Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Quang Thiều. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Quang Thiều. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2009

TỔNG THU NHẬP MỘT THÁNG CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN

Nguồn : Lề bên trái

Nguyễn Quang Thiều

-…“Tổng thu nhập một tháng trên một khẩu của chúng tôi là 40.000 đồng”. Bạn có choáng váng khi mỗi tháng, một người trong mỗi gia đình nông dân chỉ có 40.000 đồng để chi tiêu tất cả những gì họ cần không?

Trong một tháng hay trong một năm, những người quản lý nông thôn nói riêng và những người quản lý xã hội nói chung có được bao nhiêu lần đặt câu hỏi cho chính trách nhiệm của họ: “Mỗi tháng, tổng thu nhập của một khẩu trong mỗi gia đình nông dân là bao nhiêu? Và với thu nhập như vậy họ sẽ sống như thế nào? ”Tôi không tin mỗi tháng thậm chí mỗi năm tất cả những người có trách nhiệm nói trên tự đặt câu hỏi này được một lần. Và nếu có ai đặt câu hỏi thì rất ít người trong số họ cũng không tự có câu trả lời được. Có câu trả lời rồi thì có bao nhiêu người sẽ suy nghĩ về hiện thực từ câu trả lời đó mà tìm giải pháp?

Khi tiếp xúc với những người nông dân, tôi thường xuyên hỏi về tổng thu nhập mỗi tháng của một khẩu trong một gia đình họ là bao nhiêu. Dù rằng tôi biết họ đang sống một cuộc sống vô cùng vất vả nhưng tôi vẫn kinh ngạc khi nghe một con số cụ thể: “Tổng thu nhập một tháng trên một khẩu của chúng tôi là 40.000 đồng”. Bạn có choáng váng khi mỗi tháng, một người trong mỗi gia đình nông dân chỉ có 40.000 đồng để chi tiêu tất cả những gì họ cần không?

40.000 đồng có giá trị như thế nào lúc này. Đó là giá của 2 bát phở, giá của 4 lít xăng, giá của hai xuất cơm trưa văn phòng, giá của một cuốc xe ôm trên đoạn đường 10km, giá của hơn một bao thuốc lá 555, giá của 3 ly cà phê…

Tôi biết sẽ có rất nhiều người không thể tin rằng tổng thu nhập hàng tháng của một khẩu trong hầu hết những gia đình nông dân lại chỉ với một con số “kinh hoàng” như thế. Nhưng buồn thay đó lại là sự thật. Nếu có sai số thì cũng chỉ rất nhỏ, khoảng 5%. Nhưng sau này, tôi đã nghe rất nhiều người nông dân phản ứng khi họ biết được số liệu mà tôi thu thập về tổng thu nhập trên một khẩu ở những gia đình nông dân. Với họ, 40.000 đồng là một con số quá lạc quan. Họ nói, quá nhiều nơi, tổng thu nhập tính ra tiền trên một khẩu chỉ khoảng 25.000 đồng đến 30.000 đồng.

Theo khảo sát tạm thời của tôi hiện nay thì mỗi một khẩu ở nông thôn trung bình có 1, 2 sào ruộng để canh tác. Mỗi năm họ cấy hai vụ lúa với sản lượng trung bình là hai tạ.một sào. Mỗi tạ thóc bây giờ có giá là 250.000 đồng. Tuy nhiên giá thóc có thể lên đến 300.000đ.tạ. Nhưng giá thóc chỉ cao trong một thời gian không đáng kể. Đến mùa tới, đương nhiên là giá thóc sẽ cân bằng trở lại. Như vậy, mỗi năm bằng trồng lúa, một khẩu sẽ thu nhập là một triệu đồng. Xen vào hai vụ lúa là một vụ màu (ví dụ là ngô). Sản lượng ngô.1, 2 sào lúc này tính ra tiền xấp xỉ lúa. Như vậy, tổng doanh thu của một người nông dân trong một năm từ lúa và hoa màu trên mảnh ruộng của họ là khoảng 1.300.000 đồng.

Trong khi đó, chi phí cho tất cả các dịch vụ từ cày cấy, giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thu hoạch, chế biến… chiếm ít nhất 60% tổng doanh thu. Thực thu còn lại của một người nông dân từ việc canh tác trên mảnh ruộng của họ mỗi năm là khoảng 500.000 đồng. Nếu chia ra 12 tháng thì mỗi người nông dân chỉ có khoảng 40.000 đồng cho toàn bộ chi tiêu trong một tháng. Tất nhiên, ngoài nguồn thu nhập từ canh tác trên mảnh ruộng của mình thì người nông dân phải tìm những nguồn thu nhập phụ khác như chăn nuôi, làm nghề phụ, làm thuê trong thời gian giáp hạt v.v… Nhưng những thu nhập phụ này không phải là nguồn thu nhập ổn định và cũng không đáng bao nhiêu. Chăn nuôi của hầu hết các gia đình nông dân cũng chỉ để cải thiện thêm đời sống của họ. Còn nghề phụ của hầu hết các làng nghề truyền thống đã và đang dần dần teo lại vì tính hiệu quả quá thấp.

Số ruộng tính trên một đầu người mà tôi đưa ra ở trên là một con số hơi lạc quan. Thực tế có những gia đình nông dân tính đầu người không quá một nửa sào ruộng và có nơi còn ít hơn thế. Vì tất cả những người sinh sau năm 1993 không còn được chia ruộng nữa. Vì vậy, một gia đình có 2 vợ chồng trẻ và 3 đứa con, tổng cộng là 5 người chỉ có 2,5 sào. Số gia đình như vậy ở nông thôn càng ngày càng nhiều. Nhiều người nói ruộng canh tác của nông dân càng ngày càng ít đi. Thực tế không hẳn là như thế. Nhưng vì dân số càng ngày càng tăng nên tất yếu số ruộng tính trên một đầu người càng ngày càng ít. Hơn thế, các khu công nghiệp, các khu đô thị mới, các khu vui chơi giải trí như sân gofl… càng ngày càng mở rộng và càng nuốt chửng hàng trăm, hàng ngàn và rồi sẽ đến hàng triệu hecta ruộng của những người nông dân.

Với hiện trạng như vậy, số phận người nông dân và con cháu của họ sẽ ra sao. Đất nước đã và đang phát triển. Đó là sự thật không ai có thể phủ nhận được. Nhưng sự phát triển này đang ngày càng mất cân bằng. Nếu chúng ta dựng đồ thị sự phát triển của những đô thị và các vùng nông thôn chúng ta sẽ thấy sự chệnh lệch giữa nông thôn và thành thị mỗi ngày một cao. Sự phân cấp giàu nghèo giữa những người nông dân và các thị dân càng ngày càng làm cho những người nông dân tủi nhục và cay đắng. Một thị dân chi tiêu một ngày đã gấp ba, gấp bốn tổng chi phí một tháng của một người nông dân. Đấy là sự so sánh giữa một thị dân ngèo với một người nông dân chứ chưa phải so sánh với một thị dân thu nhập cao.

Cách đây khoảng 7 năm, tôi có làm việc với huyện Mai Châu, Hòa Bình và được biết: số tiền mà Nguyễn Văn Mười Hai vay ngân hàng Nhà nước và đã làm thất thoát bằng tổng thu nhập trong 80 năm của huyện Mai Châu. Ngày nay, việc làm thất thoát tài sản của nhân dân còn lớn hơn nhiều lần Nguyễn Văn Mười Hai trước kia. Trong khi đó, thu nhập của người nông dân vẫn chẳng cải thiện được bao nhiêu.

Việc phân cấp giàu ngèo là vấn đề đương nhiên của mọi xã hội phát triển. Nhưng việc quên lãng những vùng nông thôn là việc không được phép. Không được phép về mặt lương tâm và không được phép trong chiến lược phát triển một đất nước. Những cuộc vận động “lá lành đùm lá rách” chỉ là một lối hành xử văn hóa chứ không phải là một chính sách, một chiến lược đối với nông dân.

Chính vì với một thu nhập “kinh hoàng ” như thế mà tương lai của các thế hệ trẻ ở nông thôn Việt Nam là một tương lai bất ổn. Nếu chúng ta quan sát một cách nghiêm túc, chúng ta sẽ thấy những thiếu nữ từ các vùng nông thôn đi như trảy hội về thành phố làm những nghề “mập mờ” và bán dâm. Việc dấn thân đi làm dâu ở Hàn Quốc, Đài Loan v.v… là một bi kịch. Tất cả chỉ vì họ cố tìm cách thoát ra khỏi cuộc sống quá ngèo đói và không nhìn thấy hy vọng của họ và gia đình họ.

Sự thật là họ không làm thế nào để cải thiện được cuộc sống của họ. Họ chỉ có từng ấy đất đai, chỉ có từng đó mùa vụ, chỉ có từng đó sản lượng, chỉ có từng đó phương tiện lao động, chỉ có từng đó tư duy canh tác… thì chỉ có từng đó thu nhập. Chúng ta phải thừa nhận là chúng ta không quan tâm đến họ một cách thiết thực và nói thẳng ra là chúng ta đã từng bỏ rơi họ. Mấy gói mỳ tôm ném xuống làng họ khi họ bị bão lũ đâu phải là một chính sách hay là một chiến lược. Có thể có một doanh nhân nào đó sẽ khó chịu, nói: Nông dân, hãy làm đi, đừng kêu than. Tôi xin hỏi: giữa một doanh nhân được mua hàng trăm, hàng ngàn hecta đất ruộng của những người nông dân với giá vài trăm ngàn hay vài triệu đồng.mét vuông để ngay sau đó bán lại một mét vuông đất đó trên sơ đồ quy hoạch với giá là hàng chục triệu đồng thậm chí hơn thế thì ai là người được “quan tâm” và ai là kẻ bị bỏ rơi? Hãy trả lời đi các quý vị!

Vì bài báo không thể dài hơn, bởi thế tôi không thể kê khai những gì mà những người nông dân phải chi tiêu một cách cụ thể hàng ngày, hàng tháng với mức tổng thu nhập trung bình chỉ là 40.000 đồng. Tất cả những ai không là nông dân hãy thử hình dung xem với 40.000 đồng để chi tiêu trong một tháng thì chúng ta sẽ phải làm như thế nào? Và sau khi tính toán kỹ lưỡng bằng mọi cách thì chúng ta sẽ tự hiểu những người nông dân hiện nay đang sống như thế nào?

Nguyễn Quang Thiều


Share/Save/Bookmark

Số phận những người đàn bà thôn quê

Nguồn : Lề bên trái

Số phận những người đàn bà thôn quê

...Họ (những người đàn bà thôn quê) sống như ở một thế giới khác và một thời khác thời chúng ta đang sống. Họ chỉ biết đến trâu bò, lợn gà, phân gio, bùn đất, cấy hái, con cái và muôn vàn nỗi lo khác. Và điều đau lòng mà tôi biết, họ không mấy khi có được một giấc mơ đẹp. Bởi hình như họ chẳng có một ngày thanh thản để một giấc mơ đẹp có thể bay về và trú ngụ trong tâm hồn họ...


Trong tập thơ "Sự mất ngủ của lửa" của tôi (Giải thưởng Hội Nhà văn 1993) có một bài thơ viết về những người đàn bà thôn quê. Bài thơ đó như sau:

Trên đại lộ

Những người đàn bà vác dậm đi thành một hàng dọc về phía bên phải

sát mép đại lộ
Người họ bọc kín bởi những lớp vải nâu và đen
Chỉ đôi tay, đôi chân và đôi mắt lộ ra
Nhưng tất cả cùng một màu như thế
Những chiếc dậm trên vai họ như vầng trăng khuyết vớt từ bùn lên
Những cái giỏ bên hông như những cái đầu trọc lắc lư theo nhịp bước
Bóng họ đổ xuống đường thành những vũng đen

Họ lặng lẽ đi như đội quân thất trận
Cán dậm chúi xuống mặt đường - Những nòng súng gỗ hết đạn
Những tấm áo rách sặc mùi bùn phơi trong lòng dậm như cờ ngày việc làng giã đám
Vảy cá bám trên áo họ lấp lánh những tấm huân chương
Họ chẳng cần tung hô, cũng chẳng đợi đón chào

Như mây trước cơn giông trôi nặng nề, oi bức
Những người đàn bà vác dậm đi thành một hàng dọc về phía bên phải sát mép đại lộ
Họ đến từ đâu và sẽ đi đâu?
Với mùi tanh cua ốc tỏa quanh người.

Tôi đã viết bài thơ này 17 năm về trước. Nhưng cho đến bây giờ, những hình ảnh trong bài thơ về những người đàn bà thôn quê lam lũ và u buồn hình như vẫn chẳng thay đổi bao nhiêu. Trên những con đường và trên những cánh đồng thôn quê, chúng ta vẫn nhìn thấy hiện thực ấy. Và bây giờ trong chính những đô thị thi thoảng chúng ta nhìn thấy họ đi qua khi chúng ta ngồi trong tiệm cà phê, quán ăn… Họ đi qua và bị lộ ra trước mắt chúng ta không thể nào che giấu được. Đại lộ trong bài thơ là hình ảnh của đô thị hóa. Đô thị hóa làm những ai đó thay đổi đời sống của mình, nhưng những người đàn bà thôn quê vẫn đang đi bên lề của sự đổi thay ấy. Họ đi như một sự cam chịu. Họ đi và không hề than thở. Họ thực sự là một đội quân thất trận trên cánh đồng của mình.

Đã có không ít họ và con cháu họ đã phải rời bỏ cánh đồng và quê hương mình để ra thành phố. Họ làm tất cả những gì có thể làm để bảo tồn sự sống của thân xác họ. Họ làm ôsin, họ làm bồi bàn, họ bán hàng rong và họ bán cả thân xác và tâm hồn họ… Nhìn vào mâm cơm của họ, nhìn vào giường ngủ của họ, nhìn vào gương mặt của họ… tôi luôn luôn mang cảm giác rằng họ không bao giờ có một giấc mơ đẹp sinh ra từ đời sống của mình.

Hàng tuần tôi vẫn trở về làng mình và lúc nào tôi cũng bàng hoàng bởi sự đổi thay nhan sắc của những thiếu nữ thôn quê. Tóc họ vừa mới dài đấy, má họ vừa mới hồng đấy, mắt họ vừa mới lấp lánh đấy, lưng họ vừa mới thon thả đấy… nhưng chỉ như một cái chớp mắt tôi đã không còn nhận ra họ nữa. Họ nhanh chóng trở nên già nua và xấu xí như bị một mụ phù thủy hóa phép. Khi tôi cất tiếng chào họ trên đường làng thì không ít người cúi mặt đáp lại lí nhí và vội vã bước đi.

Những người đàn ông quá mệt mỏi và thất vọng về sự cố gắng đổi thay đời sống của gia đình họ trên mảnh ruộng của mình, họ đã lao vào rượu chè và sự dữ dằn. Thế là bạo lực gia đình chẳng bớt đi mà mỗi ngày như một tăng lên. Tất cả sự thất vọng và cực nhọc được trút xuống những người đàn bà thôn quê. Chúng ta từng được biết qua các phương tiện thông tin đại chúng về những người đàn bà thôn quê bị bạo hành như thế nào. Nhưng đấy chỉ là những trường hợp chúng ta biết. Còn hầu hết, 99%, những người đàn bà thôn quê bị bạo hành đã cam chịu và không bao giờ nói cho chúng ta nghe. Bởi nếu họ cất tiếng thì tình trạng của họ cũng không cải thiện được gì mà những cơn phẫn nộ hung bạo lại càng gia tăng.

Chúng ta cũng đã từng đọc trên báo chí tâm sự của những thôn nữ đi bán mình. Họ bán mình một hai năm để có chút vốn trở về quê lấy chồng và lập nghiệp. Những chuyện như thế trước kia cũng có nhưng không phổ biến và không được coi là “chuyện thường tình” như bây giờ nữa. Trước kia, cả xã hội cùng nghèo. Nhưng bây giờ, sự phân hóa xã hội càng ngày càng có một vực sâu ở giữa mà những người đứng phía bờ của đói nghèo không bao giờ dám tin có ngày họ sẽ vượt qua.

Tổ tiên họ đã trồng lúa, ông bà họ đã trồng lúa, rồi cha mẹ họ và đến họ cũng vẫn trồng lúa. Trồng lúa chỉ duy nhất giúp họ không chết đói chứ không bao giờ giàu lên được. Những người đàn bà thôn quê đời này nối đời kia trồng cấy không ngơi nghỉ nhưng tôi cam đoan hầu hết gia đình họ không có nổi vài triệu tiền mặt trong nhà. Nhưng chỉ một người có tên là doanh nhân đến và mua hàng chục, hàng trăm, hàng ngàn hecta đất cấy trồng của họ để lập dự án xây chung cư và bán cho những người giàu có thì lập tức họ có trong tay hàng trăm, hàng nghìn tỷ. Đấy là sự thật đang diễn ra hàng ngày mà chúng ta ai cũng biết.

*

Như hình ảnh trong bài thơ của tôi, họ vẫn đi sát mép đại lộ như một sự chấp hành tội nghiệp và không than thở. Những người đàn bà ở rất nhiều vùng thôn quê sống như một tù nhân trong chính ngôi nhà của họ. Họ bị bắt sinh đẻ hết đứa con này đến đứa con khác. Có những người đàn bà thôn quê làm cho tôi nghĩ lúc nào họ cũng có thai. Họ phải lao động nhiều hơn những người đàn ông. Họ không còn biết đến điều gì thuộc về đời sống tinh thần. Họ không có báo, có sách để đọc, họ không biết đến mỹ phẩm, họ không biết đến cả một bát phở tồi bán ở thị trấn, họ làm sao biết đến những từ như sinh tố, kem caramen, cà phê nâu, sữa chua… Họ càng không biết đến nhà hàng hay tiệm làm tóc…

Họ sống như ở một thế giới khác và một thời khác thời chúng ta đang sống. Họ chỉ biết đến trâu bò, lợn gà, phân gio, bùn đất, cấy hái, con cái và muôn vàn nỗi lo khác. Và điều đau lòng mà tôi biết họ không mấy khi có được một giấc mơ đẹp. Bởi hình như họ chẳng có một ngày thanh thản để một giấc mơ đẹp có thể bay về và trú ngụ trong tâm hồn họ. Trong suốt những năm chiến tranh, họ sống âm thầm với bao giáo lý về đức hạnh để chờ chồng. Ngay cả khi người chồng đã hy sinh, họ cũng không dám đi bước nữa bởi bao ràng buộc và thói thị phi.

Nhiều năm nay, tôi đã cố gắng làm những gì có thể cho đời sống văn hóa của làng tôi. Bởi tôi chỉ mong muốn tôi và bạn bè mình có thể mang đến cho họ một khoảnh khắc hạnh phúc để tạm quên đi những cực nhọc và u buồn đằng đẵng bám theo cả cuộc đời họ. Hai câu thơ cuối cùng tôi viết: Họ đến từ đâu và sẽ đi đâu? Với mùi tanh cua ốc tỏa quanh người. Tôi đang nói về họ chứ không phải nói về những câu thơ của mình. Cũng 17 năm về trước, tôi đã gặp những người đàn bà thôn quê đi buôn cá khô, nước mắm, cua ốc trên những chuyến xe khách. Từ áo quần, tóc tai họ tỏa ra mùi cá khô và mùi gà vịt. Họ nghẹo đầu ngủ trên xe và có người miệng chảy dãi. Và tôi đã viết Giấc mơ như thế nào trong giấc ngủ thế kia? Đó không phải là một câu thơ. Đó là một câu hỏi như một tiếng nấc khổ đau.

Cuộc sống của con người đâu chỉ sinh ra, lớn lên, kiếm từng miếng ăn để nhét đầy dạ dày mà phải được khai mở tâm hồn và trí tuệ. Nhưng những người nông dân nói chung và những người đàn bà thôn quê nói riêng đã sống một cuộc sống hầu như không có sự khai mở ấy. Những điều tôi đang viết đây có thể ai đó cho rằng tôi đang cố tình bi kịch hóa đời sống của những người đàn bà thôn quê. Nhưng đó là sự thật, và nói chính xác hơn đó chỉ là một phần của sự thật. Hãy đến với họ và sống với họ, chúng ta sẽ phải kinh ngạc kêu lên: Chẳng lẽ con người sinh ra để sống như thế ư? Và làm cách nào mà họ có thể sống được một cuộc sống như thế khi quanh họ tất cả đã và đang thay đổi?

Nguyễn Quang Thiều


Share/Save/Bookmark
Related Posts with Thumbnails