Hiển thị các bài đăng có nhãn Trương Nhân Tuấn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trương Nhân Tuấn. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2009

Chủ quyền VN tại Tu Chính - Vũng Mây và vũng Nam Côn Sơn (Trương Nhân Tuấn)


Nguồn : e-ThongLuan

“...Sự thật là sự thật, nhưng học giả VN, một số chỉ muốn tự sướng, giải thích cho nhau nghe rằng công hàm này không hề có giá trị về pháp lý. Ai nói khác thì kẻ đó làm lợi cho Tàu, nếu không phản động thì cũng là chống cộng cực đoan...”

Sự việc hai hãng khai thác dầu Exxon-Mobil (Hoa Kỳ) và BP (Anh) lần lượt rút khỏi VN là một gáo nước lạnh, một cái tát rát mặt cho phía Việt Nam, nhưng cũng là một dịp may để các học giả VN xét lại các dữ kiện cơ bản mà phía VN dựa lên đó chứng minh chủ quyền của mình tại vùng trũng nam Côn Sơn và bãi Tu Chính – Vũng Mây (TC-VM). May vì còn thời giờ để thảo luận lại nghiêm túc. Đồng thời cũng là dịp để phía VN đặt lại toàn bộ lý lẽ của mình về chủ quyền HS&TS và hải phận biển Đông cách nào cho hợp lý.

Bản đồ vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn (Nam Con Son Basin). Vạch chấm đen là “đường lưỡi bò” của Trung Quốc trên Biển Đông


Các lô của BP khai thác là 5.2 và 5.3, nằm giữa quần đảo Trường Sa với bờ biển VN. Hai mỏ được phát hiện các nơi đây năm 1996 là Hải Thạch và Mộc Tinh. Việc thăm dò tạm ngừng từ tháng 6 năm 2007, BP giải thích vì vùng khai thác đang có tranh chấp giữa VN và TQ. Phía BP nói rằng việc tạm ngưng là : « để cho các nước liên quan có cơ hội giải quyết vấn đề ». Tuần qua, ngày 19-3-2009, PB thông báo chính thức rút lui, hủy bỏ hợp đồng khai thác với VN. Trước đó, tháng 9 năm 2008, Exxon-mobil cũng rút lui sau khi đã có những thỏa thuận với VN sau chuyến Mỹ du của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tháng 5 năm 2008.

Một ngày sau khi BP tuyên bố rút lui, ông Lê Dũng, phát ngôn bộ Ngoại giao Việt Nam nói rằng: «Điều tôi có thể khẳng định là những lô này nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam».

Ông Dũng nói thế, người VN nào cũng nghĩ như thế, vùng biển đó là của VN không ai có thể chối cãi. Nhưng đối với người ngoài, các nước trên thế giới họ nghĩ gì ? Thái độ rút lui của BP (Anh) rõ ràng là do việc tranh chấp ; của Exxon-Mobil (Hoa Kỳ) lại càng rõ rệt hơn, vì lô khai thác của tập đoàn này nằm trong vùng TC-VM, xa bờ biển VN hơn cả hai lô 5.2và 5.3 do BP trúng thầu khai thác. Việc này bắt buộc mọi người VN phải suy nghĩ lại.

Về địa lý, các lô 5.2 và 5.3 nằm cách đảo Côn Sơn khoảng 200km, cách đảo Đá Lát (thuộc Trường Sa) khoảng 200km và cách bờ biển Vũng Tàu khoảng 350km. Các con số ghi nhận không chính xác, lấy từ việc đo đạc ước lượng trên bản đồ, chỉ có ý nghĩa tượng trưng. Hai lô 5.2 và 5.3 nằm trong đường giới hạn ZEE 200 hải lý của VN, đường này trên bản đồ là đường xanh đậm. Để ý, đường giới hạn vùng ZEE của VN không ăn khớp với đường bờ biển VN. Ở khoảng các tỉnh miền Trung thì đường này cách bờ đúng 200 hải lý, phù hợp với qui định của luật quốc tế về biển 1982, nhưng ở vùng các tỉnh miền Nam thì đường này phình lớn ra, nơi lớn nhất đo khoảng 270 hải lý. Việc bất thường này có hai giải thích : 1/do hiệu quả của đường cơ bản của bờ biển VN, 2/ do hiệu quả của đảo hòn Hải (thuộc nhóm đảo Phú Quí). Nhưng hòn Hải lại là điểm A6 của hệ thống đường cơ bản, do đó tuy có hai cách giải thích khác nhau nhưng hiệu quả thì như nhau.

Vùng TC-VM là hình đa giác vẽ bằng màu tím trên bản đồ. Vùng này có hai lô 133 và 134 tô màu vàng. Xét trên bản đồ thì vùng TC-VM một phần nằm ngoài đường ZEE của VN, rất gần các đảo Trường Sa nếu so với bờ biển VN.

Phía TQ cho rằng các lô trên có chồng lấn với hải phận (và thềm lục địa) của TQ, vì thế phía VN không thể đơn phương khai thác. Hai tập đoàn BP và Exxon-Mobil, BP đang khai thác ở hai lô 5.2 và 5.3, Exxon-Mobil dự định khai thác các lô thuộc TC-VM, đều rút lui. Lý lẽ nào của phía TQ đã khiến cho BP và Exxon-Mobil rút lui? Phía bên VN cố gắng giải thích việc rút lui là do lý do kinh tế, khai thác không có lợi, nhưng không hề thuyết phục. Hai lý lẽ thuyết phục nhất có lẽ là: 1/ sức ép của TQ, 2/ các bằng chứng thuyết phục về chủ quyền của TQ.

Về sức ép của TQ, điều này đúng, vì TQ hiện nay là đầu tàu của sự phát triển kinh tế thế giới, là chủ nợ của HK. Mặt khác, Anh Quốc có rất nhiều quyền lợi tại TQ do đó BP nhượng bộ yêu sách của TQ cũng hợp lý. Nhưng khi nói TQ có chủ quyền ở các vùng này, trên quan điểm VN thì không có gì phi lý và ngang ngược hơn. Nhưng thái độ của BP và Exxon-Mobil, dầu sao cũng là các tập đoàn khai thác dầu khí lớn nhất nhì thế giới của Anh và Hoa Kỳ, họ chỉ nhưọng bộ nếu các lý lẽ phía TQ là hợp lý.

Đây là hậu quả của một sự sơ suất to lớn, phía VN dường như không hề màng đến các lý lẽ của TQ, sai lầm kéo dài từ năm 1958 đến nay.

Sai lầm vì, các viên chức VN lạc quan đã đành, học giả VN cũng vậy, nhưng thật ra phần lớn đều thiếu tầm nhìn, chỉ giải thích vấn đề theo cảm tính, theo ý muốn của mình mà bất chấp thực tế đã xảy ra như thế nào. Đến hôm nay một số học giả VN vẫn loay hoay với hỏa mù của TQ tung ra, mất thời giờ tìm hiểu và giải thích ý nghĩa tấm bản đồ chữ U, còn gọi là bản đồ 9 gạch hay bản đồ «lưỡi bò», mà không biết rằng đó chỉ diện, là hỏa mù có công dụng đánh lạc hướng VN (và cả thế giới), làm cho phía VN nếu không mất thì giờ thì cũng trở thành khinh địch.

Việc loay hoay này thấy rõ qua buổi «hội thảo biển Đông» vừa qua trong nước. Có người mất không biết bao nhiêu thời gian để tìm hiểu và chứng minh «biển lười bò» không thể là biển lịch sử của TQ v.v. Nhưng các việc đó đều vô ích.

Cả buổi hội thảo, đã không nói lên việc gì mới (ngoài việc tổ chức là mới). Mọi người chỉ nói cho nhau nghe những cái mà mọi người đều biết. Những cái mới, như hồ sơ của TQ ra sao, lý lẽ họ thế nào, việc phản biện của họ có căn cứ gì hay không, thì không nghe nói tới, từ mặt lịch sử cho đến mặt pháp lý, mặc dầu tài liệu của TQ nhiều gấp trăm lần tài liệu của phía VN. Rõ ràng như ban ngày, TQ làm gì có chủ quyền ở HS và TS, nhưng họ có cả trăm đầu sách, tài liệu, một mặt bắt bẻ, phản biện các lý lẽ của VN, mặt khác chứng minh chủ quyền của TQ tại các nơi này. Phía VN, nếu không nói quá, thì là tay trắng. Học giả VN đang tự mãn dưới đáy giếng hay đang là con ngựa thồ bị bịt cả hai mắt? Một hai người hiếm hoi có thể đem lại cái mới cho hội thảo, như nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân, thì không thấy có mặt. Có lẽ là do phía nhà nước mà thôi. Những học giả như ông Nguyễn Quang Ngọc đã có bài tham luận rất giá trị, đã đi đúng phương hướng, nhưng lại bị giới hạn vì những vật cản chung quanh. Nhà nước có nói với ông Ngọc thế này: «phía học giả VN đang làm khó nhà nước trong việc hoạch định chính sách». Thì ra nhà nước muốn học giả VN viết theo định hướng của chính sách nhà nước, tức viết theo lối vuốt đuôi, trong khi các nước khác, chính sách của nhà nước được đặt trên các nghiên cứu của các nhà khoa học. Ai mà không bất mãn?

Trở lại vấn đề là ngày hôm nay, trên hầu hết các Atlas nước ngoài đều ghi nhận công hàm năm 1958 của ông Phạm Văn Đồng đã công nhận HS và TS thuộc chủ quyền của Tàu. Điển hình, cuốn Atlas Des Atlas tháng 9 năm 2008 của Courrier International, một cơ sở truyền thông uy tín hàng đầu thế giới, đã ghi ở trang 91 như thế.

Sự thật là sự thật, nhưng học giả VN, một số chỉ muốn tự sướng, giải thích cho nhau nghe rằng công hàm này không hề có giá trị về pháp lý. Ai nói khác thì kẻ đó làm lợi cho Tàu, nếu không phản động thì cũng là chống cộng cực đoan. Nhưng không có ai đủ khả năng giải thích được cho dư luận nước ngoài là công hàm này không có giá trị. Phải cay đắng mà kết luận rằng những học giả này vừa kém về phẩm vừa kém về tinh thần học thuật.
Như thế, trước dư luận quốc tế, HS và TS đã là của TQ. Các học giả VN (có thể) không biết, và cũng (có thể) không muốn biết, phía TQ đã đưa các tài liệu gì để vừa thuyết phục vừa đe dọa BP và Exxon-Mobil?

Về pháp lý cũng vậy, một số các học giả, những nhà nghiên cứu VN cũng chỉ nghiên cứu theo lối uống thuốc an thần, chỉ giải thích luật lệ theo ý muốn của mình. Việc giải thích bộ luật Quốc Tế về Biển 1982 là một điển hình.

Mọi người đều biết bộ luật này còn rất nhiều điểm chưa hoàn chỉnh. Ở một số điều người ta có thể giải thích theo nhiều cách khác nhau mà cách nào cũng đúng. Trường hợp tranh cãi giữa TQ và HK về chiếc tàu Impeccable là một thí dụ. Đây là một trong nhiều kẽ hở của Luật Biển 1982. Vậy mà một số học giả VN chỉ giải thích luật này theo lối có lợi cho mình, không cần nghiên cứu xem đối thủ của mình giải thích ra sao! Biết địch biết ta mới hy vọng thắng. Biết ta không cần biết địch, mà biết ta cũng rất lơ mơ, thua là cái chắc.

Các bài viết của ông Dương Danh Huy đã đăng rộng rãi trên các kênh truyền thông lớn trong nước và hải ngoại gần đây về hải phận biển Đông và chủ quyền HS&TS là thí dụ điển hình cho lối làm việc đó.

Ông này viết về chủ quyền của VN tại TC-VM như sau: «Thật ra, theo luật quốc tế, giả sử như Hoàng Sa và Trường Sa có thuộc về Trung Quốc một cách hợp pháp đi nữa, thì vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn nằm ở phía bắc ranh giới với Indonesia vẫn thuộc về Việt Nam» … «Trong việc vạch ranh giới, tập quán luật quốc tế và ngoại giao không tính những đảo nhỏ, xa bờ, tự thân không có các điều kiện cho sự cư trú của con người và đời sống kinh tế riêng, như các đảo trong hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa để tránh việc những đảo này ảnh hưởng không công bằng tới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Nguyên tắc này được Toà án Công lý Quốc Tế tuyên bố từ năm 1969 trong phiên toà chia thềm lục địa Bắc Hải và được khẳng định trong Điều 121, Khoản 3 của UNCLOS. Từ năm 1969 tới nay, Toà án Công lý Quốc Tế luôn luôn tôn trọng nguyên tắc này, thí dụ như trong những phiên toà Lybia/Malta, Vịnh Maine, Guniea/Guniea-Bisseau...» [1]

Tác giả viết rằng «giả sử như Hoàng Sa và Trường Sa có thuộc về Trung Quốc một cách hợp pháp đi nữa» thì ảnh hưởng các đảo này không ăn thua gì hết, TC-VM vẫn là của VN. Tác giả giải thích luật biển 1982 trên tinh thần chủ quan và đưa ra những bằng chứng là các phiên toà và các án lệ quốc tế như đã dẫn trên.

Nhưng các bằng chứng này không đúng với sự thật. Thí dụ, việc phân định hải phận và thềm lục địa giữa Lybia và Malta, tại đây việc phân định đặt trên tinh thần đồng đẳng theo đường trung tuyến chứ không có việc «không tính các đảo nhỏ xa bờ» như ông Huy đã nói. Về Vịnh Maine là một vịnh nhỏ của USA và Canada, không hề quan hệ và không thể so sánh với các đảo HS và TS. Việc phân định giữa Guniea và Guniea-Bisseau cũng thế, không thể so sánh với các đảo HS và TS. HS&TS là những quần đảo, quan trọng của nó là vùng nước giữa đảo này với đảo kia.

Tác giả Dương Danh Huy đưa chứng từ sai – một lỗi học thuật rất nặng - để chứng minh một lập trường không có lợi cho VN, thuyết phục VN chấp nhận lập trường đó, là có dụng ý gì nếu không phải là muốn VN bỏ HS và TS cho TQ vì nó không có giá trị?

Bản đồ hình lưỡi bò…


Hiện nay ai có thể có những bài viết, tài liệu dồi dào mà các nhà nghiên cứu khác không thể có, được ưu tiên đăng ở các kênh truyền thông nhà nước, nếu không phải là người của chính quyền? Tôi cho rằng các bài viết của tác giả này phản ảnh lập trường của nhà nước VN, viết theo định hướng của chính sách nhà nước, trong vấn đề HS&TS và hải phận của VN tại biển Đông. Những bài viết này có tác dụng chuẩn bị dư luận. Nguy cơ nhà nước CSVN muốn bỏ HS&TS cho TQ là có thật. Trở lại lời thì thầm của nhà nước cho ông Nguyễn Quang Ngọc: «học giả VN đang làm khó nhà nước trong việc dựng chính sách». «Chính sách» của nhà nước ẩn hiện quan các bài biết này đấy! Học giả VN bỏ công nghiên cứu làm chi nữa, mọi việc đã an bài!

Về phía TQ thì giảng giải luật theo ý của họ (và tập quán quốc tế).

Qui chế về đảo theo điều thứ 121 của luật Quốc Tế về Biển 10 tháng 12 năm 1982 như sau:

1. Une île est une étendue naturelle de terre entourée d'eau qui reste découverte à marée haute.

2. Sous réserve du paragraphe 3, la mer territoriale, la zone contiguë, la zone économique exclusive et le plateau continental d'une île sont délimités conformément aux dispositions de la Convention applicables aux autres territoires terrestres.

3. Les rochers qui ne se prêtent pas à l'habitation humaine ou à une vie économique propre, n'ont pas de zone économique exclusive ni de plateau continental.

(1/ Ðảo là một dải đất tự nhiên, có nước bao bọc chung quanh và không bị nước phủ lúc thủy triều lên.

2/ Một đảo có lãnh hải (lãnh địa hải phận), vùng tiếp cận, vùng kinh tế độc quyền và thêm lục địa riêng, ngoại trừ điều kiện ghi dưới phần 3.

3/ Những bãi đá (cồn đá) mà người ta không thể sinh sống, hoặc tạo một nền kinh tế tự tại thì không có vùng kinh tế độc quyền cũng như không có thềm lục địa).

Với định nghĩa như thế mọi người có thể suy diễn theo ý của mình về thế nào là đảo. Một kiến nghị đưa lên LHQ nhằm phân biệt đảo, nội dung như sau:

- Đá (rocks) có diện tích nhỏ hơn 0,001 hải lý vuông
- Đảo nhỏ (islets) có diện tích 0,001 - 1 hải lý vuông
- Đảo vừa (isles) có diện tích 1 - 1.000 hải lý vuông
- Đảo lớn (islands) có diện tích trên 1.000 hải lý vuông

Như thế đảo là những thứ nhô lên mặt biển có diện tích khoảng trên 1km².

Nhưng cũng có nhiều trường hợp ngoại lệ. Một thí dụ : Năm 1955, Nữ hoàng Anh đã ra lệnh cho Hải quân cắm cờ, dựng bia chủ quyền trên Rock All rộng 3 m vuông, cao 21 m, để tuyên bố vùng đặc quyền về kinh tế xung quanh Rock All là 200 hải lý. Mặc dầu hiện nay Anh đã rút lại đòi hỏi về hải phận ZEE nhưng về thềm lục địa họ vẫn giữ nguyên tuyên bố 200 hải lý quyền khai thác.

Các đảo TS, hầu hết đều lớn hơn đảo Rock All, có đảo có nước ngọt và cây cối, hơn nữa đây là một « quần đảo », tọa lạc trên một vùng biển có diện tích rất lớn, chiều Bắc Nam dài hơn 500 Km, chiều Ðông Tây dài hơn 1.000 km, chiếm khoảng 160.000 km2, ước nào có chủ quyền ở đây (và HS) đương nhiên chiếm lĩnh cả biển Đông, vì biển giữa quần đảo được xem gần như là nội hải. Theo luật biển 1982: Quốc gia quần đảo có chủ quyền với vùng nước, vùng trời và vùng đáy và lòng đất tương ứng cũng như tài nguyên ở đó.

Kết quả hôm nay BP rút lui, Exxon-Mobil bỏ cuộc, trong khi dư luận quốc tế đứng về phía TQ. Các bản đồ Atlas trên thế giới hiện nay hầu hết đều cho là HS&TS là của TQ, đặc biệt có ghi chú công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng công nhận TS&HS thuộc TQ.

Thái độ rút lui của BP và Exxon-Mobil càng làm cho tư thế của TQ thêm vững tại biển Đông. Điều dễ hiểu, nếu TQ có chủ quyền ở TS thì họ có quyền lên tiếng phản đối và đe dọa, nếu cần họ sử dụng vũ lực mà không ai có thể can thiệp, nếu VN khai thác tại các lô 5.2 và 5.3 hay vũng Nam Côn Sơn và bãi TC-VM, là các vùng có chồng lấn ZEE của các đảo TS.

Đảo Trường Sa của VN, nằm gần bãi Tu Chính – Vũng Mây hội đủ các điều kiện về đảo để có vùng ZEE và thềm lục địa. Nếu đảo này thuộc TQ, đương nhiên VN phải phân định hải phận với TQ để chia vùng biển này.

Lý lẽ của TQ hiện nay là như thế mà họ không nói ra. TQ úp úp, mở mở trong bản đồ chữ U, các học giả VN lần mò đi theo giải mã, đi lý giải luật biển theo lối tự sướng, thật là một việc mất thì giờ.

Sự việc sẽ đơn giản nếu ta chịu khó giải thích Luật Biển theo lối TQ và theo tập quán quốc tế.

Vấn đề chủ quyền của VN ở TC-VM vì thế tùy thuộc vào ai là chủ quyền của các đảo TS. Nói như ông Dương Danh Huy «Thật ra, theo luật quốc tế, giả sử như Hoàng Sa và Trường Sa có thuộc về Trung Quốc một cách hợp pháp đi nữa, thì vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn nằm ở phía bắc ranh giới với Indonesia vẫn thuộc về Việt Nam» là nói theo lối uống thuốc an thần, là vừa dọn sân để nhà nước làm bàn thờ «cống» TS cho TQ, vừa để mất bãi Tu Chính – Vũng Mây.

Tóm lại, VN muốn có chủ quyền vùng trũng Nam Côn Sơn và bãi Tu Chính - Vũng Mây thì VN phải khẳng định chủ quyền của mình tại TS. Không cách nào khác hơn được vì VN đã có bằng chứng không thể chối cãi về chủ quyền của mình ở HS và TS.

Nhưng TQ cũng có bằng chứng không thể chối cãi là công hàm của ông Đồng công nhận hai quần đảo này là của TQ. Các học giả VN nói cho nhau nghe là công hàm này không có giá trị pháp lý nhưng quốc tế đâu có nghe như vậy!

Trở lại bài viết của tôi mới đây về «ý nghĩa pháp lý của công hàm ông Phạm Văn Đồng», tôi đã thấy sự việc từ lâu, trước dư luận thế giới công hàm ông Đồng có giá trị về pháp lý (hay tuyên truyền), dư luận hiểu và nhìn nhận HS&TS là của TQ. Mặc dầu không muốn nói nhưng cuối cùng tôi phải nói. Vì quyền lợi của dân tộc VN mà tôi nói, không thể để trễ hơn. Tôi nói để các học giả VN thận trọng, qua những dấu hiệu vừa thấy, nhà nước VN sắp buông tay tại HS và TS.

Thời hạn chót nộp hồ sơ thềm lục địa mở rộng là ngày 13 tháng 5, chỉ còn không đến hai tháng nữa. Nhiều bài viết lên tiếng yêu cầu VN công bố hồ sơ thềm lục địa mở rộng, nhưng việc quan trọng không phải kêu gọi VN phải nộp cho đúng thời hạn, vì rất thừa, nhà nước VN biết mình phải làm gì, quan trọng là nội dung hồ sơ đó như thế nào? Trong số các bài viết đó có vài bài tính cách như dọn sân để nhà nước CSVN làm lễ triều cống HS và TS cho TQ hơn là khuyến cáo nhà nước có một hồ sơ vững chắc, bảo vệ quyền lợi chính đáng của VN.

Một trong các bài viết theo lối dọn sân đó của ông Dương Danh Huy, dựa (?) trên thèse của ông Marc Valencia người Phi Luật Tân, thì các nước chia đôi với nhau biển Đông theo Luật Biển, các đảo HS&TS chỉ có lãnh hải 12 hải lý mà không có vùng kinh tế độc quyền ZEE 200 hải lý. Viết như thế cũng là một hình thức uống thuốc an thần và cũng là một hình thức tự bắn vào chân mình. Bắn vào chân vì HS và TS là của VN, đương nhiên các đảo này phải có hiệu lực theo định nghĩa của luật biển chứ tại sao chỉ có lãnh hải 12 hải lý mà không có ZEE 200 hải lý? Nhưng có biết rằng TQ giải thích các đảo này như thế nào và tập quán quốc tế ra sao?

Nếu thông minh hơn thì xét lại bản đồ luật biển của Phi Luật Tân vừa công bố. Các đảo TS của VN mà họ dành lấy, ngoài khoanh vàng trong khoanh xanh, có ghi chú: Regime of Islands. Qui chế của các đảo được Luật Biển 1982 định nghĩa theo điều 121 có ghi trên. Như thế Phi Luật Tân đâu loại trừ vùng biển ZEE của các đảo, đặc biệt vùng biển ở giữa các đảo? Luật biển nào cấm việc này?

Kết luận: Nếu vụ khai thác Bô-xít hiện nay tại Tây Nguyên là nguy hại cho VN về môi trường và địa-lý chiến lược, thì việc để mất HS&TS cho TQ thiệt hại còn lớn gấp ngàn lần; vì đó là vùng sinh tồn của các thế hệ VN trong tương lai.

Nhà nước VN không thể công bố bất kỳ hồ sơ nào hay một tuyên bố nào có ảnh hưởng đến chủ quyền của VN tại HS và TS qua hồ sơ thềm lục địa mở rộng sắp tới. Sẽ là một tội phạm trời đất không dung thứ nếu nhà nước VN bỏ HS&TS cho TQ hay có những tuyên bố có hàm ý như thế. Công việc của nhà nước ngày hôm nay là làm các việc cần thiết để giải độc công hàm của ông Phạm Văn Đồng. Công việc của trí thức VN là thảo luận rốt ráo các ngõ ngách của luật lệ để vô hiệu hóa công hàm của ông Đồng. Bài viết của tôi về hiệu lực pháp lý của công hàm này đang chờ sự phản biện nghiêm túc từ các học giả VN. Chạy trốn nó là chạy trốn một sự thật: dư luận thế giới đã công nhận HS&TS của TQ là do hiệu lực của công hàm 14 tháng 9 năm 1958 của ông Phạm Văn Đồng.

Trương Nhân Tuấn


[1] Xem: Dương Danh Huy - Lê Minh Phiếu, “Chủ quyền VN ở vùng Nam Côn Sơn, Tư Chính, Vũng Mây”, , ngày 08/12/2008.

Tài liệu tham khảo:

- «Sổ tay pháp lý cho người đi biển» do Tuần Việt Nam tóm lược và đăng tải 16-03-2009. Sách do Bộ Ngoại giao, Ban Biên giới Chính phủ và Nxb. Chính trị Quốc gia phát hành, năm 2002.
- Bản đồ của Tập đoàn dầu khí VN, Dương Danh Duy công bố (minhbien.org). Bản đồ đính kèm luật biển Phi Luật Tân.
- Atlas des Atlas. Courrier International, 2008.
- Brigitte Stern, 20 ans de jurisprudence de la Cour internationale de justice, 1975-1995. Martinus Nijhoff Publishers, 1998.
- Luật Quốc Tế về Biển 1982.

© Thông Luận 2009

Share/Save/Bookmark

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2009

Ma Chiến Hữu: vài vấn đề về lịch sử, đạo đức và chính trị

Nguồn : e-ThongLuan

Trương Nhân Tuấn

“...Cuốn sách này đã là tro tàn bên TQ, nó đã viết và xuất bản từ năm 1992. Phê bình nó hôm nay chỉ là nguyền rủa vào thinh lặng. Nếu trí thức VN can đảm hơn, biết nhân dịp này để giành lại quyền tự do ngôn luận đã quy định trong hiến pháp, thì trí thức VN đã đi một bước dài trong việc chấn hưng văn hoá và đạo đức VN...”

Ma Chiến Hữu là tựa đề đặt cho một cuốn sách dịch từ cuốn Chiến Hữu Trùng Phùng, nguyên tác tiếng Hoa, tác giả là nhà văn Mạc Ngôn, người Trung Quốc. Sách này viết năm 1992, chỉ vài tháng sau khi bang giao Việt Nam và Trung Quốc được thiết lập. Bản tiếng Việt do ông Trần Trung Hỷ chuyển ngữ, tựa đề cũng do ông này đặt, được nhà xuất bản Văn Hoá Phương Nam in năm 2008. Sự xuất hiện cuốn Ma Chiến Hữu đã chỉ dấy lên làn sóng phản đối, từ hạ tuần tháng hai năm 2009, trước tiên trên mạng internet, sau đó lan rộng trong giới người Việt trong và ngoài nước. Việc dư luận quan tâm đến cuốn sách này đã đặt lại một số vấn đề về xã hội như: sự hạn chế của nền văn học VN do định hướng chính trị, lịch sử và sự hoà giải giữa hai nước Việt Trung và sau đó là quyền tự do ngôn luận tại VN.

Ở đây tác giả không có tham vọng nghiên cứu sâu xa các vấn đề đặt ra vì lý do thiếu dữ kiện, do đó chỉ trình bày sơ lược một số ý kiến của mình mà thôi.

1/ Về tác giả và dịch giả

Mạc Ngôn tên thật là Quản Mạc Nghiệp, sinh năm 1955 tại Cao Mật, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Thiếu thời khổ cực như đại đa số dân TQ, học hành dang dở từ bậc tiểu học do hậu quả của Cách Mạng Văn Hoá, ông sớm lao động và thường xuyên bị đói khát trong một thời gian dài ở nông thôn. Năm 1976 nhập ngũ, năm 1984 trúng tuyển vào khoa văn thuộc Học viện nghệ thuật Quân Giải phóng và tốt nghiệp năm 1986. Năm 1988, ông trúng tuyển lớp nghiên cứu sáng tác thuộc Học viện Văn học Lỗ Tấn, trường Đại học Sư phạm Bắc Kinh, tốt nghiệp thạc sĩ năm 1991. Hiện ông là sáng tác viên bậc Một của Cục Chính trị - Bộ Tổng tham mưu Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Mạc Ngôn có khoảng 200 tác phẩm, được thế giới biết đến qua tác phẩm Cao lương đỏ, được nhà đạo diễn Trương Nghệ Mưu chuyển thành phim, đoạt giải Palme d’Or tại Canne năm 1994 (nguồn tổng hợp từ Internet).

Các tác phẩm của Mạc Ngôn đã xuất bản ở VN hầu hết do Công ty Văn Hoá Phương Nam ấn hành. Công ty này mua bản quyền và xuất bản một loạt mười tác phẩm của Mạc Ngôn. Nhân trả lời phỏng vấn Việt Báo ngày 14-4-2006 do Nguyễn Lệ Chi thực hiện, nhà văn Mạc Ngôn nói như sau: Đây là lần đầu tiên tôi chính thức làm việc với giới xuất bản Việt Nam qua hợp đồng bán bản quyền cho công ty Văn Hoá Phương Nam (thời hạn 5 năm 2006-2010). Công ty Văn Hoá Phương Nam là đối tác xuất bản Việt Nam đầu tiên tìm đến tôi, đề nghị mua bản quyền một số tác phẩm và độc quyền phát hành ở Việt Nam. (Nguyễn Lệ Chi phỏng vấn Mạc Ngôn, Việt Báo, 14-4-2006)

Dịch giả Trần Trung Hỷ sinh năm 1960 tại Quảng Ngãi. Tiến sĩ văn học về thơ Đường. Đã từng du học bảy năm ở Trung Quốc. Hiện ông đang làm việc tại Ban đào tạo hậu đại học của Đại học Huế. Đã dịch các tác phẩm của Mạc Ngôn: Sống đọa thác đày, Thập tam bộ, Tứ thập nhất pháo, Châu chấu đỏ, Trâu thiến, Con đường nước mắt, Ma Chiến Hữu, Hoan lạc, Bạch miên hoa, Người tỉnh nói chuyện mộng du (theo Tuổi Trẻ, 18-4-2008). Nguyên nhân dịch giả Trần Trung Hỷ đã tìm đến các tác phẩm của Mạc Ngôn đã được chính dịch giả giải thích như sau: «Thật ra, tôi đến với Mạc Ngôn khá tình cờ. Khi Công ty Văn Hoá Phương Nam ngỏ ý mời tôi dịch Sống Đọa Thác Đày, tôi rất phân vân, vừa muốn thử sức mình trong lĩnh vực mới nhưng vừa ngại ngùng vì nhiều lý do, trong đó thành công của Trần Đình Hiến là một trong những lý do quan trọng nhất. Nhưng rồi sau ba tháng, Sống đọa thác đày cũng hoàn thành và tôi bắt đầu say mê...»

2/ Về nội dung:

Có nhiều ý kiến khác nhau về nội dung cuốn Ma Chiến Hữu. Một số ý kiến cho rằng cuốn Ma Chiến Hữu là một cuốn sách «phản chiến», nhưng thực tế không phải như vậy.

Phản chiến là chống chiến tranh. Nếu hiểu thế thì đây không thể là một cuốn sách phản chiến cũng như tác giả Mạc Ngôn cũng không phải là một nhà văn phản chiến. Theo tiểu sử, ông này là một cán bộ «bậc Một của Cục Chính trị - Bộ Tổng tham mưu Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc». Tác phẩm của ông vì thế ít nhiều thể hiện quan điểm chính trị của quân đội TQ.

giao liu văn hướ


Cuốn Ma Chiến Hữu không hề chống chiến tranh. Đây là một cuốn sách viết theo ý của Đặng Tiểu Bình, tố cáo cái nghèo đói, cùng mạt của đại đa số dân TQ, tố cáo một xã hội bất công, chậm tiến do nạn quan liêu, tham nhũng, thối nát của cán bộ, quan lại TQ… Cuốn sách cũng đề cao tinh thần hy sinh của quân lính TQ trong cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 do Đặng Tiểu Bình khởi xướng và cũng cho thấy các điểm yếu của quân đội TQ. Mục đích cuốn sách nhằm thúc đẩy tiến trình đổi mới, canh tân TQ (và quân đội) theo kế hoạch thực tiễn «mèo trắng mèo đen» của họ Đặng.

Cuốn Ma Chiến Hữu được tác giả Mạc Ngôn viết chỉ vài tháng sau khi bang giao hai nước VN và TQ được tái thiết lập vào tháng 11 năm 1991. Mạc Ngôn viết cuốn này năm 1992. Mặc dầu được nguỵ trang dưới hình thức đối thoại giữa các hồn ma TQ chết trận 1979 là để phản đối đảng CSTQ quyết định tái lập bang giao với VN. Nhưng đằng sau đó là để xoa dịu sự phẫn nộ của quân đội TQ khi việc bang giao với VN được thiết lập.

Bài của Lâm Lê phỏng vấn Trần Trung Hỷ trên Tuổi Trẻ 18-4-2008, có trích lời Mạc Ngôn như sau: «Tôi vẫn thường nghĩ rằng người viết tiểu thuyết lúc nào cũng cố ý giả trang, bôi phấn bôi kem loè loẹt khiến độc giả khó mà hình dung được gương mặt thật của tác giả; nhưng trong tạp văn, tác giả thường quên hoá trang khi viết, vì vậy bộ mặt thật của họ dễ dàng chường ra trước mắt độc giả». Ma Chiến Hữu là tiểu thuyết hay tạp văn?

Tác giả Mạc Ngôn thuộc lứa tuổi tham gia cuộc chiến. Theo các tài liệu đã phổ biến, hay theo trang 28 tác giả cũng có nói, quân TQ tham gia cuộc chiến 1979 gồm có quân từ Quảng Tây, Vân Nam, Tứ Xuyên và Sơn Đông (gồm khoảng 200.000 quân và khoảng 212.00 dân công). Họ là những người lính được huấn luyện rất kỹ (tr 15, 16). Những nhân vật trong sách đều nhập ngũ năm 1976 (tr 15). Tinh thần của các chiến binh TQ phải nhìn nhận là cao, có lý tưởng: «Sau khi nghe tin không được phục viên vì đang có đánh nhau ở phía Nam, chúng tôi vui thầm trong bụng. Làm người lính thời bình chẳng có ý nghĩa gì cả. Cuối cùng chúng đã có cơ hội thể hiện mình» (tr 17).

Tác giả Mạc Ngôn người Sơn Đông. Ông nhập ngũ năm 1976, cũng là năm các hồn ma vào lính. Do đó nhiều sác xuất tác giả Mạc Ngôn cũng có mặt trong cuộc chiến. Vì thế có thể đây là một hình thức của tự truyện, tác giả tự kể về mình.

Nhưng dầu cuốn sách viết theo thể loại nào, cuốn sách này cũng cho ta biết «gương mặt thật của tác giả». Trang 56 tác giả diễn tả tình cảm của các hồn ma sau khi đọc báo thấy tin VN và TQ tái lập bang giao. Các hồn ma khóc và than rằng: «tôi càng nghĩ càng thấy mình chết trận oan uổng». Đây chắc chắn cũng là ý kiến của tác giả và của cả quân đội TQ.

Nhưng nó không có nghĩa là tác giả Mạc Ngôn lên án cuộc chiến 1979 là phi nghĩa như nhiều người hiểu lầm. Nếu thực sự Mạc Ngôn nói như thế thì tác giả này đã bị «thủ tiêu» từ lâu chứ đừng nói đến việc được trọng dụng trong cục Chính Trị của quân đội. Cho rằng cuộc chiến phi nghĩa là phỉ nhổ vào sự hy sinh xương máu và của cải của toàn dân.
Thực ra tác giả Mạc Ngôn đã rất khéo léo nêu cao chính nghĩa của cuộc chiến 1979 qua việc đề cao sự hy sinh của những người lính TQ. Trang 36 khẳng định anh hùng tính và ý nghĩa cao cả của các cách chết (cho dầu lãng xẹt) của lính TQ: chết rét, chết đói, chết nước, chết vì chó cắn, chết vì ốm đau… tất cả các cách chết đó, theo tác giả, là «vô cùng vinh dự», là «vì nhân dân» mà chết. Chết như thế «còn nặng hơn cả Thái Sơn».

Thông điệp của tác giả hết sức rõ rệt: tất cả những người lính đều hi sinh cho đất nước và vì đất nước. Những người lính TQ phải hãnh diện về điều đó. Cuộc chiến 1979 là một cuộc chiến «vì nhân dân» TQ.

Nhưng ở trang 57 tác giả khéo léo biện hộ cho chính trị của họ Đặng: «Trên thế giới này không hề có một tình bạn vĩnh viễn, cũng không hề có một kẻ thù vĩnh viễn. Quan hệ giữa con người là như vậy, quan hệ giữa nước này với nước khác cũng vậy. Mâu thuẫn tích lũy đến một mức độ nào đó tất sẽ đánh nhau, đánh nhau thì tất có dừng. Không đánh nhau ắt không có ngày hoà bình hôm nay».

«Không đánh nhau ắt không có ngày hoà bình hôm nay», tức là gián tiếp đề cao chính nghĩa cuộc chiến 1979: không có cuộc chiến, không có sự hy sinh xương máu của các người lính TQ thì TQ không có hoà bình (và sự tiến bộ, sung túc nơi mọi người dân TQ như đã thấy) hôm nay.

Tác giả Mạc Ngôn còn diễn tả thật cảm động trường hợp người cha già cụt mất một chân lặn lội đi tìm hài cốt con mình về chôn ở quê hương. Đây một thông điệp quan trọng khác. Qua các trang diễn tả về nơi chôn cất người chết của dân tộc Hán, tác giả đã cho thấy một thực tế mà rất ít người Việt để ý.

Không một người TQ nào quên nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Khi chết, bất kỳ nơi nào, họ đều mong muốn xác họ được đưa về cố quốc. Thời kỳ quốc-cộng có rất nhiều người Hoa bỏ lục địa để lưu vong. Những người này khi chết thì con cháu họ xin nhà nước TQ đưa xác về quê hương chôn cất, vì đó là nguyện vọng của họ. Việc này được kéo dài một thời gian, chỉ sau khi Mao Trạch Đông cấm, vì cho rằng những người lưu vong không xứng đáng làm người Hoa (sic !), việc này mới chấm dứt.

Nhắc đến việc này để thấy nơi nào trên vùng biên giới có nghĩa trang của người Hoa thì đất ấy phải thuộc về TQ. Những nghĩa trang đó được họ xây cất, trang hoàng rất đẹp, thường xuyên tổ chức thăm viếng và ngang khói. Việc này cho thấy bề ngoài nhà nước TQ lo đến cả cái chết của liệt sĩ nhưng mục tiêu là không cho người nhà đem cốt thân nhân về quê hương.

Đó cũng là một trong nhiều âm mưu của người Hán dựng ra để chiếm đất của VN. Trong lịch sử họ đã làm như vậy để chiếm đất Kiến Duyên và Bát Tràng (thuộc châu Tiên Yên, Hải Ninh) cuối thế kỷ 19 nhân dịp phân định biên giới. Họ vừa chiếm đất VN cách đây không lâu cũng bằng cách như thế.

3/ Quyền tự do ngôn luận.

Dường như có một số đông người trong nước chủ trương cấm cuốn sách này. Tôi thấy có cái gì không ổn.

Cái nào cũng có luật lệ của nó. Cuốn sách này được giấy phép xuất bản tại VN và nội dung của nó không hề vi phạm luật VN. Không phạm luật thì không thể cấm.

Trong bất kỳ trường hợp nào việc cấm cũng thể hiện một hành vi bất lực. Nếu nhà nước CSVN nhân danh một lý do gì đó để cấm, như lo ngại sự phẫn nộ dâng lên cao trong xã hội, thì việc cấm ở đây thể hiện sự bất lực của nhà nước trước sự việc bất mãn của xã hội chứ không do sự sai trái của cuốn sách. Hô hào cấm cuốn sách này cũng là một hình thức biểu lộ sự mất tự tin của mình.

Việc cấm cuốn sách, cho dầu nguỵ trang dưới bất kỳ hình thức nào, cũng cho thấy phía VN bất lực. Bất lực không phải vì không có lý lẽ phản biện lại, (thực ra đây là một quyển sách có nội dung rất xoàng, không có gì đáng lo ngại, ảnh hưởng văn hoá của nó kém xa các sản phẩm văn hoá khác của TQ như các loại phim ảnh tuyên truyền hiện nay tại VN). Nguyên nhân bất lực không do trí thức VN, nhưng do nhà nước VN cấm trí thức VN làm việc phản biện. Cuộc chiến 1979 phía TQ phạm tội ác diệt chủng là một sự thật, các sử gia VN không viết ra được, không phải vì phạm luật VN, mà vì nhà nước sợ làm phật lòng TQ nên không cho viết.

Nhưng điều hay là cuốn sách này tạo cơ hội cho trí thức VN lên tiếng giành lại quyền tự do ngôn luận của mình, dĩ nhiên nếu thành phần này cảm thấy quyền đó là cần thiết. Tuy nhiên thái độ của sĩ phu VN xưa nay phần lớn «sĩ khí rụt rè gà phải cáo», trí thức là gà, nhà nước CSVN là cáo, trí thức quanh quẩn gáy trong chuồng, gáy theo chỉ đạo của đảng, nên không hy vọng gì việc thành phần này sẽ ủng hộ vài tiếng «gáy can đảm» lẻ loi trong buổi bình minh rất chậm đến trong vùng trời VN.

Ta thấy việc giao lưu văn hoá Việt-Trung chỉ xảy ra một chiều. VN không có tác phẩm tương tự nào để có thể phổ biến ngược lại bên TQ. Nguyên nhân có lẽ không đến từ phía TQ mà do nhà nước VN. Hiện nay sản phẩm văn hoá TQ, nối chân các sản phẩm khác, tràn ngập, làm ô nhiễm đầu óc người VN. Chỉ trong thế hệ tới dân VN thuộc lịch sử Tàu hơn lịch sử Việt. TQ đang xâm lăng VN bằng văn hoá. Thời của súng đạn xưa rồi. Một lãnh tụ của TQ là Tưởng Giới Thạch có nói: nơi nào có dấu ấn văn hoá Hán thì nơi ấy là lãnh thổ của người Hoa. Rõ ràng họ đang chiếm nước Việt không tốn một viên đạn. Dân VN sẽ bị đồng hoá, đất nước này sẽ xoá tên trên bản đồ thế giới, nếu đạo quân văn hoá của VN, những người lính trí thức, không được thực sự trọng dụng trong xã hội hôm nay.

Ta nhận thấy một cách đau lòng là các tác phẩm tương tự nói về chiến tranh của các nhà văn VN thì hầu hết bị cấm. Mặt khác, các sử gia VN chỉ viết theo chỉ đạo, theo định hướng chính trị, do đó nhiều sự thật lịch sử đã bị chôn vùi. Lịch sử do đó rất méo mó, một chiều. Vì thế sự xuất hiện cuốn Ma Chiến Hữu là một dịp tốt cho các văn gia, sử gia VN viết lại cuộc chiến theo cái nhìn của VN, trên tất cả mọi sử liệu của VN. Văn hoá VN cần được vực dậy mới có thể chống lại sự xâm lăng của nền văn hoá Hán mà việc này có làm được hay không là ở quyền tự do ngôn luận có được mở ra hay không.

4/ Về đạo đức và chính trị:

Qua cuốn sách này ta cũng thấy có sự khủng hoảng trầm trọng về đạo đức và chính trị tại VN.

Về đạo đức (và chính trị) vì sách này đặt lại quan niệm về chính nghĩa của cuộc chiến 1979. Nếu phe TQ đúng thì VN sai và ngược lại.

Thông thường trước khi bắt đầu chiến tranh nước gây chiến luôn đi tìm một lý do biện hộ cho hành động của mình. Lịch sử cận đại và hiện đại có rất nhiều thí dụ cho việc này. Ông Georges W. Bush trước khi đánh Irak của Saddam Hussein cũng đã gán cho nước này có tồn trữ vũ khí giết người hàng loạt đe dọa HK nên ông Bush phải «tiên hạ thủ vi cường». Phía TQ đã tìm nhiều lý do để đánh VN năm 1979 nhưng không có lý do nào thuyết phục. Rốt cục họ dùng một mẹo xưa nay đã dùng nhiều lần: hô hoán VN lấn đất TQ và xua quân đánh phạt. Cuộc chiến 1979 theo quan điểm lịch sử của TQ là một cuộc chiến «tự vệ». Tự vệ vì đất TQ bị VN lấn chiếm.

Quan điểm này rõ ràng không ổn, nhưng rất tiếc những dữ kiện liên quan đến cuộc chiến biên giới 1979 vẫn chưa được hai bên công bố. Nhiều điểm mờ vẫn chưa được soi sáng, như các dữ kiện liên quan lý do tự vệ của phía TQ. Nhưng điều quan ngại là những sự thật lịch sử có thể sẽ không bao giờ được thiết lập vì hai bên đảng CSVN và CSTQ dường như muốn xoá bỏ quá khứ, xem cuộc chiến 1979 không hiện hữu.

Những câu hỏi người ta đặt cho phía TQ là tự vệ kiểu gì, chính nghĩa nào mà đem quân qua nước người ta cướp sạch, phá sạch, giết sạch… như thế? Chính nghĩa nào mà mục tiêu là đốt nhà, phá làng xóm, giết dân vô tội?

Đứng trên quan điểm pháp lý thì đây là một tội ác diệt chủng của Đặng Tiểu Bình. Nhưng lãnh đạo CSVN cũng có trách nhiệm khi để việc này xảy ra, và trách nhiệm lớn hơn nữa, nếu tiếp tục im lặng.

Phía VN, nhà nước chủ trương im lặng, cố gắng xoá bỏ một trang sử của dân Việt, xem sự chiến đấu, sự hy sinh của 30.000 quân lính VN chống kẻ thù xâm lăng để bảo vệ đất nước là không có. Việc này thấy rõ qua ngày tưởng niệm 30 năm cuộc chiến: không hề có một vòng hoa, một nén nhang cho những người đã chết. Đây là một thái độ vô đạo đức, vô ơn bạc nghĩa của nhà nước CSVN đối với những người đã đổ máu cho đất nước, nhưng cũng đóng góp làm vững chế độ. Tệ hơn nếu làm một so sánh: tại sao phía TQ trí thức được quyền có quan điểm về cuộc chiến mà trí thức VN thì không ?

Ta thấy lãnh đạo CSVN sẵn sàng trả giá rất đắt để được hoà giải với kẻ thù cũ. Cho TQ vào khai thác bau-xít trên Tây Nguyên, bất chấp những ý kiến đứng đắn của nhiều người uy tín trong xã hội.

Do chênh lệch cán cân ngoại thuơng hai bên Việt-Trung quá lớn, hàng TQ nhập siêu vào VN hàng chục tỉ đô-la, bất tài trong việc đề ra phương pháp điều tiết, đảng và nhà nước CSVN lựa chọn phương pháp nguy hiểm bán nước để đền bù. Ta thấy văn hoá phẩm TQ đã tràn ngập VN mà không có bất kỳ biện pháp be bờ từ phía VN. Văn hoá VN trên đường tự hủy, trong khi trí thức VN phần lớn mũ ni che tai, sống chết mặc bây. Môi trường sống của VN đe dọa hủy diệt do việc khai thác bô-xít. Trong khi trên quan điểm địa lý chiến lược thì sự có mặt của TQ tại Tây Nguyên là một đe dọa vô cùng to lớn cho sự an nguy và sinh tồn nòi giống Việt.

Cái giá rõ ràng quá đắt mà dân tộc và đất nước VN phải trả để đảng CSVN thực thi hoà giải với TQ. Nhưng đối với đại bộ phận dân tộc thì họ vẫn ngạo ngễ trên chính những sai lầm và tội lỗi mà họ đã gây ra. Hoà giải là một vấn đề đạo đức. Đảng CSVN có thể hoà giải với những tên diệt chủng của dân tộc mình, có thể hoà giải với những tên tàn phá đất nước mình, có thể hoà giải với những người đã cướp đất của cha ông tại HS và TS. Nhưng họ không hề có ý nghĩ hoà giải với chính mình, với chính dân tộc và đất nước mình. Đây là điều phẫn nộ, khó có thể chấp nhận.

Về chính trị thì việc giao lưu chỉ chảy một chiều: từ TQ sang VN. Như trên đã nói, nhà nước CSVN đã mở đường cho TQ xâm lăng VN bằng văn hoá, mở đường cho họ vào Tây Nguyên. Đây là một tội ác đối với tổ tiên, với những người đã mở nước và dựng nước. Bốn ngàn năm không Hán hoá được dân Việt mà hôm nay dưới triều đại cộng sản lại dễ dàng như thế. Do đó đây là một khủng hoảng lớn ở nội tại đảng CSVN.

5/ Ích lợi nào cho VN nơi cuốn Ma Chiến Hữu ?

Điều quan trọng hơn hết là thái độ của trí thức VN có biết khéo léo nắm bắt có hội qua sự xuất hiện cuốn Ma Chiến Hữu hay không. Cuốn sách này đã là tro tàn bên TQ, nó đã viết và xuất bản từ năm 1992. Phê bình nó hôm nay chỉ là nguyền rủa vào thinh lặng. Nếu trí thức VN can đảm hơn, biết nhân dịp này để giành lại quyền tự do ngôn luận đã quy định trong hiến pháp, thì trí thức VN đã đi một bước dài trong việc chấn hưng văn hoá và đạo đức VN. Đó là hành động thiết thực và hữu hiệu nhất để bảo vệ đất nước trong tình thế hiện nay.

Trương Nhân Tuấn


Share/Save/Bookmark
Related Posts with Thumbnails