tông đã trao cho ông một sắc dụ, trong đó viết:

“Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di”.

Ngày 11.8.2009
Lữ Giang

© Thông Luận 2009

Share/Save/Bookmark

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2009

Hà Nội sắp hành động? (Lữ Giang)


Nguồn : e-ThongLuan

Lữ Giang

“…nhà cầm quyền CSVN sẽ không dựa vào các giải pháp thuần lý hay cảm tính để đương đầu với Trung Quốc, vì cho rằng những giải pháp như thế chỉ làm cho tình hình rối ren thêm... Nhưng cho đến nay, chúng ta vẫn chưa thấy một ánh sáng nào ở cuối đường hầm…”

Hôm 17.3.2009, một cuộc hội thảo về đề tài “Tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông: lịch sử, địa chính trị và luật pháp quốc tế” đã được Chương Trình Nghiên Cứu Biển Đông, Học Viện Ngoại Giao, tổ chức tại Hà Nội.

Nhiều người tin rằng mục đích của cuộc hội thảo này không phải là để tiếp nhận ý kiến của các học giả và các chuyên gia về vấn đề Biển Đông, vì mọi tài liệu nghiên cứu đã sẵn có từ lâu rồi. Đây chỉ là một hình thức thức thăm dò hay chuẩn bị dư luận trước khi nhà cầm quyền đi một nước cờ nào đó trong ván bài Biển Đông. Nói cách khác, đây là một cuộc hội thảo có tính toán.

Trước khi tìm hiểu nhà cầm quyền Hà Nội có thể làm gì, chúng ta phải nhìn qua quan điểm của một số học giả và chuyên gia.

Nội dung cuộc hội thảo

Theo bài tường thuật của Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện, Phó Giám Đốc Thư Viện Hán Nôm, có khoảng gần 100 người tham dự, gồm các học giả, nhà ngoại giao, chính khách và nhà báo đến từ mọi miền đất nước. Đặc biệt, tham gia hội thảo còn có 2 học giả đến từ Mỹ.

Tuy nhiên, người ta không thấy có viên chức chính quyền nào đến tham dự hay gởi bài tham luận.

Cuộc hội thảo quy vào ba chủ đề chính do 14 tác giả thuyết trình:

Chủ đề 1: Lịch sử các quá trình tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển tại Biển Đông (5 diễn giả).
Chủ đề 2: Luật pháp quốc tế và tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông (5 diễn giả)
Chủ đề 3: Biển Đông và quan hệ quốc tế tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (4 diễn giả)

Ông Nguyễn Xuân Diện cho rằng có 8 ý kiến chính đã được phát biểu, nhưng trong mỗi ý kiến ông ghi lại, chúng tôi thấy bao gồm nhiều ý kiến về những vấn đề khác nhau. Qua những ghi nhận của ông Diện, chúng tôi thấy những ý kiến sau đây cần được lưu ý:

(1) Hiệp định Genève làm cho công hàm của Phạm Văn Đồng vô giá trị.

(2) Quốc Hội nên nhanh chóng thông qua Luật chủ quyền của Hoàng Sa và Trường Sa.

(3) Cần đưa ra những chứng cứ và phân tích pháp lý, đặc biệt lưu ý về vấn đề bản đồ 1608. Đấu tranh bằng cảm tính chưa được, phải đấu tranh có cơ sở pháp lý, có bằng chứng. Trong khi đó TQ đào tạo và công bố tài liệu và rao giảng khắp thế giới.

(4) Nhanh chóng xây dựng lực lượng dân binh tại HS-TS, giống như đội Bắc Hải, đội Hoàng Sa.

(5) Hội thảo này phải lấy lại tinh thần. Cần mở rộng dư luận để mọi người đều biết, đều có trách nhiệm về vấn đề chủ quyền biển.

(6) Ngoại giao phải đi trước một bước.

Ông Diện kết luận:
“Hội thảo đã diễn ra trong một ngày (kết thúc lúc 17h30) với một tinh thần khẩn trương. Các trao đổi bên lề và các thảo luận tại hội trường thực sự sôi nổi, chất lượng và khoa học. Đây là cuộc hội ngộ của những tấm lòng yêu nước nhiệt thành và quyết tâm dấn thân vào mọi nỗ lực giữ bằng được Biển Đông - "một nửa cơ ngơi" nước Việt Nam.

“Các phát biểu của các học giả mong muốn có một chương trình hành động quốc gia về các vấn đề của Biển Đông, trong đó trọng tâm là Hoàng Sa và Trường Sa.”

Sau đó chúng tôi có đọc được một số đề tài tham luận như:
- Giữ chủ quyền bằng chứng cứ lịch sử,
- Việt Nam trước chủ trương của Trung Quốc đối với Biển Đông,
- Cần giải quyết vấn đề Biển Đông bằng công pháp quốc tế,
- Không thể giữ chủ quyền chỉ bằng cảm tính,
- Căng thẳng Biển Đông và lựa chọn cho Việt Nam,
- Tranh chấp Biển Đông và vai trò của Liên hiệp quốc, v.v.

Chúng tôi có cảm tưởng như cuộc hội thảo nói trên là cơ hội để mọi người “xả xù bắp”.

Tuy nhiên. đọc qua những phát biểu và những bài nói trên, chúng tôi thấy thuần lý và cảm tính vẫn còn đóng vai trò chính trong những quan điểm hay cách nhìn vấn đề, bất chấp thực tế như thế nào, trong khi vấn đề Biển Đông đã trở thành một thực trạng cần được giải quyết.

Khái niệm về Luật Biển 1982

Trong bài “Biển Đông nổi sóng: Mỹ làm gì?” (phổ biến ngày 17.3.2009), chúng tôi đã nói qua “Khái niệm về Biển Đông”. Trong bài này chúng tôi thấy cũng cần nói qua khái niệm “Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982” trước khi góp một vài ý kiến về cuộc hội thảo nói trên, để các độc giả có thể theo dõi vấn đề một cách dễ dàng hơn.

Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển được ký ngày 10.12.1982 ở Montego Bay (Jamaica) và có hiệu lực kể từ ngày 16.11.1994. Hiện nay đã có 154 quốc gia và Cộng Đồng Âu Châu tham gia, nhưng Hoa Kỳ từ chối tham gia vì cho rằng Công Ước này không có lợi cho kinh tế và an ninh của Mỹ.

Luật Biển với một hệ thống học lý, án lệ và tập tục quốc tế rất phức tạp, chỉ có những nhà chuyên môn mới có thể thấu hiểu một cách tường tận. Ở đây chúng tôi chỉ trình bày khái niệm về một số vấn đề căn bản thường gặp khi nói về cuộc tranh chấp Biển Đông, đó là những vấn đề sau đây: Đường cơ sở, Nội thuỷ, Lãnh hải, Vùng tiếp giáp lãnh hải, Vùng đặc quyền kinh tế, Thềm lục địa, Quần đảo và các quốc gia quần đảo, và quyền qua lại không gây hại.

1. Đường cơ sở: Công ước đặt ra nhiều khu vực trên biển có liên hệ đến quyền lợi và nghĩa vụ của các quốc gia, dựa trên một đường cơ sở (baseline) được định nghĩa trong công ước.

Thông thường, đường cơ sở là đường bờ biển khi thuỷ triều xuống, nhưng khi bờ biển lồi lỏm, có đảo ven bờ, hoặc đường bờ biển không ổn định, có thể xử dụng các đường thẳng được ấn định theo luật làm đường cơ sở.

2. Nội thuỷ: Vùng nằm ngoài đường cơ sở có chiều ngang 12 hải lý được coi là nội thuỷ. Tại vùng này, quốc gia chủ quyền được quyền đặt ra luật pháp của mình đối với các hoạt động như nhập cư, buôn lậu, thuế khoá, y tế... xảy ra trong lãnh thổ hay lãnh hải của mình, kiểm soát việc sử dụng và khai thác mọi tài nguyên. Các tàu thuyền nước ngoài có quyền "qua lại không gây hại" không cần xin phép nước chủ.

3. Vùng tiếp giáp lãnh hải : Bên ngoài giới hạn 12 hải lý của lãnh hải là một vành đai có bề rộng 12 hải lý, được coi là vùng tiếp giáp lãnh hải. Tại đây, nước chủ cũng có thể thực thi luật pháp của mình như trong nội hải.

4. Vùng đặc quyền kinh tế : Vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Trong vùng này, quốc gia ven biển được hưởng độc quyền trong việc khai thác tất cả các tài nguyên thiên nhiên.

5. Thềm lục địa: Thềm lục địa là vùng đáy và lòng đất đáy biển nằm bên ngoài lãnh hảỉ của nước ven biển trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền ra đến bờ ngoài của rìa lục địa (continental margin), hoặc tới giới hạn 200 hải lý tính từ đường cơ sở lãnh hải nếu bờ ngoài của rìa lục địa ở khoảng cách gần hơn. Tuy nhiên, bề rộng tối đa của thềm lục địa không được vượt quá giới hạn 350 hải lý tính từ đường cơ sở lãnh hải, hoặc không quá 100 hải lý bên ngoài đường đẳng sâu 2.500 m.

Quốc gia ven biển được hưởng độc quyền quyền khai thác khoáng sản và các nguyên liệu không phải sinh vật sống trên thềm lục địa.

6. Các đảo và các quốc gia quần đảo: Theo điều 121 của Công Ước Luật Biển 1982, một đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, và khi thuỷ triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước.

Các đảo theo định nghĩa nói trên vẫn được hưởng các quy chế về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa.

Tuy nhiên, khoản 3, điều 121 của Công ước quy định rằng các đảo đá không thích hợp cho con người đến ở hoặc có một đời sống kinh tế riêng thì chỉ được có vùng lãnh hải tối đa 12 hải lý, không được phép có vùng đặc quyền về kinh tế và vùng thềm lục địa.

Đường cơ sở của các quốc gia quần đảo được vẽ giữa các điểm ngoài cùng nhất của các đảo, đảm bảo rằng các điểm này phải đủ gần nhau một cách thích đáng. Mọi vùng nước bên trong đường cơ sở sẽ là vùng nước quần đảo và được coi như là một phần của lãnh hải quốc gia đó.

7. Qua lại không gây hại: Theo điều 17 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, tàu thuyền của mọi quốc gia, có biển hay không có biển, đều có quyền “qua lại không gây hại” trong lãnh hải của quốc gia khác. Khoản 1 điều 19 định nghĩa “qua lại không gây hại” như sau:

Qua lại được coi là không gây hại khi nó không gây thiệt hại cho hòa bình, trật tự hoặc an ninh của quốc gia ven biển. Việc qua lại như vậy sẽ được thực hiện phù hợp với Công Ước này và với các quy định khác của luật quóc tế.

(Passage is innocent so long as it is not prejudicial to the peace, good order or security of the coastal State. Such passage shall take place in conformity with this Convention and with other rules of international law.)

Trên đây chỉ là những khái niệm căn bản.

Các giải pháp đề nghị tại cuộc hội thảo

Chúng ta thử tìm hiểu những giải pháp được đề nghị trong cuộc hội thảo nói trên có thể góp phần giải quyết được gì trong việc bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa.

1. Tuyên bố công hàm của Phạm Văn Đồng vô giá trị:

Trong cuộc hội thảo nói trên, có học giả đã nói như quan điểm của chúng tôi, phải tuyên bố công hàm ngày 14.9.1958 của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng gởi cho Chu Ân Lai, Tổng Lý Quốc Vụ Viện Trung Quốc là vô giá trị.

Chúng ta nhớ lại, ngày 4.9.1958, Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải của Trung Quốc, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa. Sau đó, ngày 14.9.1958 Thủ Tướng Phạm Văn Đồng viết cho Chu Ân Lai, Tổng Lý Quốc Vụ Viện Trung Quốc một công hàm nói rằng Chính Phủ VNDCCH tán thành tuyên bố ngày 4.9.1958 của CHND Trung Quốc.

Khi tài liệu này được tiết lộ, nhiều tổ chức và người Việt chống cộng ở hải ngoại đã dựa vài đó, mở nhiều cuộc hội thảo, ra tuyên ngôn tuyên cáo tố cáo nhà cầm quyền CSVN đã “dâng đất dâng biển cho Trung Quốc”.

Chúng tôi thấy đây là một hành động thiếu suy nghĩ chin chắn và rất tai hại. Nếu bảo rằng Phạm Phạm Văn Đồng đã dâng Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc, chúng ta đã mất Hoàng Sa và Trường Sa sao? Sự thật không phải như vậy. Hoàng Sa và Trường Sa không thể bị coi là đã bị “dâng” cho Trung Quốc vì hai lý do sau đây:

(1) Theo Hiệp Định Genève năm 1954, Hoàng Sa và Trường Sa đều thuộc chủ quyền của VNCH vì nằm ở phía nam vĩ tuyến 17. Một nguyên tắc căn bản của luật pháp là “Nemo dat quod non habet”, tức không ai có thể cho cái mình không có. Do đó, Phạm Văn Đồng không thể “dâng” đất VNCH cho Trung Quốc được. Nếu Phạm Văn Đồng làm được như thế, chúng tôi cũng có thể bán Toà Bạch Ốc cho Trung Quốc lấy vài trăm triệu xài chơi.

(2) Giả thiết hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc miền Bắc đi nữa, công hàm của Phạm Văn Đồng cũng không có giá trị, vì điều thứ 23 Hiến Pháp năm 1946 của VNDCCH quy định rằng Nghị Viện Nhân Dân (tức quốc hội) “chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài”. Công hàm của Phạm Văn Đồng không được quốc hội chuẩn y nên không có giá trị.

Nói tóm lại, không thể căn cứ vào công hàm ngày 14.9.1958 để nói rằng Hoàng Sa và Trường Sa đã bị “dâng” cho Trung Quốc. Hoàng Sa và Trường Sa vẫn là của Việt Nam. Công hàm của Phạm Văn Đồng chỉ là trò xảo trá của Đảng CSVN khi xin Trung Quốc viện trợ vũ khí và tiếp liệu để xâm chiếm miền Nam Việt Nam mà thôi.

Tuy nhiên, chúng tôi rất buồn cười khi một học giả bảo rằng Trường Sa và Hoàng Sa lúc đó thuộc VNCH và MTQGGPMN! Lúc đó, MTQGGPMN chưa được thành lập làm sao thuộc mặt trận này được?

Chúng tôi rất đồng ý với các hội thảo viên, chính phủ phải ra một tuyên cáo nói công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng vô giá trị để xác định Hoàng Sa và Trường Sa vẫn là của Việt Nam.

2. Làm luật ấn định Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam

Hôm 10.3.2009, bà Gloria Macapagal Arroyo, Tổng thống Philippines, đã ký đạo luật tuyên bố chủ quyền Philippines đối với hơn 7.100 đảo trong vùng biển cạnh Philippines, trong đó có hai đảo Hoàng Nham và Nam Sa (tên Philippines là Kalayaan và bãi Scarborough) vốn được coi là nằm trong quần đảo Trường Sa gần Philippines. Thiết tưởng Quốc Hội Việt Nam cũng phải làm một đạo luật như thế vì đã có tiền lệ rồi.

3. Dùng lịch sử và quốc tế công pháp để đấu tranh

Trong cuộc hội thảo, chúng tôi thấy rất nhiều học giả và chuyên gia thiên về giải pháp dùng lịch sử và quốc tế công pháp để đấu tranh với Trung Quốc. Sau khi tham khảo một số tài liệu, chúng tôi tin rằng Hà Nội đã tập trung khá đầy đủ các tài liệu về lịch sử và pháp lý để đầu tranh với Trung Quốc, không cần nghiên cứu thêm nữa. Nhưng trong thực tế hiện nay những thứ đó không thể xài được vì các lý do sau đây:

Trước hết, chúng ta không thể đưa nội vụ ra trước Toà Án Quốc Tế rồi dùng lịch sử và pháp lý để chứng minh chủ quyền của VN, vì một trong những điều kiện để được Toà Án Quốc Tế thụ lý là các bên tranh tụng phải cam kết thi hành phán quyết của Toà. Khi Trung Quốc không chịu cam kết như vậy, Toà không thể thụ lý và xét xử được.

Thứ đến, chúng ta cũng không thể dùng lịch sử và pháp lý để yêu cầu Đại Hội Đồng LHQ hay Hội Đồng Bảo An LHQ giải quyết vấn đề, vì tiếng nói của Việt Nam quá nhỏ bé tại đây, trong khi các cuờng quốc vì có nhiều quan hệ kinh tế với Trung Quốc nên không muốn can dự vào chuyện tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam. Điều cần lưu ý là Trung Quốc còn có quyền phủ quyết tại Hội Đồng Bảo An LHQ.

Bản đồ hình lưỡi bò…


Chúng ta cũng không thể đem lịch sử và pháp lý ra đối kháng trực tiếp với Trung Quốc, vì Trung Quốc chỉ nói càn và xử dụng sức mạnh. Trung Quốc chiếm Mông Cổ, Tây Tạng, Hoàng Sa và Trường Sa có căn cứ vào lịch sử hay pháp lý đâu? Khi Trung Quốc tự động vẽ Đường Lưỡi Bò bao quanh Biển Đông và tuyên bố vùng trong đường đó là của Trung Quốc, Trung Quốc có đếm xỉa gì đến lịch sử và quốc tế công pháp đâu? Đem lịch sử và pháp lý đối kháng với Trung Quốc không khác gì Dân Oan đem giấy chủ quyền đi khiếu kiện nhà cầm quyền CSVN cướp đất của họ!

Trong vụ khiêu khích tàu Hải Quân Mỹ hôm 8.3.2009, Trung Quốc còn biểu diễn cả trò tuột quần để nói lên sự khinh bỉ Mỹ! Khi Trung Quốc đã dùng tới những thứ đó, chỉ có sức mạnh mới có thể nói chuyện với Trung Quốc mà thôi.

Nói tóm lại, hiện nay việc dùng lịch sử và pháp lý để đấu tranh với Trung Quốc là không thực tế, nhưng Hà Nội cũng phải công bố những tài liệu này cho người dân cũng như thế giới biết.

4. Bảo vệ quyền qua lại không gây hại

Hiện nay, Trung Quốc đã vẽ một đường lưỡi bò vòng quanh Biển Đông, chỉ cách đường cơ sở (bờ biển) của các nước trong vùng khoảng 12 hải lý.

Cho dù hành động của Trung Quốc được coi là hợp pháp đi nữa, Trung Quốc vẫn phải tôn trọng quyền qua lại không gây hại trên Biển Đông, kể cả quyền đi qua lãnh hải, vùng tiết giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Trung Quốc. Có thể ép buộc Trung Quốc phải tôn trọng luật lệ này, vì Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc và Ấn Độ phải nhảy vào để bảo vệ quyền lợi của họ trong vùng.

5. Đăng ký thềm lục địa mở rộng

Theo Công Ước LHQ về Luật Biển, nước ven biển phải đăng ký yêu sách về phạm vi của thềm lục địa mở rộng với Uỷ Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa (Commission on the Limits of the Continental Shelf) trong vòng 10 năm kể từ khi Công Ước bắt đầu có hiệu lực với nước đó, hay từ khi Uỷ Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa ban hành hướng dẫn khoa học kỹ thuật về ranh giới thềm lục địa kể từ ngày 13.5.1999. Nếu nước ven biển không đăng ký đúng hạn, vùng thềm lục địa mở rộng đó có thể thuộc về một nước đã đăng ký đúng hạn, hay có thể được coi là tài sản chung của nhân loại.

Việt Nam đã phê chuẩn Công Ước LHQ về Luật Biển ngày 25.7.1994 cho nên Việt Nam phải đăng ký yêu sách về thềm lục địa mở rộng trước ngày 13.5.2009.

Chúng tôi tin chắc Hà Nội đã chuẩn bị xong các tài liệu luật định đăng ký, nhưng đến nay vẫn chưa đăng ký vì sợ phản ứng không thuận lợi của Trung Quốc khi thềm lục địa mở rộng của Việt Nam xâm phạm ranh giới lưỡi bò do Trung Quốc ấn định. Vỉ thế Việt Nam đang tìm một cơ hội thuận tiện nhất để đăng ký hay đăng ký vào ngày cuối cùng.

6. Liên kết trong ngoài

Trong cuộc hội thảo, có học giả đã đề nghị liên kết người Việt trong và ngoài nước để bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng đây cũng là một vấn đề khó thực hiện được.

Rất nhiều người Việt chống cộng ở hải ngoại không phân biệt giữa đất nước với chế độ đang nắm quyền trên đất nước, và không hiểu rằng đất nước sẽ tồn tại mãi mãi, còn chế độ sẽ bị biến mất qua thời gian. Do đó, họ sẵn sàng dùng tất cả mọi thứ để đập cho chế độ thù nghịch sụp đổ, dù phải mất một phần lãnh thổ. Vụ rầm rộ tố nhà cầm quyền CSVN “dâng đất dâng biển cho Trung Quốc” khi phát hiện công hàm Phạm Văn Đồng là một thí dụ điển hình. Mặc dầu biết tố cáo như vậy là một hình thức mặc thị công nhận Việt Nam đã mất Hoàng Sa và Trường Sa, họ vẫn làm!

Tuy nhiên, rất nhiều trí thức và học giả ở hải ngoại biết họ phải làm gì đê bảo vệ tổ quốc, và họ đã làm hay đang tiếp tục làm. Nhưng họ đã và sẽ hành động với tư cách cá nhân, chứ không nhân danh tập thể người Việt ở hải ngoại.

Chưa có ánh sáng ở cuối đường hầm

Trong khi xẩy ra vụ đụng độ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc tại Biển Đông, ông Phạm Quang Nghị, Bí Thư Thành Uỷ Hà Nội, đã sang thăm Trung Quốc. Sau đó, ông Đới Bỉnh Quốc, Thứ Trưởng Ngoại Giao và Uỷ Viên Quốc Vụ Viện Trung Quốc lại đến thăm Việt Nam. Báo Nhân Dân của Đảng CSVN hôm 17.3.2009 viết rằng ông Giải Khánh Lâm, Uỷ Viên Thường Vụ Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã "bày tỏ vui mừng nhận thấy rằng... quan hệ hữu nghị, hợp tác Trung-Việt đang không ngừng được tăng cường cả về chiều rộng lẫn chiều sâu".

Ngày 20.3.2009. Bộ Ngoại Giao Việt Nam cho hay Việt Nam và Trung Quốc đã đồng ý thiết lập một đường dây nóng giữa các nhà lãnh đạo hai nước và tái khẳng định “cam kết giải quyết tranh chấp trên biển một cách hòa bình”.

Trung Quốc và Việt Nam cũng đã thỏa thuận sẽ phát động “Năm Hữu nghị Trung Quốc - Việt Nam” vào năm 2010 để đánh dấu kỷ niệm 60 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước.

Qua các sự kiện nói trên, một số nhà phân tích cho rằng Hà Nội đang tìm cách giải quyết vấn đề Biển Đông bằng con đường ngoại giao, vì các con đường khác đều bế tắc.

Việt Nam thừa hiểu rằng những phản ứng cứng rắn chẳng những không đem lại kết quả nào mà có khi còn gây thiệt hại cho việc giao thương Việt – Trung. Hôm 10.3.2009, một viên chức tại Phòng Thương Mại và Kinh Tế của Đại Sứ Quán Trung Quốc ở Việt Nam phát biểu rằng Trung Quốc vẫn duy trì vị trí là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong 5 năm liên tiếp.

Năm 2008, tổng kim ngạch thương mại song phương đã đạt 19,46 tỉ USD, tức là tăng 28,8%. Số liệu thống kê của Bộ Thương Mại Trung Quốc cho thấy tính đến tháng 9 năm 2008, Trung Quốc đã đầu tư trực tiếp 540 triệu USD vào Việt Nam.

Tuy nhiên, ngày 20.3.2009 vừa qua, công ty British Petroleum (BP) của Anh, một công ty dầu khí lớn thứ ba trên thế giới, tuyên bố sẽ rút khỏi dự án thăm dò khai thác dầu khí ở lô số 5,2 và 5,3 ngoài khơi Việt Nam. BP là công ty sản xuất khí đốt lớn nhất ở Việt Nam, đã cung cấp 3 tỉ mét khối khí mỗi năm từ Lô 06.1 ở Mỏ Nam Côn Sơn. Lê Dũng, phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Việt Nam giải thích rằng “quyết định này của BP là do các yếu tố thuần túy thương mại và kỹ thuật”. Nhưng các nhà phân tích cho rằng các công ty dầu khí ngoại quốc đã nhận ra rằng việc giải quyết tranh chấp về Biển Đông sẽ khó có giải pháp trong một tương lai gần, nên họ quyết định ngưng khai thác để tránh khỏi những đụng độ phiền phức.

Tháng 7 năm 2008, Bắc Kinh cũng đã yêu cầu công ty Exxon Mobil rút khỏi thỏa thuận hợp tác thăm dò dầu khí với Việt Nam vì cho rằng dự án đó xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc. Tờ Bưu Điện Hoa Nam Buổi Sáng của Hongkong nhận xét: “Nếu đó là vấn đề pháp lý đơn thuần, mọi chuyện sẽ dễ dàng, nhưng sự việc còn mang tính chính trị”.

Điều chắc chắn là hiện nay nhà cầm quyền CSVN sẽ không dựa vào các giải pháp thuần lý hay cảm tính để đương đầu với Trung Quốc, vì cho rằng những giải pháp như thế chỉ làm cho tình hình rối reng thêm. Nhà cầm quyền đang cố gắng tìm một giải pháp qua đường thương lượng. Trong thời gian chờ đợi, phải tránh đụng độ. Nhưng cho đến nay, chúng ta vẫn chưa thấy một ánh sáng nào ở cuối đường hầm.

Lữ Giang
Nguồn: Trang nhà Một góc trời

© Thông Luận 2009

Share/Save/Bookmark
Related Posts with Thumbnails