Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2009

Nghĩ về một cơn điên


Nguồn : Báo Tổ Quốc

Nguyễn Gia Kiểng


Nội chiến là sự tiếp nối, phát triển và tăng cường độ tự nhiên của đấu tranh giai cấp. (Lenin)


Tháng 2 này Đảng Cộng Sản Việt Nam kỷ niệm lần thứ 78 ngày thành lập. Đây cũng là dịp để suy nghĩ thêm về hiện tượng cộng sản.
Cuốn Sách Đen Về Chủ Nghĩa Cộng Sản (Le Livre Noir du Communisme) xuất bản năm 1997 tại Pháp hầu như đã chấm dứt mọi tranh cãi về bản chất và thành tích của chủ nghĩa cộng sản và các chế độ cộng sản. Đó là một công trình khảo cứu đúng đắn và công phu của những học giả lương thiện, có uy tín và có thẩm quyền về phong trào cộng sản. Không một nhà bình luận đứng đắn nào phản bác những sự kiện và nhận định trong tài liệu này.


Cuốn sách đã làm một tổng kết tối thiểu về số nạn nhân của các chế độ cộng sản: khoảng 100 triệu người. Con số này thật kinh hoàng so với số nạn nhân của các chế độ bạo ngược trong lịch sử nhân loại. Quốc Xã Đức đã làm chết 20 triệu người. Chế độ Nga Hoàng, được mô tả như một chế độ tàn ác, đã tuyên án tử hình 6.360 người và hành quyết 3.932 người chống đối trong 100 năm cuối cùng của nó. Theo các tác giả, con số 100 triệu này, trừ trường hợp của Trung Quốc và Campuchia trong đó sự phân biệt không được rõ rệt, chỉ bao gồm những người đã bị các chế độ cộng sản cố ý và trực tiếp tàn sát để áp đặt và giữ vững quyền lực. Do đó mà số nạn nhân Việt Nam chỉ được ước lượng ở mức một triệu người.


Số nạn nhân đã thiệt mạng vì những "sai lầm khách quan" của chủ nghĩa cộng sản, nghĩa là những người đã chết không phải vì các chế độ cộng sản chủ ý tiêu diệt họ mà đã chết do hậu quả của việc thực hiện chủ nghĩa cộng sản còn lớn hơn nhiều. Thí dụ như tại Liên Xô cũ khoảng 20 triệu người đã chết đói, tại Bắc Triều tiên số người đã chết đói trong mười năm qua có thể lên đến vài triệu người. Tại Trung Quốc tổng số người chết vì đói và bệnh tật do sai lầm của chính sách kinh tế có thể hơn 100 triệu (mà một phần đã được ghi nhận trong Sách Đen). Những người này đã chết vì chủ nghĩa cộng sản là một phương thức tổ chức xã hội sai cho nên khi được đem áp dụng đã bẻ gẫy hệ thống sản xuất và phân phối. Những nạn nhân này đặt ra một câu hỏi nghiêm trọng : tại sao một chủ nghĩa sai đến như vậy lại có thể đông viên được nhiều người như vậy và động viên họ đến mức độ có thể chấp nhận những tội ác kinh khủng ?


Tôi vẫn ngưỡng mộ hai dân tộc Anh và Mỹ vì họ chưa từng bị cám dỗ bởi chủ nghĩa cộng sản. Họ là những ngoại lệ. Phần còn lại của thế giới đã bị cuốn hút. Chủ nghĩa cộng sản đã là vấn đề lớn nhất của thế kỷ 20. Đã có một khối người rất đông đảo tại mọi quốc gia trên thế giới, trong đó có những người rất xuất chúng thuộc mọi bộ môn văn học nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, cổ võ cho nó. Những nhà bác hoc, những triết gia, những giải thưởng Nobel. Câu hỏi tại sao chủ nghĩa cộng sản lại có thể lôi kéo một số đông đảo những người kiệt xuất như vậy không dễ trả lời. Đây không phải là một vấn đề của lý luận. Nó là một cơn điên của nhân loại và phải tìm giải thích trong tâm lý và lịch sử.


Karl Marx không phải là một triết gia đúng nghĩa và chủ nghĩa cộng sản chẳng bao giờ có tầm vóc của một tư tưởng chính trị hay một lý thuyết quản trị quốc gia. Marx là một nhà báo và một nhà bút chiến có tài nhưng không có khả năng nào khác. Ông học triết và đậu tiến sĩ ở tuổi rất trẻ nhưng ông chưa bao giờ thực sự suy nghĩ như một triết gia. Ông chỉ sử dụng ngôn ngữ triết mà ông đã học được cho những khẳng định hấp tấp mà một triết gia đúng nghĩa không thể tự cho phép. Ông chỉ lấy những ý kiến của những người khác - Hegel, Darwin, Ricardo - để ứng dụng một cách khác và để kết luận một cách quả quyết và hàm hồ. Marx đã rất khổ sở khi bị yêu cầu thực hiện lời hứa là sẽ chứng minh một cách khoa học những gì ông đã khẳng định trong Tuyên Ngôn Cộng Sản năm 1847, đặc biệt là sự sụp đổ tất yếu của chủ nghĩa tư bản. Sau cùng ông đã chẳng chứng minh được gì và tất cả mọi dự đoán của ông đều bị thực tế phủ nhận một cách thảm hại. Cuốn Tư Bản (Capital) của ông, mà chỉ có tập 1 được xuất bản khi ông còn sống, là một thất vọng, ít ai đủ kiên nhẫn để đọc nó. Marx không có ý kiến gì về những vấn đề lớn đặt ra cho một quốc gia, như môi trường, dân số, đạo đức, luật pháp, văn học, nghệ thuật, sáng tạo, khoa học, kỹ thuật. (Mọi chế độ cộng sản đều đã là những thảm kịch cho môi trường và đạo đức xã hội vì chủ nghĩa cộng sản hoàn toàn không biết tới những vấn đề này). Marx chỉ bàn về kinh tế và cũng chỉ quan niệm hoạt động kinh tế ở mức độ thấp nhất, mức độ sản xuất hàng hóa. Ông không biết tới dịch vụ, phân phối và tiền tệ. Những khẳng định của Marx đã bị chứng tỏ là sai lầm ngay khi Marx còn sống. Đảng Xã Hội Đức, được coi như xương sống của phong trào cộng sản thế giới lúc đó, đã bác bỏ Marx ngay từ đại hội Gotha năm 1875. Marx đã sống hơn hai mươi năm cuối đời với hào quang ngày càng xuống dốc trong cảnh nghèo khổ cùng cực tại London. Trước khi chết ông để lại một câu nói không biết mỉa mai hay chua chát : "điều chắc chắn là tôi không phải là một người Mác-xít".


Tư tưởng của Marx đã chỉ được hồi sinh, và được tô vẽ và tán dương sau đó, nhờ cuộc Cách Mạng Tháng 10 Nga. Và lần này nó được phối hợp với lý thuyết khủng bố của Lenin thành chủ nghĩa cộng sản, được biết tới như là chủ nghĩa Mác-Lênin. Cuộc Cách Mạng Tháng 10 Nga đã dần dần được nhìn lại một cách chính xác như một cuộc đảo chính cướp chính quyền của một đảng khủng bố có tổ chức chặt chẽ. Tư tưởng của Marx đã chỉ có công dụng đem lại một biện minh và một thế giá cho một công thức khủng bố để cướp và giữ chính quyền. Nhưng chủ nghĩa Mác-Lênin đã hiệu lực một cách đáng sợ. Tội ác được tôn vinh bởi vì nó được thực hiện nhân danh một lý tưởng quảng đại, người ta giết người để xây dựng một một xã hội ngàn lần đẹp hơn. Trái với bạo lực trần trụi của các vua chúa, bạo lực cộng sản được khoác cái áo đẹp và quí phái của một triết học và một lý tưởng. Sự tàn sát cũng không cần có giới hạn vì có chính nghĩa, và vì mọi giá trị đạo đức đã bị bác bỏ như là những phát minh của giai cấp tư sản.

Nhưng chủ nghĩa Mác-Lenin vẫn chỉ là chính nó, nghĩa là một chủ nghĩa khủng bố. Đảng cộng sản Nga, cũng giống như các đảng cộng sản khác, chưa bao giờ là một đảng quần chúng. Những công nhân đình công đòi quyền lợi sau Cách Mạng Tháng 10 đã bi tàn sát thẳng tay, cũng như các nông dân đòi được có ruộng đất. Sáu triệu người Ukraine bị cắt thực phẩm cho đến chết đói vì có mầm mống chống đối. Đừng nên quên rằng trong suốt lịch sử của phong trào công sản thế giới chưa hề có một đảng cộng sản nào thắng một cuộc bầu cử lương thiện nào, dù trước hay sau khi nắm chính quyền. Các đảng cộng sản đều giống nhau : chúng không phải là những đảng được thành lập để tranh thủ sự hưởng ứng của nhân dân qua những cuộc bầu cử, chúng đều là những tổ chức nhắm tạo ra và lợi dụng những cuộc khủng hoảng để cướp chính quyền và sau đó cai trị bằng bạo lực và khủng bố.


Vậy thì tại sao phong trào cộng sản đã được ủng hộ ?


Chủ nghĩa cộng sản, như là một lý tưởng được Marx mô tả, không phải là mới. Nó có gốc rễ từ một thời rất xa xưa, từ sự tìm kiếm ngoan cố một tổ chức xã hội hoàn chỉnh. Cuốn Nước Cộng Hòa của Plato đã là dự án cộng sản đầu tiên. Từ kỷ nguyên Thiên Chúa Giáo các nước phương Tây sống trong một mâu thuẫn lớn giữa một giáo lý coi mọi người là anh em và một tổ chức xã hội phân biệt chủ và tớ, trong đó sự đói khổ thường trực đã khiến tài sản tư hữu được nhìn như là nguyên nhân của mọi tệ hại. Thiên Chúa Giáo xuất hiện như một triết lý giải phóng đã dần dần bị thuần hóa để trở thành một dụng cụ thống trị. Trong đáy sâu của tâm hồn con người mong đợi một hy vọng giải phóng mới. Thời đại Tái Sinh (Rennaissance), rồi Thế Kỷ Ánh Sáng (thế kỷ 18) đề ra chủ nghĩa cá nhân, coi con người phổ cập như là giá trị và đối tượng phục vụ cao nhất, dù có hay không có Thượng Đế.

Trật tự tinh thần cũ lung lay và một ngày mai đầy hứa hẹn nhưng cũng đầy ẩn số hiện ra trước mắt. Chủ nghĩa cá nhân quá mới, người ta chưa thể hiểu nó sẽ dẫn đến đâu vì đây là lần đầu tiên con người khám phá ra chính mình. Có những nhà tư tưởng, mà đại diện tiêu biểu nhất là John Locke, nhìn thấy ở chủ nghĩa cá nhân nền tảng của một tổ chức xã hội mới : chế độ dân chủ, nhưng tiếng nói của họ còn quá ít và họ lại không phản bác mà còn bênh vực quyền tư hữu mà đại đa số thù ghét hoặc ngờ vực. Nét độc đáo của họ là đã dám đi ngược lại với một thành kiến áp đảo đã được coi như một chân lý, họ đúng nhưng cũng vì thế mà họ khó được chấp nhận. Cần nhấn mạnh rằng thành kiến này không phải chỉ là của những người nghèo khổ, nó được chia sẻ bởi cả một số rất đông đảo những người có tâm hồn quảng đại. Chính Giê Su Kitô cũng đã từng nói người giàu không thể vào nước chúa.

Marx không phải là người đầu tiên đề xướng chủ nghĩa xã hội nhưng đã là người biện luận tài ba nhất cho nó. Thiên tài trong nghệ thuật chế tạo ra những tổng hợp sai nhưng hấp dẫn, Marx đã đưa ra lý thuyết đấu tranh giai cấp, dẫn tới vô sản chuyên chính, hủy bỏ quyền tư hữu, để rồi sau cùng là một xã hội công bằng không giai cấp. Nhưng sau cùng là bao giờ ? Marx không trả lời, như ông không hề định nghĩa thế nào là một giai cấp. Lý thuyết của ông là một xào nấu nhiều yếu tố mâu thuẫn : có yếu tố dân chủ vì quyền lực được coi là thuộc về nhân dân, đáp ứng nguyện vọng lâu đời là hủy bỏ quyền tư hữu, và cũng đáp ứng mối lo âu không biết chủ nghĩa cá nhân, quá mới để đa số có thể hiểu là khác với chủ nghĩa ích kỷ, sẽ đưa tới cái gì. Khi sự cáo chung của các chế độ quân chủ chuyên chính đã là một tất yếu sau Cách Mạng Pháp 1789 và sự ra đời của nền dân chủ Hoa Kỳ thì chủ nghĩa Marx phải được nhìn như một khuynh hướng bảo thủ chống lại tư tưởng thực sự mới lúc đó là chủ nghĩa cá nhân tự do và cố giữ lại những gì còn giữ lại được của chủ nghĩa tập thể (collectivism), cách tổ chức xã hôi duy nhất mà loài người biết được từ ngày sống thành xã hội. Dân chủ còn quá mới.


Một yếu tố quan trọng khác cũng xuất hiện lần đầu tiên và gây choáng váng. Cuộc cách mạng kỹ nghệ đã tạo ra một quyền lực hoàn toàn mới : quyền lực của những nhà tư bản chủ nhân những công ty lớn theo nhau ra đời. Đây là một quyền lực rất lạ vào lúc đó bởi vì nó không đặt nền tảng trên bạo lực, mà trên tài sản. Sự giàu có bao giờ cũng đi đôi với quyền lực, nhưng cho tới lúc đó quyền lực của tài sản chỉ ở một tầm vóc nhỏ. Lần này quyền lực của giới tư bản đã quá lớn, bao trùm lên rất nhiều người, gần như một quyền lực chính trị. Người ta khó có thể chấp nhận được thứ quyền lực này bởi vì nó đến từ điều từ lâu đã bị thù ghét : tài sản tư hữu. Giữa lúc đang hy vọng được giải phóng người ta lại thấy phải chịu thêm một ách thống trị mới. Hơn nữa chế độ tư bản sơ sinh lại chỉ mới biết đi những bước đi chập chững, vụng dại và vô tâm. Rất ít nhà tư tưởng dám dự đoán thế giới đi về đâu, một số dự đoán những tương lai đen tối. Marx khẳng định sẽ có tích lũy tư bản, người lao động sẽ bị bần cùng hóa.

Lý luận của Marx lạnh lùng một cách ghê rợn ; Marx không coi bóc lột là một tội ác - tội ác, thiện và ác, cũng như mọi khái niệm đạo đức hoàn toàn vắng mặt trong tư tưởng của Marx - mà như qui luật tự nhiên và do đó đấu tranh giai cấp để tiêu diệt giai cấp tư sản cũng là tự nhiên. Cách lý luận của Marx là một bước lùi dứt khoát và kinh hoàng về tình trạng dã man trong đó loài người cũng như mọi động vật tự nhiên phải xâu xé nhau để sống. Quá nhiều đảo lộn vật chất cũng như tinh thần. Hy vọng, bồn chồn, hoảng sợ và phẫn nộ. Thế giới lên cơn điên ! Chủ nghĩa Marx quyến rũ ở những gì nó chống lại. Không phải là một sự tình cờ mà cuốn sách quan trọng nhất của chủ nghĩa cộng sản lại mang tên là Tư Bản (Capital), cũng không phải là một sự tình cờ cuốn sách duy nhất trình bày một cách tổng quát chủ nghĩa cộng sản có tựa là Chống Duhring (Anti-Duhring). Marx không có giải pháp đúng đắn nào cho xã hội, nhưng ông đánh phá bằng những lời lẽ rất hùng hồn những gì mà người ta thù ghét : tài sản tư hữu, bất công, bóc lột, v.v.


Dần dần các nhà lý luận nghiêm chỉnh tại châu Âu đã phơi bày những sai lầm của Marx. Khi Marx qua đời, tư tưởng của ông đã mất gần hết ảnh hưởng. Lenin đã hồi sinh nó tại Nga, từ Nga nó dội trở lại châu Âu nhờ những thành tích ngoạn mục của chế độ Xô Viết như là một bằng chứng rằng Marx đã đúng và những người phản bác ông đã sai. Chỉ từ thập niên 1980 trở đi những "thành tích" này mới bị phơi bày là dối trá.


Lenin là một chuyên viên khủng bố, lớn lên trong một truyền thống khủng bố quốc gia và gia đình. Tư tưởng chính trị của Nga, kể từ thập niên 1860, do sự pha trộn các học thuyết Tây Âu với truyền thống bạo lực của Nga, chủ yếu là một chủ nghĩa vô chính phủ bạo động. Ám sát và thủ tiêu được coi như một phương tiện bình thường để giải quyết các khác biệt. Anh ruột Lenin bị hành quyết về tội khủng bố. Với một căn cước như vậy, Lenin dĩ nhiên biết hiệu lực ghê gớm của hoạt động khủng bố. (Để có một ý niệm về hiệu lực của khủng bố chỉ cần nhìn vào những lực lượng được sử dụng để truy lùng Bin Laden và đội quân khủng bố vài ngàn người Al Qaeda). Đương đầu với khủng bố, một lực lượng qui ước, nghĩa là không dùng phương pháp khủng bố, mạnh gấp đôi, gấp ba, thậm chí gấp mười cũng tuyệt vọng. Phải mạnh gấp trăm ngàn lần. Sở dĩ các nhóm khủng bố tại Nga trước Lênin đều không lay chuyển được chính quyền Nga hoàng là vì chúng đều quá nhỏ, vả lại chúng cũng chỉ có mục tiêu phá hoại. Lenin nhìn đã thấy ở chủ nghĩa Marx một vũ khí lý tưởng để không những chỉ phá hoại mà còn cướp chính quyền : nó có vóc dáng của một triết lý cách mạng và có thể động viên được nhiều người trong khi để cướp được chính quyền chỉ cần một đội ngũ tầm vóc vừa phải nhưng có kỷ luật và quyết tâm. Chủ nghĩa Marx cũng rất hợp với tâm lý cách mạng của người Nga lúc đó : nó bác bỏ mọi giá trị đạo đức, coi bóc lột và đấu tranh giai cấp là tự nhiên, những gì đúng là những gì có lợi cho mục tiêu theo đuổi, cứu cánh biện minh cho phương tiện, Marx cũng không quan tâm tới những ý niệm quốc gia và dân tộc. Lenin đã phát minh ra cả một lý thuyết khủng bố để bổ túc cho tư tưởng của Marx. Ông ta đã nắm được chính quyền bằng vũ lực nhờ một đội ngũ nhỏ nhưng kỷ luật và sau đó thi hành chính sách khủng bố toàn diện và tuyệt đối trong nội bộ đảng cũng như đối với xã hội. Mọi thông tin và mọi quyền tự do đều bị xóa bỏ. Phải khống chế tư tưởng để triệt tiêu mọi ý định chống đối, phải dùng bạo lực để tiêu diệt những chống đối còn lại, và bạo lực phải cực kỳ hung bạo để gây kinh hoàng. Chính quyền Mác-Lênin thực hiện đấu tranh giai cấp và Lenin quan niệm đấu tranh giai cấp là nội chiến liên tục. Chính quyền Mác- Lênin là một chính quyền lâm chiến với nhân dân của chính mình.


Phong trào cộng sản đã đứng vững được tại các nước mà nó đã nắm được chính quyền nhờ khủng bố và đã bành trướng được sang các nước khác, như tại Việt Nam, cũng nhờ chiến tranh khủng bố. Và vì nó luôn luôn đặt đối phương trong thế thụ động. Các đảng cộng sản Tây Âu có vai trò chiến lược quyết định : đánh bóng các chế độ cộng sản và gây khó khăn tối đa cho các chính quyền dân chủ. Khi các đảng cộng sản tại các nuớc Tây Âu sụp đổ và bức tường bưng bít bị chọc thủng thì chủ nghĩa Mác-Lênin cũng sụp đổ tại Liên Xô và trên thế giới, vì nó hiện nguyên hình như là một chủ nghĩa khủng bố. Các chế độ cộng sản Trung Quốc và Việt Nam đã phải thích nghi với thực tại thế giới để kéo dài sự tồn tại dù biết rằng về lâu về dài không thể trụ được. Hợp lý hơn với chính mình, chế độ cộng sản Bắc Triều Tiên tiếp tục đóng kín, cho đến gần đây.


Chủ nghĩa cộng sản đã được ủng hộ chủ yếu vì người ta không hiểu nó và không được thông tin về những tội ác kinh khủng của những chế độ nhân danh nó. Nhưng cũng có những lý do sâu xa khác.


Trong một bài trước đây ("Tổ chức và sự hình thành cuả ý kiến", Thông Luận số 199, tháng 01-2006), tôi đã trình bày cách mà chúng ta suy nghĩ. Chỉ có một số ít người lý luận để đi đến kết luận, trong đại đa số các trường hợp người ta lý luận để bảo vệ một kết luận đã có sẵn, và kết luận này, khi không phải do tham vọng và quyền lợi, thường đến từ vô thức, từ những nguyện ước ấp ủ lâu ngày, từ những ám ảnh, kỷ niệm và thành kiến, từ những tập quán và giá trị do xã hội áp đặt. Nói chung là từ quá trình hình thành của mỗi con người. Như đã nói ở phần trên, chủ nghĩa cộng sản đã xuất hiện như một giải đáp cho nhiều ước vọng đã tích lũy từ lâu, quá lâu. Người ta ủng hộ nó bởi vì người ta chờ đợi nó và người ta không muốn nghe những lập luận phản bác, ngay cả khi dựa trên những bằng chứng xác thực, bởi vì người ta đã kết luận rồi và không muốn đổi ý kiến. Phong trào cộng sản, với những tác hại kinh khủng của nó, nhắc nhở một kinh nghiệm lịch sử : những thay đổi cần thiết bị trì hoãn quá lâu đến khi bắt buộc phải tới thì thường tới một cách rất tàn khốc.


Lý do thứ hai là sự mê hoặc của bạo lực. Bạo lực không phải là đặc tính riêng của phong trào công sản. Nó xuất hiện ở khắp nơi, Balkan, Nigeria, Sudan, Rwanda, Iraq, Afghanistan... Bản năng bạo lực có trong mỗi người và nằm trong bản chất của con người. Cho đến môt ngày gần đây, khi dân chủ xuất hiện như là một phương thức tổ chức xã hội cho phép giải quyết những mâu thuẫn một cách văn minh, mọi chính quyền đều đã thành lập nhờ bạo lực và được duy trì bằng bạo lực. Con người sống dưới bạo lực và chịu đựng bạo lực trong suốt quá trình tiến hóa. Người ta vừa ghê sợ vừa ham muốn nó. Bạo lực cũng có tính lãng mạn của nó. Trong mỗi con người đều vẫn còn một tên sát nhân phải kiềm chế. Chủ nghĩa cộng sản đã thả lỏng tên sát nhân này và thoả mãn một bản năng. Cũng nên biết rằng khủng bố mới chỉ bị lên án gần đây thôi, trước đây nó được coi là dũng cảm, anh hùng. Che Guevara đã là một thần tượng của tuổi trẻ trong thập niên 1960.


Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lan rộng trên thế giới không phải vì giá trị lý luận của nó mà vì nó là một dụng cụ rất hiệu lực để cướp và giữ chính quyền. Nó phù hợp với những tham vọng quyền lực. Mao Trạch Đông không cần biết tới triết lý của Marx, ông chỉ đọc những sách cổ Trung Hoa. Hồ Chí Minh, theo chính lời ông thuật lại, đã chọn chủ nghĩa Mác-Lênin khi vừa mới nghe nói tới nó và trong suốt cuộc đời chưa hề có một đóng góp lý luận nào cho chủ nghĩa này. Cũng như Đảng Cộng Sản Liên Xô, cả hai đảng cộng sản Trung Quốc và Việt Nam đều đã là những đảng khủng bố và thành công nhờ khủng bố. Không có gì đáng ngạc nhiên là khi nắm được chính quyền họ đã đập phá, và khi đã ngừng đập phá để xây dựng thì họ bối rối. Xây dựng không phải là chức năng cũa chủ nghĩa Mác-Lênin.


Vấn đề của chúng ta là ra khỏi chủ nghĩa này. Đúng hơn là chấm dứt giai đoạn hậu cộng sản đã bắt đầu từ nhiều năm nay. Nghĩa là đoạn tuyệt với văn hóa Mác-Lênin và giải quyết những di sản của nó, một di sản đầy máu và nước mắt, đầy tội ác, ức hiếp và thù hận. Sức sống hiện nay của chế độ cộng sản chủ yếu là sự lo sợ trước viễn ảnh phải trả lời về những tội ác và phải sòng phẳng với quá khứ. Chúng ta sẽ chỉ có giải đáp nếu hiểu, bằng cả lý trí và tấm lòng, hiện tượng cộng sản và tìm ra được một cách đúng để nhìn nó và nghĩ về nó.

Chúng ta đã thảo luận nhiều về tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc. Một cách để chấp nhận tinh thần này là nhìn giai đoạn cộng sản như một cơn điên của dân tộc Việt Nam trong một cơn điên chung của cả thế giới. Không thể tìm kiếm sự hợp lý trong một cơn điên và cũng không nên đặt vấn đề trách nhiệm trong một cơn điên. Vấn đề chỉ là hàn gắn những đổ vỡ.


Nguyễn Gia Kiểng


Share/Save/Bookmark

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2009

Thế mạnh của Việt Nam trước Trung Quốc: dân chủ (Tổ Quốc)

Nguồn : e-ThongLuan

Báo Tổ Quốc

“…Ưu thế vượt trội của Việt Nam là có thể trở thành một nước dân chủ với cùng lãnh thổ và cấu trúc sắc tộc hiện nay trong khi Trung Quốc khó có thể dân chủ hoá mà vẫn thống nhất. Dùng vũ khí dân chủ là lấy phẩm đế địch với lượng, lấy chính nghĩa làm sức mạnh, và đặt Trung Quốc vào thế yếu…”

Không gì có thể giải thích dự án khai thác bauxít tại Tây Nguyên. Một cách giản dị: nó không thể tưởng tượng nổi, lợi tức không bao nhiêu mà sự tàn phá môi trường thì thật kinh khủng. Bằng cớ là chính Trung Quốc cũng đã phải bỏ dở những công trường tinh lọc bauxit của họ tại Vân Nam và Mãn Châu.

Giả thuyết duy nhất là chính quyền cộng sản Việt Nam đã phải miễn cưỡng nhượng bộ cho Trung Quốc khai thác bauxit Tây Nguyên đổi lại với việc cắm mốc biên giới Việt Trung. Nhiều sự kiện bênh vực giả thuyết này: dự án được công bố cùng thời điểm với việc hoàn tất cắm mốc; Trung Quốc đã đem người của họ vào Tây Nguyên thay vì dùng công nhân Việt Nam dù khai thác bauxit không đòi hỏi một kỹ năng chuyên môn nào; chính quyền CSVN không đàn áp những tiếng nói phản đối và giữ im lặng; một hội nghị chuyên gia cũng được tổ chức ngay tại Hà Nội về tranh chấp Việt – Trung trên Biển Đông.

Nhượng bộ để được cắm mốc biên giới chỉ là một chọn lựa chua xót để giới hạn những mất mát. Chúng ta có cách giữ nước vinh quang hơn nhiều. Yếu tố quyết định hiện nay là tranh thủ các sắc tộc vùng biên giới. Nếu chỉ thi đua mua chuộc thì chúng ta tuyệt vọng bởi vì Trung Quốc lớn hơn ta nhiều lần và cũng giầu có hơn hẳn. Nhưng chúng ta có một vũ khí tự vệ khác, cũng là vũ khí vô địch: dân chủ. Nếu chúng ta là một nước dân chủ trong đó tự do và nhân phẩm của mọi người được tôn trọng thì dù Trung Quốc có đổ ra bao nhiêu tỉ Nhân Dân Tệ để mua chuộc, các sắc tộc Hà Nhì, Giáy, Dao, Hmông, Nùng, Tày, cả người Hoa ở Quảng Ninh và cả người Chuang ở Quảng Tây cũng vẫn muốn làm công dân Việt Nam. Ưu thế vượt trội của Việt Nam là có thể trở thành một nước dân chủ với cùng lãnh thổ và cấu trúc sắc tộc hiện nay trong khi Trung Quốc khó có thể dân chủ hoá mà vẫn thống nhất. Dùng vũ khí dân chủ là lấy phẩm đế địch với lượng, lấy chính nghĩa làm sức mạnh, và đặt Trung Quốc vào thế yếu.

Lựa chọn dân chủ đòi hỏi từ bỏ dứt khoát chủ nghĩa Mác-Lênin. Đó cũng là điều phải làm ngay cả nếu không bị chèn ép. Chủ nghĩa Mác-Lênin chưa bao giờ là một chủ nghĩa để xây dựng một quốc gia. Nó là chủ nghĩa của hận thù và nội chiến, sai hoàn toàn về mọi mặt. Từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin là điều khó khăn nhưng phải làm đối với Đảng Cộng Sản, nếu không muốn bị đào thải vĩnh viễn và chỉ được nhớ đến sau này như một giai đoạn đen tối trong lịch sử nước ta.

Ban biên tập
Nguồn: báo Tổ Quốc, số 61 (01/04/2009)


Share/Save/Bookmark

Suy nghĩ về môi trường dân chủ Việt Nam (Nguyễn Hoàng)


Nguồn : e-ThongLuan

Nguyễn Hoàng

“...Tương quan lực lượng đang nghiêng hẳn về Nhà cầm quyền CSVN, phong trào đối kháng Việt Nam chưa đủ sức để tạo ra áp lực. Mặc dù rất mạnh, nhưng nhà cầm quyền Việt Nam cũng có những điểm yếu. Các hiệp sĩ dân chủ đã đang đánh trúng vào điểm yếu của CSVN, giống như gót chân Achilles...”

1.

Từ cuối những năm 1980, đầu năm 1990, nhân loại đã được tận mắt chứng kiến sự sụp đổ liên tiếp của các nhà nước độc tài CS tại Đông Âu và Liên bang Xô Viết sau 70 năm tồn tại. Chế độ chính trị Cộng sản toàn trị được thay thế bằng chế độ nghị viện, dân chủ cởi mở tại các quốc gia này. Vào thời điểm đó, những tưởng cơn lốc cách mạng nhung và hoa sẽ nhanh chóng xoá tan chính quyền chuyên chế tại các quốc gia CS còn lại. Tiếc thay, nó đã bị chặn đứng tại Thiên An Môn đầu tháng 6 năm 1989.

Trái với dự báo và kỳ vọng của nhiều người, đến nay Việt Nam là một trong những quốc gia nhất nguyên chính trị ít ỏi còn sót lại trên thế giới. CS Việt Nam không những chưa bị sụp đổ, xem ra ngày càng mạnh lên với sách lược đổi mới. Có nhiều câu hỏi được đặt ra cho các nhà dân chủ, bất đồng chính kiến, phản kháng chính trị Việt Nam. Một trong những câu hỏi lớn chưa có câu trả lời thấu đáo là: tại sao những nhà dân chủ tại các quốc gia Đông Âu và Liên Xô (cũ) đã thành công trong việc kêu gọi dân chúng đứng lên xoá bỏ độc tài, Việt Nam thì chưa? Phải chăng, chính quyền Việt Nam giỏi hơn các chính quyền CS Đông Âu và Liên Xô (cũ); những nhà dân chủ, phản kháng chính trị, bất đồng chính kiến Việt Nam kém cỏi nên chưa tạo ra được một cuộc cách mạng màu và hoa ở Việt Nam? Để làm sáng tỏ những vấn đề này, theo tôi cần nghiên cứu môi trường dân chủ Việt Nam.

Trước hết, về môi trường dân chủ Việt Nam. Khác với các quốc gia CS Đông Âu đã bị triệt tiêu, chính quyền CS Việt Nam được tuyên bố thành lập năm 1945, sau đó ở miền Bắc năm 1954 và cả nước sau năm 1975 đều do những người Cộng sản chủ động. Lịch sử chống ngoại xâm, giành chính quyền của đảng CSVN mặc dù phải trả bằng rất nhiều máu của nhiều thế hệ người Việt Nam. Đây là điểm khác biệt giữa những người CSVN với CS Đông Âu. Chính quyền tại các quốc gia này do người Nga dựng nên sau thế chiến thứ hai (1945), chế độ chính trị CS toàn trị do người Nga áp đặt. Sự khác biệt này dễ dàng được nhìn thấy từ mức độ tin cậy của dân chúng đối với nhà cầm quyền. Cuộc chiến chống ngoại xâm và bản lĩnh kiên cường bám dân của những đảng viên kiên trung đã tạo nên sức mạnh thần thánh cho đảng CSVN trong sứ mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Nhà văn Hà Văn Thuỳ đã rất đúng khi nhận xét về mối quan hệ giữa dân và đảng CSVN từ sự kiện nông dân Thái Bình đứng lên phản kháng chính quyền địa phương qua bài viết “Bài học chưa thuộc”. Ông viết: “Người Nông dân Thái Bình biểu tình có thể đánh chém kẻ tham nhũng, ném đồ dơ của phụ nữ vào mặt quan chức. Nhưng trong cuộc trưng cầu dân ý vẫn có đến 90% người ủng hộ chế độ! Tại sao vậy? Lý do đơn giản: dù có sai có hư hỏng thì đảng vẫn gắn với họ. Họ không chấp nhận những kẻ trắng má lạ mặt từ đâu tới ngồi trên đầu mình”(1). Đây là căn cứ phản bác các quan điểm cho rằng, dân tộc Việt Nam dũng cảm trong đấu tranh chống ngoại xâm bao nhiêu, thì lại hèn nhát trong thời bình bấy nhiêu cũng như quan điểm cần nâng cao dân trí cho nhân dân để thúc đẩy đấu tranh dân chủ. Chẳng lẽ, cho đến nay, người dân Việt Nam vẫn chưa đủ khả năng để nhận biết được những giá trị dân chủ, các quyền tự do cá nhân đang bị nhà cầm quyền tước đoạt? Âu cũng là lý do giải thích câu hỏi tại sao dân oan lại giương cao ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh, băng rôn ủng hộ đảng CSVN bên cạnh những yêu sách và danh tánh quan tham trong dòng người biểu tình. Những hình ảnh này trở thành quen thuộc dưới con mắt dân chúng Việt Nam.

Thế đấy, đảng CSVN cứ như là một tôn giáo ru ngủ nhân dân, nhất là nông dân. Đây cũng là câu trả lời cho những ai thắc mắc tại sao đảng CSVN ra tay đàn áp mạnh những ai bí mật rải tờ rơi dân chủ, nhẹ tay hoặc chưa “chăm sóc” xứng tầm những trang web, báo điện tử có nội dung dân chủ. Bộ máy đàn áp của đảng CSVN có đầy đủ khả năng để đo được mức độ ảnh hưởng dân chủ từ internet trong dân chúng. Rất có thể mức độ chưa đáng kể nên họ chưa ra tay bắt tất cả những ai có tên trong biên tập các báo điện tử Tự do ngôn luận của Khối 8406 do linh mục Nguyễn Văn Lý sáng lập, hiện nay là linh mục Phan Văn Lợi điều hành, báo Tổ Quốc của TS Nguyễn Thanh Giang và ông Nguyễn Gia Kiểng điều hành. Linh mục Phan Văn Lợi chỉ bị triệu tập thẩm vấn, bị đấu tố mấy lần. Ông Nguyễn Gia Kiểng ở bên Tây, khỏi nói. TS Nguyễn Thanh Giang cũng chỉ dừng lại bị khám nhà, thu máy tính và triệu tập sơ sơ mấy ngày. Tương tự, kỹ sư Đỗ Nam Hải chưa bị tống giam, bị phạt hành chính mấy chục triệu đồng, bị tịch biên hàng chục máy tính và quan trọng là đã được Công an tạo điều kiện cho đầu hàng. Trong lúc đó, bác sĩ Lê Nguyên Sang, ký giả Huỳnh Nguyên Đạo, kỹ sư Nguyễn Bắc Truyển, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, ông Nguyễn Văn Tính, cô Phạm Thanh Nghiên, anh Phạm Văn Trội,… bị bắt giam, kết án khá nặng về tội rải tờ rơi, treo băng rôn dân chủ theo điều 88 của Bộ luật hình sự.

Lịch sử Việt Nam đã từng có những trang đẹp nói về một Nhà nước dân chủ đa nguyên do ông Hồ Chí Minh thành lập sau cách mạng tháng Tám năm 1945. Dân tộc Việt Nam đã có những năm tháng được quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền tự do lựa chọn lãnh đạo đất nước qua lá phiếu của mình và được bảo vệ bởi Hiến pháp văn minh nhất lịch sử Việt Nam. Đó là Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Đáng tiếc, Nhà nước dân chủ vì dân, do dân ấy đã sớm chấm dứt, để lại “nỗi đau dân chủ”(2) cho nhiều thế hệ trí thức Việt Nam. Để rồi, 30 năm sau giành lại chính quyền (năm 1975), đảng Lao động Việt Nam hoá phép thành đảng CSVN, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trở thành nước CHXHCN Việt Nam. Kể từ đó, đảng Cộng sản Việt Nam trở thành thế lực chính trị độc tôn cai trị quốc gia với gần 90% là nông dân do họ “giải phóng". Mãi cho đến hôm nay, xem ra họ vẫn chưa có đối thủ. Ngoài ra, khác với Chính quyền các nước CS Đông Âu, đảng CSVN đã tạo dựng và nuôi dưỡng bộ máy đàn áp đồ sộ về phương tiện và nhân sự (chủ yếu xuất thân từ nông thôn), tinh vi trong tác nghiệp, hết mực trung thành với họ. Đây chính là một trong những trở ngại lớn nhất đối với các phong trào phản kháng chính trị, bất đồng chính kiến của các nhà dân chủ trong nước. Rõ ràng, môi trường dân chủ Việt Nam hoàn toàn khác với các nước Đông Âu và Liên Xô (cũ), tương quan lực lượng giữa nhà cầm quyền và phản kháng chính trị quá chênh lệch. Sự chênh lệch quá lớn này trên thực tế đã, đang là thách thức thường xuyên đối với phong trào phản kháng chính trị, bất đồng chính kiến. Đồng thời, nó cũng là cơ hội cho những người háo danh, vụ lợi vào cuộc.

2.

Như đã nêu trên, môi trường dân chủ Việt Nam rất khắc nghiệt, sự tương quan lực lượng hoàn toàn bất lợi cho phong trào phản kháng chính trị, đấu tranh dân chủ. Để củng cố vai trò độc tôn lãnh đạo xã hội của mình, ngoài việc Hiến định trong điều 4; đảng CSVN đã thẳng tay trừng trị những người phản kháng chính trị qua các vụ án nhân văn giai phẩm (1958), chống đảng (1967). Sau này là các vụ án gián điệp, lợi dụng quyền tự do dân chủ, tuyên truyền phản cách mạng và một số tội danh khác như trốn thuế, gây rối, huỷ hoại tài sản Nhà nước,…theo các điều 80, 88, 258,…của Bộ luật hình sự. Mặc dù bị đàn áp khốc liệt, hàng loạt anh chị em bị tống giam, nhưng phong trào phản kháng chính trị, đấu tranh dân chủ tại Việt Nam tiếp tục được dấy lên tại nhiều địa phương trong cả nước. Phong trào phản kháng chính trị, đấu tranh dân chủ thời gian qua diễn ra theo nhiều khuynh hướng khác nhau, nổi lên là hai khuynh hướng dưới đây:

Thứ nhất, liên kết với hải ngoại để hình thành tổ chức chính trị đối lập. Đứng đầu khuynh hướng là những nhà dân chủ xuất thân từ những hoàn cảnh điều kiện sống, tôn giáo và trình độ khác nhau. Điểm nổi trội của khuynh hướng này là phương pháp đấu tranh cứng rắn, internet là công cụ hữu hiệu để họ phô bày danh xưng, tấn công nhà cầm quyền, công bố tổ chức. Đây là khuynh hướng đã quy tụ được nhiều người tham gia, tạo được dấu ấn trong năm 2006, năm thời cơ vàng dân chủ. Vào thời điểm đó, chúng ta chứng kiến hàng loạt danh xưng dân chủ, chính trị liên tiếp xuất hiện trên Internet. Đầu tháng 4 năm 2006, Tuyên ngôn Tự do dân chủ cho Việt Nam, sau này gọi tắt là Khối 8406 được linh mục Nguyễn Văn Lý, kỹ sư Đỗ Nam Hải công bố cùng với 118 anh em trong nước ký tên. Sau đó, đầu tháng 6 năm 2006, giáo sư Hoàng Minh Chính tuyên bố phục hoạt đảng Dân Chủ Việt Nam dưới danh xưng đảng Dân Chủ XXI. Tiếp theo là các đảng Dân Chủ Nhân Dân, đảng Thăng Tiến Việt Nam, Công Đoàn Độc Lập, Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam, đảng Vì Dân, hội Dân Oan tuyên bố thành lập tại Việt Nam. Nhiều hình thức phản kháng chính trị xuất hiện nhằm tuyên truyền danh xưng, kêu gọi dân chúng đứng lên lật đổ chính quyền chuyên chế. Trong đó, hình thức lập báo điện tử và bí mật rải tờ rơi đã gây ảnh hưởng nhất định trong dân chúng. Lúc đó vào mạng, nhiều người lạc quan nhận định anh em dân chủ Việt Nam sẽ làm nên chuyện như các bạn Đông Âu trước đây.

Nhưng thực tế ngược lại, sau khi tổ chức xong APEC 14, Hà Nội ra tay đàn áp. Một số anh chị em dân chủ bị bắt, phong trào phản kháng chính trị bị tổn thất về lực lượng. Có rất nhiều ý kiến đánh giá khác nhau về giai đoạn mang tính dấu ấn này của phong trào phản kháng chính trị theo chủ trương cứng rắn. Theo đó, có nhiều ý kiến thống nhất đánh giá phong trào bị tổn thất, rơi vào thoái trào. Một số ý kiến, trong đó có kỹ sư Đỗ Nam Hải tiếp tục có cái nhìn lạc quan về phong trào. Gần đây, anh tiếp tục chỉ trích mạnh mẽ ý kiến của Nguyễn Vũ Bình theo hướng này. Nhiều bài học cũng đã được rút ra. Thiết nghĩ, chẳng cần phải bình luận gì nhiều. Chỉ tiếc rằng anh em với những động cơ khác nhau đã không nắm vững môi trường dân chủ khắc nghiệt trong nước, đã để cho sự nóng vội chi phối. Sự nóng vội, sợ mất thời cơ đã làm cho nhiều anh em bỏ qua những nguyên lý căn bản nhất của một tổ chức là cương lĩnh và quy chế hoạt động. Hầu hết các danh xưng này được “sản xuất” một cách vội vàng, công bố lên mạng từ PC. Thực trạng này, được ông Lữ Phương (trong nước) và ông Nguyễn Gia Kiểng (ở Pháp) mô tả, phân tích sâu sắc trong các bài viết “Nói chuyện với Lữ Phương về vấn đề Dân chủ hoá ở Việt Nam” do Đoàn Giao Thuỷ thực hiện qua internet xuất hiện trên trang web Diễn Đàn ngày 28 tháng 7 năm 2007 và “Thời điểm của một xét lại bắt buộc” trên báo điện tử Thông Luận. Sự nóng vội đã làm cho anh em quên vận hành bộ lọc, tỉnh táo, xảy ra nhiều sơ hở cho mật vụ cấy dân chủ cuội, lèo lái hướng đi. Vấn đề này, ông Hà Sĩ Phu đã từng hoá thân làm “người quan sát” phân tích rất kỹ. Để rồi, khi bị tổn thất, anh em mới nghiền ngẫm đến nó.

Gần đây, trên mạng liên tục xuất hiện những bài viết có nội dung “sàng lọc” của nhiều người… Nếu nói là “đấu tố” thì có vẻ nặng, nhưng khi đọc các bài viết của họ, lòng tin vào phong trào dân chủ có bị xói mòn nghiêm trọng. Đã có người từng nói “dân chủ hay dân chửi”, quả không ngoa. Sự thiếu vắng văn hoá tổ chức, không ai chịu ai đang là thảm hoạ của anh em dân chủ trong nước. Công an mật vụ chẳng thấy đâu, chỉ thấy anh em tự vạch, xé áo của nhau, lòi hết vết ra, đau đớn quá. Đến giờ này, nhiều người không hiểu được ai là người chủ trương phát động cuộc “sàng lọc” này và mục tiêu nhắm tới là gì. Có ý kiến cho rằng, sau khi giáo sư Hoàng Minh Chính qua đời, phong trào phản kháng chính trị Việt Nam thiếu ngọn cờ, vì vậy “sàng lọc” được sử dụng như là lý do hợp lý của một số một số anh em hoạt động nổi trội nhằm loại bỏ nhau, nuôi tham vọng trở thành ngọn cờ. Cờ đâu chẳng thấy, chỉ thấy phong trào vốn đang bị khủng hoảng, nguy cơ ly khai ngày càng trở nên rõ rệt hơn.

Sự liên kết trong, ngoài là nhu cầu bức thiết của phong trào dân chủ, không ai có thể phủ nhận được. Tuy nhiên, sự liên kết này chỉ có hiệu quả khi nó thực sự dân chủ, bình đẳng và không vụ lợi. Điều này sẽ được chứng minh rõ hơn, nếu chúng ta nhìn vào hai tổ chức nổi trội trong nước là đảng Dân Chủ Việt Nam và Khối 8406. Với Đảng Dân Chủ Việt Nam, do lệ thuộc vào bên ngoài, GS Hoàng Minh Chính đã đánh mất tự chủ, không còn là trung tâm của phong trào. Quyết định của giáo sư Hoàng Minh Chính không những không quy tụ được anh em dân chủ trong nước, vốn kính trọng suy tôn anh cả, mà đã làm cho phong trào bị rách thành nhiều mảnh. Kết cục, khi giáo sư qua đời, đảng Dân Chủ Việt Nam do bên ngoài chi phối hoàn toàn, anh em trong nước quay lưng lại. Và phụ tá của giáo sư - nhà nghiên cứu Trần Khuê, cũng phải tuyên bố ly khai, tự phong Tổng thư ký đảng Dân Chủ XXI với một số lượng đảng viên khiêm tốn, chủ yếu đang tiềm ẩn trong dân chúng.

Khác với đảng Dân Chủ Việt Nam, sau khi linh mục Nguyễn Văn Lý bị bắt giam, Khối 8408 do kỹ sư Đỗ Nam Hải điều hành đi theo xu hướng ôn hoà, thoả hiệp nhiều hơn là loại bỏ. Bản tuyên bố 9 điểm mới đây của Khối 8406 đã thể hiện rõ xu hướng này. Trước khi linh mục Nguyễn Văn Lý bị bắt, Khối 8406 chủ trương đấu tranh dân chủ cứng rắn với chính quyền. Linh mục Nguyễn Văn Lý, Phan Văn Lợi và Nguyễn Hữu Giải đã từng tuyên bố, nếu chính quyền “đụng” đến bất kỳ một thành viên nào của Khối, lập tức họ sẽ tuyệt thực để phản đối; công khai kêu gọi dân chúng tẩy chay bầu cử Quốc hội khoá 12, nếu bị bắt buộc thì xé phiếu; tuyên bố mặc áo trắng (tượng trưng dân chủ) vào các ngày đầu tháng, ngày 2/9/1945 là ngày quốc nạn của tuyệt đại đa số người dân Việt Nam;... Nhưng nay đã khác, sự chệch hướng của Khối đang làm xuất hiện nguy cơ ly khai.

Môi trường dân chủ khắc nghiệt Việt Nam, trên thực tế là thách thức đối với anh chị em hoạt động dân chủ đích thực. Nhiều anh chị em đã bị tống giam, quản thức, rình rập và liên tục bị quấy nhiễu. Đồng thời, là môi trường cho một số người lợi dụng, vụ lợi. Không cần nêu tên, chúng ta đã biết ai đã hoạt động dân chủ để được người Mỹ chú ý, được tị nạn chính trị. Trong các bài viết “sàng lọc” vừa qua, người đọc dễ dàng nhận ra sự chi phối của tiền bạc. Xấu hổ. Nhưng đó là sự thật. Đấu tranh dân chủ như là một việc làm để kiếm tiền vậy. Có không ít bài viết, trả lời phỏng vấn dân chủ nhạt nhẽo, nhàm chán đến độ người đọc người nghe có cảm giác họ đang cố “gồng” lên để được tài trợ, để được giải thưởng nhân quyền.

Thứ hai, những nhà bất đồng chính kiến, kiên định vạch ra những quan điểm sai trái về lý luận, thực tiễn của đảng CSVN, cũng như vai trò lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có thể nói, số anh em này như là những hiệp sĩ dân chủ. Họ là trí thức, lựa chọn con đường vào rừng tham gia giải phóng dân tộc, có người đã từng giữ cương vị nhất định trong đảng CSVN. Qua trải nghiệm, họ đã nhận ra những sai lệch của cái gọi là học thuyết Marx - Lénine, thực chất là do Staline áp đặt mà đảng CSVN sử dụng làm tư tưởng hành động. Họ cũng đã đi sâu phân tích công tội của ông Hồ Chí Minh trong việc dựa vào học thuyết này để giải phóng dân tộc. Từ đó, họ đã quyết định tự khai trừ để được tự do nghiên cứu, trình bày quan điểm của mình. Họ không hề tỏ ra hối tiếc vì đã lựa chọn con đường vào rừng tham gia kháng chiến, đã từng là “đồng chí” của đảng CSVN. Sau khi ly khai, họ độc lập nghiên cứu, nêu quan điểm của mình, không chịu ảnh hưởng của bất cứ một tổ chức, cá nhân hải ngoại. Họ đã nhiều lần cảnh báo sự bất cập về kinh tế thị trường định hướng XHCN, sự chủ đạo của kinh tế quốc doanh, nguy cơ của chủ nghĩa bành trướng hiện đại Trung Quốc, tham nhũng trong bộ máy công quyền và nhiều vấn đề bức xúc của dân chúng. Trong số họ, đã có người thẳng thắn đề nghị đảng CSVN cần loại bỏ chủ nghĩa ngoại bang, lấy chủ nghĩa dân tộc, yêu nước của ông Hồ Chí Minh làm tư tưởng hành động. Đọc hồi ký bản thảo chuyền tay “Những chuyến ra đi” và các bài viết về Hồ Chí Minh, học thuyết Marx của ông Lữ Phương, nhiều anh chị em trí thức trong nước, đảng viên CSVN thức tỉnh. Hơn ai hết, chính các ông Lữ Phương, Phan Đình Diệu, Nguyễn Quang A, Lê Hồng Hà, Lê Đăng Doanh, Bùi Minh Quốc.. đã đang gây men dân chủ, thúc đẩy quá trình tự vỡ của đảng CSVN diễn ra nhanh hơn, thu hút ngày càng nhiều đảng viên chân chính đảng CSVN ủng hộ tiến trình dân chủ hoá Việt Nam. Trái ngược với khuynh hướng thứ nhất, đây là khuynh hướng dân chủ tri thức, không ồn ào, có chiều sâu, ngày càng có sức sống trong giới trí thức và một số đảng viên chân chính của đảng CSVN.

Sau khi đọc xong các chuỗi bài “Đối mặt” của ông Vi Đức Hồi trên báo Thông Luận điện tử, hình ảnh tương phản của các hiệp sĩ dân chủ nêu trên càng trở nên sắc nét. Bởi hình ảnh của họ có phần khác với ông Vi Đức Hồi. Giữa họ có điểm giống nhau, có thời gian dài gắn bó với đảng CSVN, đã từng là “đồng chí” của nhau. Trước khi ly khai, ông Hồi giữ cương vị là thường vụ huyện uỷ, phụ trách trường đảng của huyện Hữu Lũng. Sau khi ly khai, ông Hồi đã không tiếc lời lên án đảng CSVN, kết nối với các tổ chức hải ngoại để hoạt động dân chủ.

3.

Ông Andrei Amalrik, nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng người Nga, đã từng so sánh một nhà nước chuyên chế như một người lính luôn chĩa súng vào kẻ thù - rốt cuộc cánh tay ấy sẽ mỏi mệt và người tù trốn thoát. Có thể, sự so sánh trên chỉ đúng với Đông Âu và Liên Xô (cũ). Nhà nước chuyên chế Việt Nam do đảng CSVN nắm giữ, có những đặc điểm riêng, cánh tay của họ rất đặc biệt - không mỏi mệt (!). Thực tế đã chứng minh rõ điều này. “Cánh tay” đặc biệt đã làm cho lực lượng đối kháng mỏi mệt không những chĩa súng thẳng vào đối kháng, mà còn nhẹ nhàng len lỏi vào phong trào đối kháng, tạo ra sự biệt phái, dân chủ cuội, nguy cơ tự vỡ thường xuyên xuất hiện.

Vô hiệu hoá “cánh tay” đặc biệt của nhà cầm quyền CSVN, rõ ràng là nhiệm vụ hàng đầu của phong trào phản kháng chính trị Việt Nam. Đây nhiệm vụ cực kỳ khó khăn, nhưng không có nghĩa là không làm được. Tương quan lực lượng đang nghiêng hẳn về Nhà cầm quyền CSVN, phong trào đối kháng Việt Nam chưa đủ sức để tạo ra áp lực. Mặc dù rất mạnh, nhưng nhà cầm quyền Việt Nam cũng có những điểm yếu. Các hiệp sĩ dân chủ đã đang đánh trúng vào điểm yếu của CSVN, giống như gót chân Achilles. Các điểm yếu đó là sự khủng hoảng về lý luận, các quan điểm bao biện về kinh tế thị trường định hướng xã hội chũ nghĩa, tham nhũng… Bị điểm huyệt, nội bộ cầm quyền Việt Nam bị phân hoá. Một cuộc cách mạng trong đảng CSVN chắc chắn sẽ xảy ra. Xu hướng cấp tiến thân Mỹ sẽ thắng thế, bảo thủ thân Tàu sẽ mất vai trò. Theo đó, dân chủ đích thực sẽ được thiết lập, Nhà nước Việt Nam dân chủ và cộng hoà sẽ được tái lập trên đất nước Việt Nam. Và chắc chắn “cánh tay” đặc biệt của CSVN sẽ bị mỏi mệt khi các khuynh hướng dân chủ Việt Nam liên kết được với nhau, việc sàng lọc được chú trọng thường xuyên và văn hoá tổ chức được đề cao.

Nguyễn Hoàng


(1) Hà Văn Thuỳ, “Bài học khó thuộc”. Talawas, ngày 19/05/2005.
(2) Phạm Đình Trọng, “Nỗi đau dân chủ”. Thông Luận, ngày 01/01/2009.

© Thông Luận 2009

Share/Save/Bookmark

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2009

Bài học về "Anh Đuốc Sống Lê Văn Tám" (Đỗ Mai Lộc)


Nguồn : e-ThongLuan

Đỗ Mai Lộc

“…giáo dục các cháu căm thù đế quốc phương Tây, không nhắc nhở các cháu cảnh giác láng giềng phương Đông. Trong khi kẻ thù phương Đông lúc nào cũng muốn "nuốt sống" nước ta trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc…”

1.
Chuyện có thật 100%, xảy ra giữa tháng 3 năm 2009.

Học sinh lớp 4A trường tiểu học Trần Hưng Đạo thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, là trường tiểu học tốt nhất của tỉnh.

Nguyên văn bài học về "Anh Đuốc Sống Lê Văn Tám":
Lê Văn Tám là con một gia đình nghèo, quê ở ĐaCao, Sài Gòn. Cảnh nhà túng thiếu Tám phải đi rong các phố bán lạc rang, Tám thường đi lân la tới một kho xăng, kho đạn của giặc. Căm thù giặc sôi sục, Tám tự đốt thân mình để làm cây đuốt sống, ngọn lửa bùng lên rồi tiếng nổ rền vang, kho đạn của giặc bị tiêu huỷ hoàn toàn. Sau này đồng bào Sài Gòn và nhân dân cả nước nhắc tới gương oanh liệt hi sinh vì đất nước, vì dân tộc của Lê Văn Tám, đều quen gọi người thiếu niên anh hùng dũng ấy là "Anh Đuốc Sống"

bản chép tay bài học từ tập vở một học sinh


Các cháu ngoan Bác Hồ phải thuộc lòng bài học !

Tôi hỏi các cháu học trường nào, các cháu rất ngoan: "Dạ, cháu học trường Tiểu học Trần Hưng Đạo". Tôi hỏi tiếp: "Trần Hưng Đạo là ai", tất cả các cháu đều không biết.

(Cũng nói thêm chỗ này: Trường tiểu học Trần Hưng Đạo gần với trường trung học Trần Quốc Tuấn, nhưng nhiều tú tài tương lai rất tự tin cho rằng Trần Quốc Tuấn và Trần Hưng Đạo là hai anh em, Trần Quốc Tuấn là anh nên đặt tên trường cấp 3 còn Trần Hưng Đạo là em nên đặt tên trường cấp 1, cấp 2)

2.
Lời ngỏ kính gửi các nhà hoạch định quốc sách giáo dục cho Việt Nam, và các nhà sử học có lương tri.

Hãy xem xét nghiêm túc bài lịch sử học thuộc lòng của học sinh lớp Bốn, với 115 từ không phải là ngắn này đã để lại cho các cháu những ấn tượng vào đời như thế nào. Đó là:

1. Sự dối trá: học thuộc lòng và kể về một nhân vật lịch sử ảo được tạo ra từ sự hoang tưởng; phải chăng sự dối trá được giáo dục trở thành bản năng để tương lai điều hành đất nước.

2. Lòng thù hận: căm thù giặc sâu sắc đến mức chấp nhận tự huỷ hoại thân thể.

3. Phản khoa học: một thiếu niên tự đốt thân mình lao vào đốt kho xăng, kho đạn, phủ nhận bản năng sống và các phản xạ sinh học.

4. Tính kiêu ngạo dốt nát: một thiếu niên vẫn dễ dàng đốt kho xăng kho đạn của giặc chỉ với lòng căm thù.

5. Bản chất hèn nhát: không dám dạy cho các em về tấm gương chống phương Bắc xâm lược là Đức Thánh Trần, đến nổi các em không biết Trần Hưng Đạo là ai.

6. Lịch sử bất công: giáo dục các cháu căm thù đế quốc phương Tây, không nhắc nhở các cháu cảnh giác láng giềng phương Đông. Trong khi kẻ thù phương Đông lúc nào cũng muốn "nuốt sống" nước ta trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc...

Đỗ Mai Lộc

© Thông Luận 2009

Bài liên quan:

• Hàn Lệ Nhân, « Văn hoá nói thật, văn hoá nói láo». Thông Luận, ngày 21/10/2006.

Share/Save/Bookmark

Tính “chính / nguỵ” của quyền lực nhà nước (2)

Nguồn : talawas blog
Tác giả: La Thành

Chế độ đương cuộc ở Việt Nam: cội nguồn nào cho chính nghĩa?

.oOo.

“Tất yếu lịch sử” hay học thuyết thiên mệnh mới?

Vào thời điểm đánh máy những dòng này, người viết bài đã vào trang liên mạng www.dangcongsan.vn, gõ vào cửa sổ tìm kiếm cụm từ tất yếu lịch sử, nhấn nút sưu tra và được trình duyệt trả lại trên tám mươi kết nối. Sau đây là một trích đoạn điển hình từ một trang kết quả:

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một tất yếu lịch sử, phản ánh điều kiện khách quan và chủ quan đã chín muồi trong dòng vận động lịch sử của dân tộc cũng như trào lưu chung của cách mạng thế giới. Sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội là tất yếu khách quan. Không phải ngẫu nhiên mà lịch sử trao cho Đảng sứ mệnh thiêng liêng đó. Trước năm 1930, ở Việt Nam có nhiều Đảng và phong trào yêu nước ra đời và đã từng thử nghiệm là vai trò của quần chúng.[1] Các tổ chức này và lãnh tụ của họ không thiếu gì đức tính dũng cảm, hy sinh quên mình, nhưng do có hạn chế về thế giới quan và hệ tư tưởng cho nên rút cuộc bị thất bại và tan rã.


Từ năm 1930 trở đi, trên vũ đài chính trị nước ta cũng xuất hiện một số đảng phái khác như Việt Quốc, Việt Cách, Đại Việt… Song những đảng này đã phản bội lại lợi ích dân tộc, cam tâm làm tay sai cho đế quốc thống trị nước ta.[2] Như vậy, khác với tình hình nhiều nước trên thế giới, ở nước ta ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản đã là lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng. Đó hoàn toàn không phải là sự áp đặt ý muốn chủ quan của Đảng mà là sự giao phó của lịch sử thông qua quá trình sàng lọc hết sức nghiêm khắc. Thực tế lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy Đảng Cộng sản đã rất xứng đáng với sự tin cậy, sự giao phó của lịch sử, của nhân dân, của dân tộc. Trên thực tế, từ ngày có Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, cách mạng nước ta đã giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ 20. Đó là thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 lật đổ ách thống trị gần 100 năm của thực dân Pháp và triều đình phong kiến, lập nên nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, chọc thủng hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc; là thắng lợi của cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, giải phóng miền Bắc, chôn vùi chủ nghĩa thực dân cũ; là thắng lợi của cuộc kháng chiến 22 năm chống Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đánh sập chủ nghĩa thực dân mới; là thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đất nước trong gần 20 năm gần đây, vượt mọi khó khăn bao vây cấm vận, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đứng vững và tiếp tục đi lên trong cơn động đất chính trị dữ dội trên thế giới (năm l989-1991) và cơn bão táp khủng hoảng tài chính - kinh tế ở khu vực (năm 1997-1998).

~ Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam 75 năm qua, Báo điện tử ĐCSVN, 15-2-2005.

Tính tất yếu (necessity) như một phạm trù triết học, trong sự đối lập với tính khả năng (possibility/probability) hoặc tính ngẫu nhiên (contingency/accidentality), vốn được đề cập từ rất sớm bởi triết học phân tích tính phương Tây[3]. Tất yếu lịch sử (historical necessity) là khái niệm dẫn xuất của “tính tất yếu” trong triết học về lịch sử, được Marx, Engels và các môn đồ sử dụng chủ yếu như một công cụ tu từ trong các nhận định về sự tất định, không tránh khỏi của cách mạng vô sản và của chủ nghĩa xã hội. Đến Việt Nam, cụm từ này đã được các tuyên truyền viên của Đảng Cộng sản sử dụng một cách lạm phát, tạo nên những câu văn sáo rỗng, tối nghĩa và vô nghĩa như dẫn ngữ đã nêu ở trên.

Vậy thế nào là “tất yếu lịch sử”? Khi nói rằng trong một hoàn cảnh lịch sử A, một sự kiện / biến cố B là một “tất yếu lịch sử”, người ta ngụ ý — và chỉ ngụ ý — rằng trong bộ điều kiện A đã xác định, B luôn luôn là kết cục duy nhất, không thể khác. Trường hợp trong hoàn cảnh lịch sử A, biến cố kéo theo không nhất thiết là B, mà có thể là C, là D… khác với B, thì sự xảy ra của B trong hiện thực không phải là tất yếu, mà chỉ là ngẫu nhiên, tình cờ; bởi lẽ khi đó, trong cùng hoàn cảnh A, nếu B không xảy ra thì hoặc C, hoặc D… sẽ xảy ra, và sự xảy ra — loại trừ nhau — của B, C, D… là đồng khả năng, đồng cơ hội, đồng xác suất.

Về nguyên tắc, người ta hoàn toàn có thể kiểm nghiệm được tính tất yếu / không tất yếu của một sự kiện lịch sử bằng phép khảo chứng sau đây: hãy xét xem trên thế giới, trong những điều kiện tương đồng với hoàn cảnh A thì B có phải là biến cố kéo theo duy nhất hay không. Nếu tính duy nhất của B được khẳng định, nó rất có thể là một tất yếu lịch sử. Ngược lại, nếu trong những bộ điều kiện tương đồng với A mà khi thì B, khi thì C, lúc lại D… diễn hiện, ta có thể nói rằng B (hoặc C, hoặc D…) hoàn toàn không phải là một tất yếu lịch sử, mà chỉ là một trong những kênh tiến hoá khả dĩ của lịch sử mà thôi.

Liên quan đến việc Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào nửa đầu thế kỷ trước và, sau đó, trở thành lực lượng chính trị độc tôn trên toàn lãnh thổ Việt Nam như hiện nay, các sử liệu xác thực và phổ cập đã cho thấy: trong những điều kiện lịch sử tương đồng với bối cảnh chính trị - xã hội của Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX, tuyệt đại đa số các cựu thuộc địa của chủ nghĩa thực dân đã giành được độc lập chính trị và chấn hưng đất nước mà không có sự can dự hay cầm trịch của các đảng theo chủ nghĩa Marx-Lenin. Nói riêng, ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam không chỉ thuộc về thiểu số, mà còn là lệ cử hoàn toàn đơn độc về một công cuộc phi thực dân hoá dưới tán ô của một đảng cộng sản.

Ở châu Á, châu Phi, châu Đại Dương và khu vực Mỹ Latin, trong số trên 100 quốc gia từng là thuộc địa và/hoặc kém phát triển cho đến trước Chiến tranh Thế giới II và lần lượt tuyên bố độc lập sau chiến tranh, chỉ Việt Nam Bắc Triều Tiên là hai trường hợp có đảng cộng sản giành được chính quyền. (Tuy nhiên, chính quyền cộng sản Bắc Triều Tiên đã được thành lập có nhiều phần giống như chính quyền Cộng hoà Dân chủ Đức trước đây, tức là do quân đội Liên Xô dựng nên.) Cộng hoà Cuba thì đã là quốc gia độc lập từ 1902, nửa thế kỷ trước khi Fidel Castro đoạt chính quyền bằng bạo lực (1959). Ở Đông Nam Á, Lào và Cambodia đã tuyên bố độc lập vào các năm 1949 và 1953 như những quốc gia không cộng sản, và chỉ bị cộng sản hoá vào năm 1975, khi Chiến tranh Việt Nam sắp/đã kết thúc; từ 1993, Cambodia đã trở lại là quốc gia dân chủ đa đảng dưới hình thức quân chủ lập hiến. Ở châu Phi, hai nước Angola và Mozambique sau một thời gian nội chiến giữa chính phủ theo chủ nghĩa xã hội và các lực lượng đối lập, nay cũng đã trở thành các quốc gia dân chủ. Châu Đại Dương (Oceania) thì không có bất cứ quốc gia [mới] độc lập nào tuyên bố theo chủ nghĩa xã hội.


Hiện nay, tính riêng trong số khoảng 40 quốc gia có chủ quyền từng là thuộc địa cũ của Pháp ở các châu lục, chỉ Việt NamLào còn chế độ cộng sản, và có GDP trên đầu người thuộc nhóm thấp nhất, thậm chí thấp hơn một số thuộc địa cũ của Pháp ở châu Phi và châu Đại Dương.[4]

(Theo WikipediaEncarta)

Đấy là chưa kể nếu đi sâu vào tình tiết, người ta hiện đã có đủ cơ sở để khẳng định rằng các lãnh tụ và đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam — trong suốt lịch sử tồn tại của mình — đã từng bước triệt loại đối thủ cạnh tranh, thâu tóm quyền lực và toàn trị hoá sân khấu chính trị của đất nước bằng những phương pháp bất chính, những thủ đoạn vô nhân đạo[5]. Còn nếu xét đến những hệ luỵ thê thảm mà quốc gia và dân tộc đã và đang phải hứng chịu dưới ách cai trị bấy lâu của Đảng Cộng sản thì có thể nói: sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930 không những hoàn toàn không phải một tất yếu lịch sử, mà còn là một tai nạn lịch sửa historical accident.

Hiện nay ở Việt Nam, trong các sách giáo khoa lịch sử từ bậc phổ thông đến bậc đại học, lịch sử cận - hiện đại của đất nước đang được trình bày gần như chỉ là lịch sử của sự ra đời, phát triển và cuối cùng, chế ngự hoàn toàn chính trường Việt Nam của Đảng Cộng sản. Các phong trào và tổ chức yêu nước, chống thực dân theo các đường lối dân tộc chủ nghĩa, phi cộng sản trong thế kỷ XX chỉ được kiểm điểm một cách sơ sài, thiếu hụt, phiến diện và cả xuyên tạc. Những thất bại tạm thời của các phong trào / tổ chức này thường được nhấn mạnh như là sự bất thành tất yếu của những đường lối chính trị phi marxist-leninist.

Lời khẳng định rằng “Việt Quốc, Việt Cách, Đại Việt… đã phản bội lại lợi ích dân tộc, cam tâm làm tay sai cho đế quốc thống trị nước ta” như trong bài viết của Bùi Thế Đức đăng trên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam là một sự xuyên tạc lịch sử.


Thực tế, Việt Quốc (= Việt-nam Quốc-dân-đảng), Đại Việt (= Đại-Việt Quốc-dân-đảng) và Việt Cách (= Việt-nam Cách-mạng Đồng-minh-hội) đều là những tổ chức hoặc liên tổ chức có chủ trương chống thực dân, chấn hưng đất nước nhưng không theo chủ nghĩa cộng sản và là đối thủ cạnh tranh chính trị với đảng Cộng sản. Bản thân Hồ Chí Minh đã từng tham gia Việt Cách. Sau Cách mạng tháng Tám, từ tháng 11-1945 đến tháng 7-1946, Việt Quốc và Việt Cách đã từng tham gia Chính-phủ Liên-hiệp của Việt-nam Dân-chủ Cộng-hoà. Tháng 7-1946, sau sự kiện “Vụ án phố Ôn Như Hầu” — được cho là do công an Việt Minh dàn dựng để loại bỏ các đối thủ chính trị –, các thành viên Việt Quốc và Việt Cách trong Chính-phủ Liên-hiệp bị truy bắt và truy sát, một số trốn thoát ra nước ngoài.

Riêng Đại-Việt Quốc-dân-đảng thì bất hợp tác với Chính-phủ Liên-hiệp — thực tế do Việt Minh khống chế — ngay từ đầu. Đảng này từng thành lập một số chiến khu ở khắp ba miền Bắc, Trung, Nam, xây dựng lực lượng vũ trang riêng (gọi là Quốc-dân Quân) với một trung tâm huấn luyện quân sự và hai trường võ bị đào tạo sỹ quan. Với đường lối chính trị chống cả chủ nghĩa thực dân lẫn chủ nghĩa cộng sản, Đại Việt trở thành một trong những kẻ thù trực tiếp đe doạ Việt Minh và đảng Cộng sản. Vào tháng 12-1946, trong khi đang hoạt động bí mật tại Hà Nội, đảng trưởng Trương Tử Anh của Đại Việt đột ngột mất tích. Giới quan sát cho rằng ông có thể đã bị bắt cóc và thủ tiêu.

(Theo nhiều nguồn tư liệu)

Sự thật thì vào những thời khắc lịch sử cần huy động sức mạnh của toàn dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn luôn khôn khéo nấp bóng đằng sau những tên gọi và/hoặc tổ chức ngoại vi do nó thiết đặt, có hình thức và chương trình hành động phi cộng sản. Để thí dụ, danh xưng chính thức của Mặt trận Việt Minh — “Việt-nam Độc-lập Đồng-minh-hội” –, do Nguyễn Ái Quốc / Hồ Chí Minh thành lập vào tháng 5-1941, là sự nhái lại tên gọi của một tổ chức yêu nước của người Việt do Hồ Học Lãm sáng lập từ 1936 và chưa bao giờ tuyên bố tự giải tán. Bản thân những người cộng sản như Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng đã từng gia nhập Việt-Minh-của-Hồ-Học-Lãm và tìm cách thôn tính tổ chức này. Để phủ dụ quần chúng, Việt-Minh-của-Hồ-Chí-Minh đã tổ chức ra các đoàn thể quần chúng của các giới xã hội, đoàn thể nào cũng có tên là “Hội … Cứu-quốc” — Hội Công-nhân Cứu-quốc, Hội Nông-dân Cứu-quốc, Hội Phụ-nữ Cứu-quốc, Hội Quân-nhân Cứu-quốc v.v. — đồng thời tóm tắt chương trình hành động của mình trong hai điểm: 1) Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; 2) Làm cho dân Việt Nam được sung sướng tự do.

Aristotle từng phân biệt tính tất yếu với tính ngẫu nhiên như là sự khác biệt giữa cái bản chất (the substance/essence) và cái thứ yếu / phi bản chất (the accidental). Nói cách khác, cái tất yếu phải luôn luôn là cái phản ánh mối liên hệ bản chất của sự vật. Bản chất của việc nhiều tầng lớp dân chúng Việt Nam — vào những năm 1940 — đã hưởng ứng Việt Minh, dẫn đến thành công của Cách mạng tháng Tám không phải là nhân dân đã “lựa chọn” Đảng Cộng sản, mà là nhân dân đã lựa chọn chương trình hành động của Việt Minh. Lưu ý rằng trong suốt thời gian từ trước khi Mặt trận Việt Minh (của Hồ Chí Minh) được thành lập cho đến tháng 2-1951, Đảng Cộng sản đã rút vào hoạt động bí mật; đồng thời, thời điểm thành lập (đúng ra là tái lập) Việt Minh cũng chính là thời điểm Nguyễn Ái Quốc mới cải danh thành Hồ Chí Minh, và ở Việt Nam lúc đó nhiều người không biết ông chính là agent của Quốc tế Cộng sản. Bản thân Hồ Chí Minh, vào những ngày tháng đầu tiên của Việt-nam Dân-chủ Cộng-hoà, khi ngôn luận thường lập lờ, không xác nhận mình là cộng sản — “Tôi chỉ có một đảng, đó là đảng Việt Nam” — hoặc cam kết trước báo giới ngoại quốc “sẽ không đưa chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam”.[6] Việc tuyên truyền rằng “vai trò lãnh đạo của Đảng là tất yếu khách quan”, hay “Đảng đã được lịch sử trao cho sứ mệnh thiêng liêng” là sự nhập nhằng đánh lận con đen, tráo cái bản chất với cái phi bản chất.

Thời kỳ 1960-1976, bộ phận Việt Minh tại miền Nam Việt Nam được biến báo thành Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ — một đảng viên cộng sản, vào đảng từ 1948 — làm chủ tịch; đứng đằng sau và nắm quyền chi phối là Trung ương Cục miền Nam của đảng Cộng sản (thời kỳ đó lấy danh xưng công khai là đảng Lao động). Bằng bài bản “làm mờ đi lý lịch cộng sản” của Việt Minh trước đây, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam — trong giai đoạn hai của Chiến tranh Đông Dương — đã tập hợp được vào đội ngũ của nó một nhân lực đông đảo, đa dạng về thành phần, đặc biệt là những nhân sỹ, trí thức có danh vọng mà sự góp mặt của họ dường như đã biểu kiến chính nghĩa chính trị của phía “bên này chiến tuyến”.

Trên một khía cạnh khác, trong số các nguyên nhân đã góp phần đưa đến thắng lợi quân sự cuối cùng vào tháng Tư năm 1975 của Đảng Cộng sản, không thể không kể đến những điều kiện thuận lợi — mang tính quyết định — ở bên ngoài chiến trường Nam Việt Nam, những điều kiện hoàn toàn không tất yếu đối với phe chiến thắng. Một mặt, đó là nỗ lực viện trợ to lớn về kinh tế và quân khí của Trung Quốc và khối Liên Xô - Đông Âu cho đồng minh của họ ở Việt Nam trong khí hậu của Chiến tranh Lạnh. Mặt khác, đó là chính trường Hoa Kỳ với sự vận hành theo những nguyên tắc dân chủ, pháp quyền, là nền truyền thông đại chúng tương đối tự do và khách quan của các xã hội phương Tây — đối lập với mô hình nhà nước - đảng toàn trị cùng chính sách bưng bít và kiểm soát thông tin của các chế độ cộng sản.

Trong khi các phóng viên phương Tây được hoàn toàn tự do ra vào miền Nam Việt Nam, thì cánh cửa truyền thông mà chế độ miền Bắc mở ra cho thế giới là trận địa độc quyền của các phương tiện truyền thông Xô-viết, Đông Âu và bộ phận báo giới phương Tây thân cộng sản. Vì vậy, trong lúc dư luận Mỹ và phương Tây thường xuyên được thông tin đầy đủ về những khiếm khuyết của chế độ Việt-nam Cộng-hoà, những tội ác vô nhân đạo cũng như những thiệt hại về nhân lực / vật lực của quân đội Hoa Kỳ, thì nó dường như không hay biết gì nhiều về những mâu thuẫn nội bộ của chế độ miền Bắc, về sự hà khắc và những vi phạm nhân quyền thô bạo của chế độ này, cũng như về cuộc sống đầy cơ cực, những hy sinh mất mát nặng nề[7] và cả thái độ phản chiến ngấm ngầm của nhân dân và binh sỹ Bắc Việt. Sự bất đối xứng về truyền thông này đã góp phần quan trọng vào việc dấy lên phong trào hoà bình vào cuối thập niên 1960 - đầu thập niên 1970 ở Mỹ, một phong trào đã gây nên những thay đổi mạnh mẽ về thái độ và chính sách đối với Việt Nam của Hoa Kỳ trong thời gian này: Richard Nixon — người của đảng Cộng hoà — đã thắng cử tổng thống hai nhiệm kỳ liên tiếp nhờ lời hứa về một nền “hoà bình trong danh dự” (tức sẽ rút quân đội Mỹ khỏi Việt Nam một cách chính đáng); Quốc hội Mỹ — do đảng Dân chủ chiếm đa số — đã biểu quyết thông qua (năm 1973) một đạo luật hạn chế quyền tự do điều động quân đội trở lại chiến trường Đông Dương của tổng thống, đồng thời đưa ra lộ trình cắt giảm (từ 1974) và tiến tới cắt bỏ toàn bộ viện trợ cho chế độ Việt-nam Cộng-hoà vào năm 1976; trong nhân dân và chính giới Mỹ, tâm lý muốn thực sự khép lại và quên đi cuộc chiến ngày càng trở nên phổ biến…

(Theo William Colby & James McCargar, Lost Victory: A Firsthand Account of America’s Sixteen-Year Involvement in Vietnam và các nguồn tư liệu khác)

Chính điều kiện sau cùng đã khiến chi viện tài lực của Hoa Kỳ cho chế độ Việt-nam Cộng-hoà giảm đi đáng kể, đồng thời cản trở việc quân đội Mỹ tái tham chiến trong giai đoạn 1973-75, khiến cho cán cân lực lượng vào giai đoạn cuối này của chiến cuộc nghiêng hẳn sang phía quân đội cộng sản.

Giả sử, do tính ngẫu nhiên của lịch sử, một tổng bí thư Liên Xô có chủ trương hoà hoãn toàn diện và kết thúc Chiến tranh Lạnh với phương Tây như Mikhail Gorbachëv chấp chính sớm hơn khoảng 15 năm; hoặc sự sụp đổ dây chuyền của khối Liên Xô - Đông Âu cũng đến sớm hơn chừng ấy năm; hoặc các chính quyền Nixon và Ford (Đảng Cộng hoà) trong nhiệm kỳ 1972-76 không phải đối mặt với những nan đề kinh tế và một “Quốc hội phản chiến” do những người Dân chủ thống lĩnh; hoặc, ở Trung Quốc, Mao Trạch Đông — người ủng hộ quyết liệt cuộc kháng chiến vũ trang của Bắc Việt — chết sớm lên vài năm, nhường vai trò lãnh tụ cho Đặng Tiểu Bình v.v. thì chiến thắng vào ngày 30 tháng Tư năm 1975 của chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam liệu có tất yếu, do “sự lãnh đạo của Đảng” quyết định?

Có điều này thì không hề ngẫu nhiên: sự tương đồng giữa học thuyết thiên mệnh về quyền lực của các lãnh chúa phong kiến Đông Á trong quá khứ và huyền thoại về tính tất yếu lịch sử của nền thống trị đương đại của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mặc dù các thế kỷ XX và XXI không còn là thời đại của những câu chuyện thần thoại, phương pháp chủ yếu — nếu không phải duy nhất — mà Đảng Cộng sản liên tục sử dụng để đắp điếm cho chính nghĩa huyền thoại của mình là hư cấu lịch sử, kết hợp với kỹ thuật tuyên truyền nhồi sọ kiểu Goebbels. Một thí dụ có tố chất hài hước mà tác giả Nguyễn Minh Cần, một cựu đảng viên cộng sản, đã chỉ ra cũng chính là về biến cố “ra đời” của đảng này. Theo Nguyễn Minh Cần, cho đến tận trước thập kỷ 80, các tài liệu chính thức của Đảng Cộng sản vẫn vô tư thuật lại rằng “Đảng” đã lọt lòng trên một sân bóng đá, và đây là sự thật.

Ngày 6 tháng 1 năm 1930, Nguyễn Ái Quốc lấy danh nghĩa phái viên của QTCS (= Quốc tế Cộng sản — L.T.) mời đại biểu ba đảng đến Hồng Kông họp để thống nhất. Cuộc họp diễn ra trên sân bóng, các đại biểu giả vờ là khán giả xem bóng đá để họp. Có ba người đến họp: Trịnh Ðình Cửu, đại biểu cho Ðông Dương Cộng sản Đảng, Nguyễn Thiệu và Châu Văn Liêm, đại biểu cho An Nam Cộng sản Đảng. (Xem: Trần Văn Giàu, “Giai cấp công nhân Việt Nam”, Hà Nội, 1958, tr. 487 — lời chú của N.M. Cần) Như vậy là không có mặt Ðông Dương Cộng sản Liên đoàn.

[...]

Cuộc họp diễn ra trên sân bóng ở Hồng Kông được nói đi nói lại nhiều lần trong ba bốn thập niên ròng cứ mỗi dịp kỷ niệm thành lập Đảng. Thế nhưng, đến những năm 80, chắc thấy cuộc họp trên sân bóng có vẻ lén lút như cuộc gặp mặt của những kẻ âm mưu, nên người ta đã “viết lại” sử đảng: “Sau 5 ngày làm việc hết sức khẩn trương (từ 3 đến 7 tháng 2)[8] trong hoàn cảnh bí mật, hội nghị đã nhất trí tán thành thống nhất các đảng cộng sản…” (Xem: Lịch sử Ðảng Cộng sản Việt Nam, NXB Sự thật, 1985, tr.27 — lời chú của N.M. Cần)

~ Nguyễn Minh Cần, Đảng Cộng sản Việt Nam qua những biến động trong phong trào cộng sản quốc tế, mạng Ý Kiến.

Lô-gích là ở chỗ: muốn được coi là chính nghĩa thì phải đàng hoàng. “Đảng” được cắt rốn trên sân bóng thì đàng hoàng sao được!

Đó chỉ là một trong nhiều thí dụ về việc ngành tuyên giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã [và đang] biên tập, nhào nặn lịch sử như thế nào. Người viết bài hy vọng sẽ có dịp quay trở lại chủ đề này.

Nhà khoa học chính trị Joseph Nye có lần nói rằng: “Kẻ nào hay cường điệu về quá khứ, ấy là hắn đang xấu hổ với hiện tại.” Quả là Đảng Cộng sản Việt Nam đang có quá nhiều lý do để phải nhào nặn lại quá khứ của nó.

(Còn nữa)

© 2009 La Thành


[1] Một câu vô nghĩa. Nói chung, trên website Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam có thể tìm thấy nhiều bài viết thiếu tính chuyên nghiệp như vậy. Các đánh dấu nhấn mạnh trong các trích dẫn là của L.T.

[2] Đây là một nhận định xuyên tạc lịch sử.

[3] Nói thêm, tất yếu vs. khả năng / ngẫu nhiên là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của các phân môn lô-gích học và triết học như lô-gích học tình thái (modal logic), siêu hình học tình thái (metaphysics of modality), hay nhận thức luận tình thái (epistemology of modality). Aristotle có lẽ là [một trong những] người đầu tiên nghiên cứu về các phạm trù này.

[4] Trong số các cựu thuộc địa của Pháp, Việt Nam đứng dưới Algeria, Tunisia, Morocco, Côte d’Ivoire (Bờ Biển Ngà), Cameroon, Djibouti, Senegal, Mauritania, Vanuatu trong bảng tổng sắp các quốc gia theo GDP danh toán (nominal GDP) trên đầu người; và đứng dưới Algeria, Tunisia, Morocco, Vanuatu trong bảng tổng sắp các quốc gia theo GDP sau cân đối sức mua (PPP GDP) trên đầu người. Đặc biệt, trong cả hai bảng tổng sắp, Việt Nam đều thua xa Nouvelle Calédonie (Tân Đảo), một đương kim thuộc địa của Pháp. Dữ liệu được cung cấp bởi IMF, WBCIA, năm 2008-2009.

[5] Những minh chứng điển hình có thể lấy là sự hạ sát các lãnh tụ cộng sản phái Trotskyist (cuối năm 1945), và cuộc dàn dựng Vụ án phố Ôn Như Hầu (tháng Bảy năm 1946, nhằm chống lại và thủ tiêu vai trò chính trị của đảng Quốc dân).

[6] Người viết bài không có ý phủ nhận một nồng độ nào đó của tư tưởng dân tộc chủ nghĩa (một số người gọi là tư tưởng quốc gia) ở ông Hồ. Là một người thực tiễn và dày dạn kinh nghiệm, vào những năm 40, có vẻ như Hồ đã chuẩn bị kỹ lưỡng hành trang chính trị cho sự thâu tóm quyền lực của mình, sau khi quyết định “đi dây” giữa một bên là những phần tử Stalinist thuần thành trong đảng Cộng sản, và một bên là những lực lượng xã hội đầy năng lượng nhưng hiểu biết / mặn mà ở những mức độ rất khác nhau đối với chủ nghĩa cộng sản.

[7] Theo các nguồn dữ liệu, trong Chiến tranh Việt Nam, ~3,0 triệu thường dân miền Bắc và ~1,1 triệu binh sỹ cộng sản (Quân đội Nhân dân VN và Quân Giải phóng MNVN) đã thiệt mạng; ~0,6-1,0 triệu đồng ngũ của họ đã trở nên tàn phế. Phía Hoa Kỳ và đồng minh Việt-nam Cộng-hoà: ~1,6 triệu thường dân miên Nam VN, ~60 nghìn binh sỹ Mỹ, 220 nghìn binh sỹ VNCH chết hoặc mất tích; 304 nghìn binh sỹ Mỹ và 1,2 triệu binh sỹ VNCH thương phế. Các con số đối với phía cộng sản có thể có độ chính xác thấp hơn, một phần vì chính quyền cộng sản Việt Nam chưa bao giờ chính thức công bố những số liệu loại này. Bất luận thế nào, tổn thất về người trong cuộc chiến của toàn bộ dân tộc Việt Nam nói chung, của phe chiến thắng nói riêng là vô cùng đắt giá!

[8] Về ngày “thành lập” đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), Nguyễn Minh Cần (căn cứ theo tài liệu đã dẫn của Trần Văn Giàu) khẳng định đó là ngày mồng 6 tháng 1 năm 1930; và thoả thuận hợp nhất các tổ chức cộng sản tiền thân của nó chỉ diễn ra trong thời gian của một trận bóng đá. Việc đổi từ ngày 6 tháng 1 sang ngày 3 tháng 2 được quyết định bởi một nghị quyết của Đại hội III của đảng (họp tháng 9-1960), với một lý do đáng để ngạc nhiên là “theo ý kiến của Liên Xô” (!). Dữ liệu gần đây nhất về sự kiện ra đời của ĐCSVN có lẽ là trong cuốn Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam — Dùng trong các trường đại học, cao đẳng (ấn bản 2005) do Bộ Giáo dục - Đào tạo biên soạn và Nxb Chính trị Quốc gia ấn hành: “hội nghị” thành lập đảng họp từ 6-1 đến 7-2-1930 tại thị trấn Cửu Long, bên cạnh Hồng Kông, và ngày thành lập đảng (3-2) được lấy là một trong những ngày diễn ra “hội nghị”. Dữ liệu này dở ở chỗ nó làm cho sự kiện “thành lập” đảng trở thành cuộc tụ tập cấp cao dài ngày nhất trong lịch sử của đảng (hơn 1 tháng!).


Share/Save/Bookmark

Thứ Tư, 1 tháng 4, 2009

Lời Kêu Gọi của Đại Lão Hoà Thượng Quảng Độ gửi toàn thể quốc dân đồng bào


Nguồn : e-ThongLuan

Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ kêu gọi Đồng bào các giới trong nước Bất tuân dân sự - Biểu tình tại gia suốt tháng 5 để yêu sách bãi bỏ khai thác quặng bô-xít Tây Nguyên gây đại nạn sinh thái và an ninh quốc phòng


PARIS, ngày 30.3.2009 (PTTPGQT) - Sáng nay Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ gửi đến Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế “Lời Kêu gọi Một Tháng Biểu tình Tại gia” để phổ biến đến các cơ quan truyền thông, báo chí cùng đồng bào các giới mong được sự hưởng ứng trước nguy cơ đại nạn sinh thái và an ninh quốc phòng nơi yết hầu quân sự Tây nguyên.

Nhân danh Hội đồng Lưỡng Viện (Viện Tăng thống và Viện Hóa Đạo), Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ cất lên lời kêu gọi. Bởi vì theo nhận định của Hòa thượng, hiện nay “lãnh đạo Nước Nhà không là Lý Thái Tổ, Trần Nhân Tông, Lê Thái Tổ, mà là một chính quyền ly khai dân, lệ thuộc nước ngoài, từ ý thức hệ đến cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, làm đảo lộn xã hội và nhân văn Việt Nam”. Nên hy vọng cuối cùng của Hòa thượng là “CHỈ CÒN LẠI TIẾNG NÓI CỦA TOÀN DÂN MỚI CÓ CƠ CỨU VÃN”.

Hòa thượng kêu gọi tháng Tư này xin đồng bào các giới chuẩn bị lương thực để có thể thực hiện suốt tháng 5.2009 làm tháng “Bất tuân dân sự” biểu dương bằng cuộc “Biểu tình Tại gia” : “Nông dân không ra đồng, Công nhân không đến xưởng, Thương gia, Tiểu thương không đến chợ, Sinh viên, học sinh không đến trường”. Sống dưới chế độ độc tài toàn trị, mọi tự do cơ bản đều bị tiêu hủy, đặc biệt tự do ngôn luận, tự do biểu tình. Công an là thế lực đàn áp và bắt bớ Người Biểu tình. Cho nên đối sách là Biểu tình tại chỗ, trong nhà mình, thì cuộc bắt bớ không thể thực hiện.

Với người Việt hải ngoại, Hòa thượng kêu gọi “đồng bào các giới ở hải ngoại hưởng ứng bằng việc không về du lịch và không gửi tiền về Việt Nam trong suốt tháng Năm 2009, ngoại trừ những trường hợp riêng tư khẩn cấp hay bất khả”.

Với các cơ quan truyền thông, báo chí Hòa thượng kêu gọi xin “giúp đỡ chuyển vận Lời kêu gọi này của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đến các giới đồng bào trong và ngoài nước”.

Lời kêu gọi trình bày chi tiết đầy đủ về đại nạn sinh thái gây ra do việc khai thác quặng bô-xít ở Tây nguyên. Nhất là “công nghệ lạc hậu khai thác quặng bô-xít chỉ có ở Trung quốc là công nghệ “ướt”, trong khi các quốc gia tiên tiến đã chuyển công nghệ “ướt” sang công nghệ “khô” trong việc thải bùn đỏ, là nguy cơ gây đại nạn sinh thái cho Tây nguyên, miền Nam Trung bộ và đồng bằng sông Cửu Long”. Điều trầm trọng hơn nữa, theo lời Hòa thượng, là “nguy cơ an ninh quốc phòng. Tây nguyên là vùng chiến lược, yết hầu quân sự cho việc phòng ngự Việt Nam trên ngã ba biên giới Cam Bốt – Lào – Việt Nam”.

Chúng tôi xin đăng tải toàn văn Lời Kêu Gọi Một Tháng Biểu Tình Tại Gia như sau:


GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
VIỆN HÓA ĐẠO
Thanh Minh Thiền Viện, 90 Trần Huy Liệu, Phường 15, Quận Phú Nhuận, TP Saigon


Phật lịch 4552 Số 03 /VHĐ/VT

LỜI KÊU GỌI

MỘT THÁNG BIỂU TÌNH TẠI GIA
để chống việc lấy Vàng dân tộc đổi Nhôm nước ngoài


Bất chấp những lời báo động hiểm nguy của các chuyên gia, trí thức về việc khai thác quặng bô-xit ở Tây nguyên, ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn một mực tiến hành việc lựa chọn nhà thầu Trung quốc vào Tây nguyên khi khẳng định : “Khai thác bô-xít Tây nguyên là chủ trương của Đảng nêu trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X”, nghĩa là từ năm 2006.

Đảng quyết định. Nhưng toàn dân thì sao?

Toàn dân thông qua ý kiến của các giới chuyên gia, trí thức, học giả… đưa lên báo chí, truyền thông, Internet đều báo động rằng khai thác bô-xít sẽ hủy diệt mầu xanh rừng Tây nguyên, làm thay đổi thổ nhưỡng của vùng đất đỏ bazan, làm tăng thêm nguy cơ về hạn hán kéo dài, lũ ống, lũ quét sẽ xẩy ra nhiều hơn, đồng thời ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước ngọt để phát triển kinh tế cho các tỉnh vùng hạ lưu ở miền Nam Trung bộ, Đồng Nai, Bình Dương, thành phố Saigon. Từ nghìn xưa, mầu xanh rừng Tây nguyên bảo vệ cho việc tích trữ nước trong lòng đất, lọc không khí và điều hòa nhiệt độ toàn vùng. Phá hủy mầu xanh còn là phá hủy nghiêm trọng không những cảnh quan mà sắc thái văn hóa và quyền sống của hàng chục dân tộc ít người trên vùng cao.

Theo các báo cáo khoa học thì quặng bô-xít để sản xuất nhôm không là kim loại chiến lược. Giá trị kinh tế của nhôm không cao hơn việc trồng cây công nghiệp ở Tây nguyên. Bô-xít là tài nguyên khoáng sản có hạn, không tái sinh. Còn cây công nghiệp là nguồn tài nguyên vô hạn và có tái sinh. Ấy là chưa nói đến công nghệ lạc hậu khai thác quặng bô-xít chỉ có ở Trung quốc là công nghệ “ướt”, trong khi các quốc gia tiên tiến đã chuyển công nghệ “ướt” sang công nghệ “khô” trong việc thải bùn đỏ, là nguy cơ gây đại nạn sinh thái cho Tây nguyên, miền Nam Trung bộ và đồng bằng sông Cửu Long.

Bức thư ngỏ mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết từ năm 1980 Đảng và nhà nước đã đề nghị khối COMECON, tức khối kinh tế cộng sản Liên xô và Đông Âu, khai thác quặng bô-xít Tây nguyên. Nhưng theo thư ông Giáp thì “khối COMECON đã khuyến nghị Chính phủ ta không nên khai thác bô-xít trên Tây nguyên do những nguy cơ gây tác hại sinh thái lâu dài rất nghiêm trọng, không thể khắc phục được đối với dân cư tại chỗ mà còn cả dân cư và vùng đồng bằng Nam Trung bộ”.

Vì tính chất nguy hại sinh thái và cư dân quanh vùng khai thác bô-xít mà Cục bảo vệ môi trường quốc gia Trung quốc đã đóng cửa 100 mỏ bô-xít trên lãnh thổ Trung quốc từ năm 2004 đến 2008. Tại Ấn độ năm 2004 đã có một phong trào quần chúng lớn rộng nổi dậy biểu tình chống việc khai thác bô-xít tại bang Orissa trên diện tích 1000 hecta làm nguy hại 60.000 cư dân.

Tại Việt Nam hiện nay, chỉ nói đến một cứ điểm Đắk Nông ở phía cực nam Tây nguyên hiện đang có 7 mỏ khai thác bô-xít, tất thấy ngay nguy cơ sa mạc hóa - “bùn đỏ hóa mầu xanh” trên 6000 quả đồi với hàng trăm con suối trên một diện tích 600.000 hecta, nơi cư ngụ 29 dân tộc ít người, chủ yếu là cư dân bản địa người M’Nông. Để khai thác 5,4 tỉ tấn quặng thô bô-xít ở Đắk Nông thì chất thải bùn đỏ sẽ phủ lấp hàng nghìn buôn làng : khi ta biết rằng để có 1 tấn nhôm cần khai thác 4 tấn quặng bô-xít và thải ra môi trường 3 tấn bùn đỏ!

Vấn nạn nêu trên nằm trong lĩnh vực môi trường và sinh thái cho cư dân Tây nguyên. Một vấn đề trầm trọng khủng khiếp khác là nguy cơ an ninh quốc phòng. Tây nguyên là vùng chiến lược, yết hầu quân sự cho việc phòng ngự Việt Nam trên ngã ba biên giới Cam Bốt – Lào – Việt Nam. Việc nhà thầu Trung quốc khai thác quặng bô-xít đã bắt đầu, những làng người Hoa vừa dựng lên ở Tây nguyên, khoảng năm, mười nghìn người Trung quốc sẽ tới : Trọng Thủy đã cưỡng bức Mị Nương trên dãy Trường Sơn. Còn ngoài kia trên biển Đông, Trung quốc cũng đang lấn chiếm Hoàng Sa và Trường Sa…

Nguy cơ mất nước bắt đầu.

Lần này không chỉ Bắc thuộc Một Nghìn Năm, mà là Ba Nghìn Năm hay lâu hơn nữa khi lãnh đạo Nước Nhà không là Lý Thái Tổ, Trần Nhân Tông, Lê Thái Tổ, mà là một chính quyền ly khai dân, lệ thuộc nước ngoài, từ ý thức hệ đến cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, làm đảo lộn xã hội và nhân văn Việt Nam.
CHỈ CÒN LẠI TIẾNG NÓI CỦA TOÀN DÂN MỚI CÓ CƠ CỨU VÃN. Trước là chận đứng việc lấy Vàng, tức dân tộc, đổi lấy Nhôm ngoại quốc. Sau là bảo vệ sự Vẹn toàn lãnh thổ mà tiền nhân đã đem xương máu gầy dựng.

Nhân danh Hội đồng Lưỡng Viện, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tôi kêu gọi người Việt trong ngoài nước hãy tỏ thái độ trước nguy cơ hủy hoại mầu xanh Tây nguyên và đời sống của người Việt cũng như hàng chục dân tộc ít người trong việc khai thác quặng bô-xít không thông qua nghiên cứu khoa học và kinh tế, mà chỉ vụ vào sự lệ thuộc Bắc phương.

Kính xin người Việt nước ngoài khẩn cấp báo động công luận thế giới về đại nạn sinh thái Tây nguyên, và nguy cơ nối giáo Bắc Kinh trấn đóng yết hầu chiến lược vùng ba biên giới.

Kính xin người Việt trong nước hãy tỏ thái độ bằng cuộc biểu dương BẤT TUÂN DÂN SỰ trong suốt tháng 5 kể từ ngày Lễ Lao động 1.5 sắp tới.

Sống dưới chế độ độc tài, công an trị, người dân đã mất quyền biểu tình công cộng nói lên ngưỡng vọng thiết tha suốt 54 năm tại miền Bắc và 34 năm qua tại miền Nam, thì nay hãy BIỂU TÌNH TẠI GIA như một thái độ Bất tuân dân sự : Nông dân không ra đồng, Công nhân không đến xưởng, Thương gia, Tiểu thương không đến chợ, Sinh viên, học sinh không đến trường. Chúng ta có một tháng Tư để chuẩn bị lương thực cho gia đình nhằm thực hiện tháng Năm BẤT TUÂN DÂN SỰ - BIỂU TÌNH TẠI GIA để đòi hỏi ba yêu sách sau đây:

1. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam cấp tốc nộp hồ sơ xác nhận thềm lục địa của mình theo Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển cho Ủy Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa (UNCLOS) trước ngày quy định của LHQ, là ngày 13 tháng 5 năm 2009, để bảo vệ quyền lợi và lãnh hải tổ quốc.

Nếu Đảng và Nhà nước vẫn làm ngơ trước quyền lợi của tổ quốc, thì xin các Cộng đồng Người Việt hải ngoại cấp tốc thành lập Ủy ban Bảo vệ Lãnh hải Việt Nam, thu tập hồ sơ, vận động quốc tế và can thiệp trực tiếp đến Ủy Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa (UNCLOS) để bảo vệ quê hương.

2. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam công bố toàn bộ nội dung hai bản Hiệp ước Biên giới trên đất liền và trên biển ký kết giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1999 và 2000, kèm theo các bản đồ là bộ phận cấu thành không thể tách rời của Hiệp ước, để toàn dân được biết sự toàn vẹn lãnh thổ mà tiền nhân đã đem xương máu gầy dựng.

3. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam khẩn cấp triệu tập một Đại hội đại biểu toàn dân bao gồm các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế, kỹ thuật cơ khí luyện kim, các chiến lược gia quân sự cùng đại biểu các thành phần dân tộc bất phân chính kiến, tôn giáo trong và ngoài nước để cùng nhau thống nhất ý kiến chận đứng việc khai thác quặng bô-xít ở Tây nguyên.

Tháng Năm BẤT TUÂN DÂN SỰ - BIỂU TÌNH TẠI GIA sẽ là thái độ dũng cảm nói lên mối ưu tư Bảo vệ sinh thái và Vẹn toàn lãnh thổ của toàn dân trong giai đoạn cấp cứu của lịch sử. Dân chủ là Tiếng Nói, một tiếng nói đối thoại và tranh luận khi quê hương nguy biến để tiến tới giải pháp cứu nguy dân tộc. Nay là cơ hội và thời điểm sinh tử để Tiếng Nói cất lên thông qua một tháng BIỀU TÌNH TẠI GIA.

Kính xin đồng bào các giới trong nước hưởng ứng THÁNG BIỂU TÌNH TẠI GIA trong suốt tháng 5.2009, và đồng bào các giới ở hải ngoại hưởng ứng bằng việc không về du lịch và không gửi tiền về Việt Nam trong suốt tháng Năm 2009, ngoại trừ những trường hợp riêng tư khẩn cấp hay bất khả.

Kính xin các cơ quan truyền thông, báo chí giúp đỡ chuyển vận Lời kêu gọi này của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đến các giới đồng bào trong và ngoài nước.

Thanh Minh Thiền viện, Saigon ngày 29.3.2009
Xử lý Thường vụ Viện Tăng thống
Kiêm Viện trưởng Viện Hóa Đạo
(ấn ký)
Sa môn Thích Quảng Độ
Nguồn: Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế (Paris), ngày 30/03/2009

Copyright © by e-ThongLuan All Right Reserved.

Share/Save/Bookmark

Văn hóa Việt Nam và Nhật Bản qua cái nhìn của Vĩnh Sính[*]

Nguồn : Dân Luận

Vương Trí Nhàn
(*) tựa đề do Hy Văn đặt
LTS: Nền tảng của sự phát triển chính là văn hóa của mỗi quốc gia. Có những quốc gia đã vươn lên mạnh mẽ, thăng hoa và quảng bá được văn hóa của mình ra bên ngoài thế giới. Nhật Bản là một quốc gia như vậy. Bài viết này không đơn thuần chỉ là phép so sánh về văn hóa mà còn đem lại một cái nhìn chân thực để đánh giá lại văn hóa Việt Nam.

Vương Trí Nhàn: Qua người hiểu mình là một trong những con đường nhận thức được nhiều người công nhận là cần thiết và “có triển vọng”, tức có khả năng tạo nên hiệu ứng có giá trị đích thực đối với những chủ thể đang muốn tự hiểu về mình. Nhưng lâu nay ở Việt Nam, việc làm này có nhiều chỗ khó. Do những lý do thuộc về địa lý và lịch sử, dân ta thường ít đi rộng ra ngoài mảnh đất sinh sống, từ đó những hiểu biết của mỗi chúng ta về những xứ sở khác, những con người khác, thường thiếu hệ thống thiếu toàn diện, không đủ giúp ta có dịp tốt để đối chiếu so sánh. Mặt khác ta chưa sẵn sàng muốn tái khám phá bản thân. Ta quá tự tin, và tưởng sự mình biết về mình đã quá đủ, không mấy ai ngồi tính xem cần đi đâu thêm, hỏi thiên hạ thêm điều gì nữa. May thay, vào những ngày này, những hạn chế ấy có điều kiện để khắc phục. Người Việt có mặt trong khắp thế giới hòa nhập vào đời sống khoa học quốc tế, từ đó có dịp nhìn về quê hương mình sáng rõ hơn. Việt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hoá[1] là một tập sách có nội dung khá phong phú. Có bài khái quát Vị trí lịch sử của Trung quốc đối với Việt Nam và Nhật Bản hoặc đề cập tới Trục giao lưu văn hoá Nhật Bản Trung quốc Việt Nam vào đầu thế kỷ XX. Có bài giới thiệu về các nhân vật của lịch sử Nhật như Fukuzawa Yukichi và Asaba Sakitarô, những người mở đầu nền mậu dịch Nhật Việt như Suminokura Ryooi và Yoichi. Có bài so sánh những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ với những đề án có tính cách khải mông của những học giả trong hội trí thức Meirokusha. Có bài giới thiệu tác phẩm cổ điến văn học Nhật như bản dịch Lối lên miền Oku của Matsuo Bashô.

Đằng sau những câu chuyện cụ thể ấy, theo ý tôi, phần nội dung có tính chất nền tảng của tập sách lại là những nhận thức của tác giả về một số khía cạnh cấp bách của văn hoá Việt Nam, quá trình nhận thức này được tiến hành thông qua việc so sánh với quan niệm về những vấn đề đó ở Nhật Bản.

Dưới đây tôi xin phép trình bày một ít thu hoạch rút ra từ Việt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hoá. Nếu cách đọc của tôi không trùng với cách đọc của nhiều người, thậm chí không trùng với cách đọc mà chính tác giả đề nghị, thì xin cũng được coi là điều bình thường.

Mối quan hệ giữa lòng yêu nước và nhu cầu chung sống với thế giới

Một trong những bài viết quan trọng nhất của tập sách này là dành để đề cập tới “Quan niệm về độc lập quốc gia của Việt Nam và Nhật Bản thông qua trường hợp Phan Bội Châu và Fukuzawa”.

Ta quá tự tin, và tưởng sự mình biết về mình đã quá đủ, không mấy ai ngồi tính xem cần đi đâu thêm, hỏi thiên hạ thêm điều gì nữa.

» Vương Trí Nhàn
Xuất phát từ nhu cầu mở cửa đất nước trong thời đại toàn cầu hoá, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam gần đây đã trở lại với tình hình đầu thế kỷ XX, trong đó có trường hợp Phan Bội Châu và phong trào Đông Du do Phan khởi xướng. Nhưng cách chúng ta giới thiệu còn chung chung và cũ. Hoặc nói nhiều tới các hoạt động hơn là tìm hiểu tư tưởng Phan Bội Châu. Hoặc cũng đề cập tới những quan niệm có tính cách mạng, chẳng hạn tư tưởng dân chủ mà Phan tiếp nhận được, song không đi vào phân tích cụ thể, trong mối liên hệ với các quan niệm thiết yếu khác. Còn trong Việt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hoá, Vĩnh Sính có điều kiện lần tới những vấn đề cơ bản đặt ra với cả xã hội ta đầu thế kỷ XX. Ông bắt đầu từ quan niệm về quốc gia của nhà cách mạng Việt Nam, và lấy nhà tư tưởng hàng đầu của nước Nhật là Fukuzawa để so sánh.

Theo cách trình bày của Vĩnh Sính, đặc điểm của lòng yêu nước ở Fukuzawa (1834-1901) là tính chất lý trí của nó. Lòng yêu nước ấy được thận trọng chuyển hoá vào trong công việc suy nghĩ và nghiên cứu. Fukuzawa quan niệm : Khi người nước ngoài tới, trước tiên ta phải tìm hiểu họ, xem họ như thế nào, có gì khác mình giống mình, tại sao họ lại đến được nước mình. Phải thấy về lâu dài, một nước thả nào cũng tìm được tiếng nói chung với các nước khác trên thế giới. Cái gì mình chưa biết thì phải học, học để trở nên văn minh. Công thức tóm tắt “ Phương sách giữ gìn độc lập không thể tìm đâu ngoài văn minh… Độc lập quốc gia là mục tiêu và nền văn minh quốc dân là phương tiện để đạt được mục tiêu đó” (tr. 152).

Phương sách giữ gìn độc lập không thể tìm đâu ngoài văn minh… Độc lập quốc gia là mục tiêu và nền văn minh quốc dân là phương tiện để đạt được mục tiêu đó

»Fukuzawa Yukichi

Từ trường hợp của Fukuzawa, Vĩnh Sính đưa ta quay trở lại soi tỏ trường hợp Phan Bội Châu. Trong khi chăm chú vào công việc cấp bách, Phan ít có cái nhìn rộng ra ngoài. “Phan không bao giờ có ý định tìm hiểu về người Pháp và nước Pháp”, “Nhận thức về quan hệ quốc tế của Phan vừa lỗi thời vừa chủ quan.” ( tr. 299 ). Ông không nhận chân được tình hình chính trị phức tạp và đa dạng của thế giới cận đại cùng những nguyên nhân đã đưa Nhật Bản và các nước phương Tây lên địa vị phú cường. Ngay đối với nước Nhật mà ông muốn cậy nhờ, sự hiểu biết của ông cũng “sơ sài, chủ quan và nông cạn” (tr. 148). Ông sẽ chẳng lặn lội đi đâu, nếu ở trong nước mà cứu được nước. Với ông kẻ thù đến là đánh, dùng biện pháp gì để đánh cũng được, bất cứ giá nào cũng chấp nhận miễn là thành công. Trong bức tranh toàn cảnh về một đất nước Việt Nam như Phan mong muốn, điều quan trọng là nhất thiết không có cường quốc bảo hộ, ngoài ra các vấn đề quan hệ đối ngoại không được đặt ra.[2]

Trong khi Fukuzawa chủ trương chấp nhận trật tự thế giới lúc bấy giờ và từng bước canh tân Nhật Bản theo mô hình các nước phương Tây, thì Phan Bội Châu có xu hướng thiên về ảo tưởng, và cả sự manh động, với hy vọng “đảo ngược thời cuộc” (tr. 143 -144). Lòng yêu nước ở ông có phần đơn giản. Nó dựa trên tình cảm hơn nhận thức. Đúng hơn có thể mượn lời Phan Châu Trinh[3] mà nói thẳng Phan Bội Châu là một nhà đại hào kiệt “có lòng thương nước” nhưng đã “không biết cái đạo thương nước” (tr. 302 ). Nguồn gốc của những thất bại của Phan một phần bắt nguồn từ đấy chăng ? Nhưng chẳng phải là nhờ thế, nó lại có ích cho chúng ta hôm nay như một vết xe đổ phải tránh?

Không khó khăn gì lắm, có thể tìm ngay ra được rất nhiều nhân tố để bảo rằng nhà khai sáng Nhật Fukuzawa có gì đó may mắn hơn Phan Bội Châu: Đất nước Phù Tang không bị rơi vào ta kẻ xâm lược, mà chỉ có vài hiệp ước bất bình đẳng buộc phải ký. Và người dân của đất nước ấy đã trải qua nhiều cuộc tiếp xúc khôn ngoan, nhiều bước giác ngộ sâu sắc để có sự trưởng thành trên nhận thức, cũng như bản thân Fukuzawa sớm có dịp tìm hiểu văn hoá nước ngoài và các mối quan hệ quốc tế một cách khoa học. Còn với Phan Bội Châu, dân trí thấp kém là một tình trạng có thật, nếu cứ chờ dân trưởng thành thì không bao giờ giải quyết được công việc. Những hạn chế của Phan chính là hạn chế của dân tộc khi chưa chuyển sang thời hiện đại.

Những liên hệ với tình hình trước mắt

Cần nhớ là bên cạnh lòng yêu nước theo kiểu kịch liệt và thiên về bạo động của Phan Bội Châu, đương thời còn có lòng yêu nước trước tiên đặt vấn đề phải nâng cao dân trí học hỏi phương Tây rồi hãy làm tiếp, một cách yêu nước mới mẻ và khó khăn mà Phan Châu Trinh là đại diện.

Nghĩa là cách nghĩ như của Phan Bội Châu không phải là định mệnh.

Trong khi đó thì cho tới hôm nay, nhiều người chúng ta lại gần như chỉ chấp nhận một cách nghĩ như thế và xem nó là duy nhất đúng. Lòng yêu nước bị chúng ta tuyệt đối hoá.Ta chỉ cho nó có một cách hiểu. Ta xem nó thiêng liêng nên không cho phép ai được bàn thêm, mọi sự bàn bạc đều bị xem là báng bổ có lỗi. “Quốc dân không có chí khí độc lập, không có tinh thần tự do thì lòng yêu nước cũng hàm hồ nông cạn, vô trách nhiệm”: Một cách nói rất dứt khoát như thế – Fukuzawa đã viết trong cuốn Khuyến học – đối với chúng ta dễ gây sốc. Yêu nước thì bao giờ cũng tốt đẹp chứ làm sao lại có thứ yêu nước hàm hồ nông cạn và vô trách nhiệm? – ta nghĩ đơn giản vậy. Tóm lại, ta để cho lòng yêu mến và kính trọng với Phan Bội Châu bao trùm tất cả dẫn đến suy tôn một chiều, mà không tìm cách nhận thức và đánh giá lại, và tìm ra cái cách yêu nước mà thời đại đang đòi hỏi.[4] Mỗi khi cần đặt Phan Bội Châu bên cạnh Phan Châu Trinh thì bao giờ cảm tình của chúng ta cũng nghiêng về Sào Nam, và nhiều người lại còn có cái nhìn gọi là “mang nhiều thông cảm” với sự ngây thơ của Tây Hồ (!).

Ở đây có một lý do sâu xa. Nửa thế kỷ qua, tư tưởng của Phan Bội Châu là một trong số không nhiều những tư tưởng chi phối sự vận động của xã hội Việt Nam. Nay là lúc những mơ ước cháy bỏng của Sào Nam đã được thực hiện. Nghĩ lại về ông, người ta cho rằng ông chỉ thất bại vì không biết tổ chức quần chúng. Chứ đúng ra Việt Nam giành được độc lập một phần là nhờ kiên trì tư tưởng của ông. Từ đó khái quát lên, cách hiểu về lòng yêu nước của Phan trở thành một di sản chỉ cho phép nói tới với niềm tự hào và lời hứa nhất nhất tuân theo. Bảo rằng nhiều nhân vật nổi tiếng trong lịch sử có thể rất yêu nước nhưng vẫn “không biết cái đạo thương nước” thì nhiều người sẽ giãy nẩy lên,và sẵn sàng hạ một câu xanh rờn “về yêu nước thì không ai phải dạy cho người Việt”. Vâng, về căn bản, đó là những ý nghĩ thường trực trong ta! Có thể có một lúc nào đó, một số chúng ta cũng bắt đầu mang máng cảm thấy rằng yêu nước theo kiểu ấy ngày nay là không đủ nữa. Nhưng chết nỗi nó là cả một kỷ niệm đẹp, là tuổi trẻ oai hùng của cộng đồng và người ta không muốn tự làm phiền mình, không muốn nghĩ lại mọi sự. Ngay cái chỗ mà Phan Bội Châu về sau phản tỉnh, tự cho là mình sai, và người sau nên rút kinh nghiệm để tránh (Vĩnh Sính đã dẫn ở tr. 302), thì chúng ta vẫn cứ ngần ngại, không dám vạch rõ sự thật. Bởi Phan thời đang hoạt động giống chúng ta quá! Sự dừng lại của Phan lúc ấy góp phần củng cố sự trì trệ của chúng ta hôm nay.[5]

Quốc dân không có chí khí độc lập, không có tinh thần tự do thì lòng yêu nước cũng hàm hồ nông cạn, vô trách nhiệm

» Fukuzawa Yukichi

Như thế đấy, tuy không nói ra một cách rành mạch, nhưng đằng sau các dòng chữ, có cảm tưởng là cái thực trạng của nhận thức và tâm lý sau chiến tranh được Vĩnh Sính hiểu khá kỹ càng. Ở chỗ nhiều nhà nghiên cứu chỉ biết ca ngợi một chiều và lảng tránh đi vào thực chất, thì ông đi tiếp. Bằng cách đó, Vĩnh Sính cho thấy sự có mặt của ông là cần cho mọi người. Từ thực tế Nhật Bản, ông giới thiệu với chúng ta một tinh thần yêu nước theo nghĩa hiện đại, nó là thứ tình cảm được soi rọi dưới ánh sáng của lý tính, tức là được đặt trong mối quan hệ với một quan niệm mới mẻ về độc lập quốc gia. Thứ nữa, đây không phải là thứ lý tính với nghĩa tư biện hoặc ra vẻ uyên bác mà là thứ lý tính thâu tóm được bản chất để trở thành tinh hoa của đời sống. Cần chú ý rằng khi nói về Fukuzawa, Vĩnh Sính ghi nhận đây là con người “vừa yêu nước nồng nhiệt vừa có những nhận thức thực dụng sắc bén” (tr. 149 ), thực dụng với nghĩa “ không câu nệ bởi những lý tưởng chính trị hay ý thức hệ xa vời để lỡ mất thời cơ” (tr. 151). Lời đề nghị của tác giả Việt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hoá đã quá rõ, vấn đề chỉ còn ở chỗ chúng ta có nghe ra hay không thôi.

Về một khía cạnh tâm lý dân tộc đang là rào cản cho quá trình hòa nhập của Việt Nam với thế giới

Ngoài trường hợp Fukuzawa nói trên, một người Nhật khác được giới thiệu trong tập sách tương đối kỹ là Shiba Ryôtarô (1923-1996). Theo cách nói của Vĩnh Sính, ông là một trong những tác giả đại diện cho nước Nhật và một trong những người viết sử có ảnh hưởng nhất ở Nhật. Ông có viết riêng một cuốn sách ở đó quá trình lịch sử Việt Nam được phân tích khá sắc bén. Trong một nhận xét ngắn gọn rằng ở Việt Nam, “làng xã vẫn là một đơn vị xã hội có tầm quan trọng hơn nhà nước (tr. 280), người ta nhận ra một nhân tố gốc, nó quy định trình độ phát triển của xã hội chúng ta, nó là nguyên nhân cắt nghĩa nhiều thành công cũng như thất bại của chúng ta hôm nay. Trên đường đi vào tâm lý dân tộc, nhà nghiên cứu Nhật không quên ghi nhận người Việt có một số căn bệnh chưa biết bao giờ mới chữa nổi, như cái tình trạng thiếu tinh thần hợp tác với nhau để làm việc chung; đặc biệt, theo Shiba Ryôtarô, một khuynh hướng của người Việt là “xem dân tộc mình ưu việt so với người dân tộc khác” (tr. 288 –289), do đó là một sự cản trở đối với việc học hỏi và chung sống với thế giới.

Vậy là không chỉ quan niệm yêu nước mà nhiều vấn đề khác của văn hoá Việt Nam cũng được Vĩnh Sính mang ra so sánh với Nhật (hoặc với Hàn quốc). Việc giao thiệp với các nước ngoài, đúng hơn cái khả năng của một quốc gia trong việc tiếp nhận và làm giàu thêm cho mình bằng việc nhận thức tình thế và sẵn lòng chung sống với thế giới chung quanh – cái khả năng mà ông từng nói trong bài về Phan Bội Châu – được Vĩnh Sính trở lại nhiều lần, dưới nhiều hình thức, cả bao quát lẫn cụ thể. Bao quát thì như trong bài viết về Minh Trị duy tân, ông khái quát là phải tri kỷ tri bỉ để đưa đất nước tiến lên đài văn minh. Cụ thể thì như ở trang 159, ông đưa ra một bảng thống kê về lượng sách Anh, Pháp, Hà Lan được dịch ở Nhật tính đến thập kỷ cuối cùng thế kỷ XIX, qua đó không chỉ cho thấy tình trạng tiếp thu văn hoá nước ngoài của Nhật, mà cả cái cách họ tiếp nhận nữa. Họ không chỉ dịch sách văn học, cụ thể là mấy cuốn tiểu thuyết thời danh, để ra vẻ mình cũng cập nhật tình hình, theo sát thế giới (!). Cái mà họ ưu tiên hơn là sách học thuật, tức các lĩnh vực của khoa học xã hội. Đối chiếu với tình hình Việt Nam vào thời Tự Đức, chúng ta đủ nhận ra sự chậm trễ là đến mức nào. Hơn nữa,đó không phải chỉ là kém cỏi trong số lượng mà là sự tụt hậu trong trong thang bậc của nhận thức, một điều đến nay vẫn còn tiếp tục diễn biến, và chưa biết bao giờ mới thay đổi được.

Khác với các tiểu luận nói trên, Thiên kỷ III đang mỉm cười có dáng dấp mấy trang sổ tay, ở đó Vĩnh Sính chỉ kể lại ít điều ông ghi nhận được từ một hội nghị văn hoá châu Á tổ chức ở Hàn quốc vào tháng 11-1998. Song sự định hướng của Vĩnh Sính trước sau là nhất quán. Công thức mà ông đề nghị bao giờ cũng bao gồm hai vế (1) mở cửa ra với thế giới, và (2) biết mình biết người, chỉ có đủ hai vế đó thì mới bảo đảm cho tiến bộ. Chẳng hạn, khi bàn về giáo dục, trước hết ông nhắc lại ý kiến của học giả Trung Quốc Hà Phương Xuyên là vươn lên tầm thời đại, chuẩn bị hành trang cho cuộc giao lưu văn hoá. Rồi ngay sau đó ông dừng lại khá kỹ ở một thứ chủ nghĩa quốc gia văn hoá, hay gọi đích danh ra là một thứ “chủ nghĩa sô-vanh văn hoá” cần phê phán. Nguyên đây là một ý trong bài phát biểu của giáo sư Hàn quốc Park Seong Rae. Ông này thẳng thắn bàn về Hội chứng độc lập (independence syndrome) hay nói nôm na là “bệnh độc lập” của người đồng bào mình. Theo Park Seong Rae “nếu người Hàn quốc càng nhấn mạnh độc lập văn hoá của nước họ đối với các nước láng giềng (Nhật Bản và Trung Quốc) – chẳng hạn như cảm xúc nghệ thuật độc đáo của người Hàn quốc – thì chính bản thân họ lại càng phải chịu thiệt thòi nhiều hơn” (tr. 336). Liên hệ tới Việt Nam, Vĩnh Sính viết “Hội chứng độc lập trong con người Việt Nam cũng khiến đa số chúng ta thiếu tinh thần tiếp thu những điều hay cái lạ của các nền văn hoá khác, đồng thời chỉ thích nói về những gì hay ho ưu việt trong văn hoá Việt Nam hơn là nói ra những khuyết điểm của mình để sửa chữa. Hội chứng độc lập cũng khiến ta thiếu tinh thần khách quan khi buôn bán làm ăn hay giao lưu với nước ngoài, chỉ biết mình nhưng không biết người” ( tr. 337).

Từ văn hoá thế kỷ XVII nói riêng tới văn hoá Việt Nam nói chung

Chu Thuấn Thủy (1600-1682) là một trí thức Trung Quốc sống ở thời nhà Minh bị Mãn Thanh xâm chiếm. Trong quá trình vận động phản Thanh phục Minh, có mấy lần Chu đã lưu lạc sang Việt Nam. Chính quyền đương thời tức các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã có lúc tính chuyện dung nạp ông, nhưng việc không thành, về sau Chu sang ở hẳn Nhật, trở thành một trí thức có công giúp đỡ cho việc đưa nước này vào một giai đoạn hưng thịnh. Trước tác của Chu Thuấn Thuỷ có nhiều, và chắc là phần chủ yếu là về nước Nhật. Tuy nhiên Chu cũng đã kịp ghi chép những ngày làm việc với người Việt, qua tập sách mỏng An Nam cung dịch kỷ sự (Ký sự về việc phục dịch ở An Nam 1657).

Tại sao Vĩnh Sính, với tư cách người dịch và giới thiệu An Nam cung dịch kỷ sự, đưa nó vào tập chuyên khảo của mình?[6] Hẳn là nhà nghiên cứu suốt đời sống xa quê của chúng ta tìm thấy ở đây nhiều điều mà bản thân ông cũng thường suy nghĩ? Cung cấp bức tranh xã hội Việt Nam thế kỷ XVII dưới con mắt Chu Thuấn Thủy, Vĩnh Sính dường như muốn tìm cho những nhận xét của mình về văn hoá Việt (mà ở trên chúng tôi đã ghi nhận) một cơ sở lịch sử chắc chắn, do đó vấn đề đặt ra có thêm sức ám ảnh.

Thực vậy, dưới con mắt Chu, xã hội Việt Nam hiện ra với những nhược điểm cố hữu và rất khó sửa chữa. Đó là một xã hội ít tiếp xúc với các xã hội bên ngoài. Ngay với thế giới Trung Hoa tưởng là quá quen thì chúng ta cũng không hiểu gì. Vừa gặp Chu, các nha lại địa phương đã giở trò hống hách, bắt người ta lạy, hỏi người ta bằng cấp gì, và nếu bảo rằng không có bằng cấp thì lập tức coi thường. Đúng là cái bệnh quá quê mùa và hay chấp nhặt mà ngày nay chúng ta còn bảo lưu khá đầy đủ! Đến như những câu chuyện mà các bậc gọi là thức giả bấy giờ quây vào hỏi Chu Thuấn Thuỷ thì phần lớn cũng là chuyện tầm thường. Sự non kém trong đời sống tinh thần của xã hội bộc lộ ở nhiều mức độ. Thứ nhất là lối học chỉ hớt lấy những cái lạ mà thiếu cơ sở học thuật, một sự ngây thơ trong tư duy khiến đương sự phải cười thầm “ Người quý quốc đọc những truyện như Tam quốc diễn nghĩa hoặc Phong thần mà cả tin là thật, cứ đến đây hỏi tôi hết chuyện này sang chuyện khác mãi không thôi. (Trong khi ấy thì lại bỏ qua không nghiên cứu những sách kinh điển như Ngũ Kinh, Tam sử.) Tựa như bỏ vàng ngọc mà chọn gạch đá, nhổ lúa xanh mà trồng cỏ tranh, không hiểu cái gì phải lấy, cái gì phải bỏ” (tr. 393). Thứ hai là mê muội vì những trò mà nói theo thuật ngữ hiện đại là văn hoá tâm linh. “ Nhưng tại sao chư quân tử từ trên xuống dưới lại cứ đến đòi xem tướng số. Hỏi thật không nhằm chỗ, đến cuối cùng không biết là đã làm nhục Du (Tức CTT. Người coi tướng, người xem sao đông biết bao nhiêu mà đếm cho hết. Trong tứ dân (tức sĩ nông công thương – VS chú) và chín học phái (tức cửu lưu: Nho gia, đạo gia, âm dương gia vv… – VS chú ), họ là hạng người thấp hèn nhất. So họ với nhà nho có đức nghĩa, khác xa một trời một vực, như đen với trắng, như nước với lửa, hoàn toàn tương phản” (tr. 392).

Tuy là nước nhỏ, nhưng khí kiêu ngạo, học vấn nông cạn, kiến thức có giới hạn, tuy có thể tuyển chọn được người tài năng trong nước Dạ Lang của mình, nhưng không tránh được vẻ ếch ngồi đáy giếng

» Vĩnh Sính

Dù đã kín đáo và lo phòng thân, cuối cùng người khách lạ cũng phải ghi trên mặt giấy cái nhận xét chung mà chúng ta ngày nay đọc lại có thể rất khó chịu, song phải nhận là không thể nói khác: “Tuy là nước nhỏ, nhưng khí kiêu ngạo, học vấn nông cạn, kiến thức có giới hạn, tuy có thể tuyển chọn được người tài năng trong nước Dạ Lang của mình, nhưng không tránh được vẻ ếch ngồi đáy giếng” (tr. 401). Theo ghi chú của Vĩnh Sính, “nước Dạ Lang” nói ở đây là một ẩn dụ, bắt đầu từ câu chuyện có thật về một nước nhỏ thời Hán, trong giao thiệp với thiên hạ mắc bệnh hoang tưởng, từng tranh luận với các sứ giả quanh chủ đề “nước Dạ Lang so với Trung Quốc bên nào lớn bên nào nhỏ”. Dạ Lang tự đại đã thành một thành ngữ có ghi cả trong các từ điển phổ thông như Tân Hoa, Tứ giác, chuyên để chỉ những cộng đồng quen sống biệt lập nên không có ý thức đúng đắn về vị trí của mình trên thế giới.

Đoạn kết : một đề nghị

Trong quan niệm của Phan Bội Châu, yếu tố đầu tiên của một nước Việt Nam mới là không có bóng cường quyền của nước ngoài. Trong khi đó, như nhiều tài liệu đã có nhắc và Vĩnh Sính cũng có ghi lại (tr. 300), trong một cuộc bút đàm, Lương Khải Siêu đã khuyên Phan “Quý quốc chớ lo không có ngày độc lập, mả chỉ nên lo quốc dân không có đủ tư cách độc lập. Thực lực của quý quốc là dân trí dân khí và nhân tài”.

Những nhận xét này không chỉ mới mẻ mà còn thiết thực và chắc chắn là rất cần thiết cho công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam hiện nay. Nó cũng là một trong những ý tưởng chính toát ra từ công trình nghiên cứu của Vĩnh Sính khi giới thiệu một số nhân tố trong giao lưu văn hoá Nhật Việt. Vốn đã có cách đánh giá riêng về tình hình trong nước, nên khi đi vào các hiện tượng văn hoá xứ người để làm việc so sánh, nhà nghiên cứu này luôn luôn tìm được những đồng minh sắc sảo và đáng tin cậy.

Nhân đây nhắc lại một xu thế chi phối cách nghiên cứu văn hoá ở ta. Nhìn chung các tác giả ít đi vào tìm hiểu mối quan hệ văn hoá Việt Nam với văn hoá nước ngoài. Ta không coi đây là một con đường để tự nhận thức. Cực chẳng đã, khi cần nói về những ảnh hưởng của văn hoá nước ngoài tới văn hoá Việt Nam, chúng ta thường chỉ nói cho phải phép, để rồi sau đó không quên nhấn mạnh là người Việt rất thông minh, rất cởi mở, và nhất là rất bản lĩnh trong quan hệ với thiên hạ. Xét về mặt này, cuốn sách của Vĩnh Sính rẽ hẳn sang một lối riêng. Tác giả đã làm được cái việc mà nhiều người chỉ mang máng cảm thấy là cần thiết, nhưng không đủ sức đi đến cùng. (Ở tr. 342, khi nhắc tới việc Quán Chi Đào Trinh Nhất đã có bài giới thiệu Chu Thuấn Thủy trên báo Trung Bắc chủ nhật 21-9-1941, Vĩnh Sính lưu ý rằng đó là một tiếng chuông thức tỉnh độc giả về thái độ thủ cựu và bài ngoại của sĩ phu nước ta. Vĩnh Sính chỉ dừng lại ở thái độ sĩ phu nói riêng, nhưng tôi tưởng cần xem đây là một đặc điểm của xã hội Việt Nam nói chung.)

Một đặc điểm nữa thường thấy trong các công trình nghiên cứu giao lưu văn hoá là chúng ta chỉ thích nói tới những nền văn hoá lớn và có quan hệ với ta quá sâu sắc như văn hoá Trung Hoa và văn hoá Pháp. Còn với các nền văn hoá khác kể cả văn hoá các nước Đông Nam Á mà ta gần gũi về mặt địa lý, hoặc văn hoá Hàn quốc, văn hoá Nhật mà ta có nhiều điểm chung, thì mọi việc càng chểnh mảng, tài liệu quá ư nghèo nàn, làm cho lấy lệ, xưa đã vậy mà nay cũng vậy.Về phần Vĩnh Sính, ông có cái may mắn là giữa hai nền văn hoá Việt Nhật có nhiều mối giao lưu thật, và chỉ viết riêng về những sự kiện đó cũng đã rất hấp dẫn. Song ông không dừng lại ở các sự kiện bên ngoài mà để công tìm trong hoàn cảnh lịch sử của hai bên những hoàn cảnh tương tự, rồi phân tích cách giải quyết của mỗi bên, từ đó lý giải các đặc điểm dân tộc đã hình thành trong lịch sử. Trước mắt người đọc, hiệu ứng qua người hiểu mình được chứng nghiệm.

Hướng đi mà Vĩnh Sính đã mở ra, theo tôi cần được tiếp tục. Chẳng hạn, tôi ước ao lúc này có ai đó hiểu biết về lịch sử và văn hoá Thái Lan, thử tìm những mối tương đồng và dị biệt giữa văn hoá Việt Nam với văn hoá Thái Lan. Tôi tin là khi làm việc này, một nhà nghiên cứu nghiêm túc có lòng lo lắng cho tình trạng văn hoá đương thời và muốn góp phần vào qúa trình tự nhận thức của dân tộc – một tác giả như thế có thể có nhiều phát hiện bổ ích, tương tự như trường hợp Vĩnh Sính. Nghiên cứu theo lối so sánh là lĩnh vực mà các nhà nghiên cứu khoa học xã hội người Việt đang sống ở nước ngoài có thể có nhiều đóng góp. Mỗi người thêm một phần công sức thì rồi quá trình tự nhận thức của xã hội Việt Nam mới được đẩy tới và tạo ra một bước ngoặt cần thiết.

-----------------------------------------------------------

[1] Việt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hoá của Vĩnh Sính giáo sư đại học Alberta, Canada, Nhà xuất bản Văn nghệ TP HCM và Trung tâm Nghiên cứu quốc học xuất bản, 2001 Những số trang ghi dưới đây đều dựa theo bản in trên.

[2] Xem thêm bài viết Phan Trọng Báu Tân Việt Nam hình ảnh một nước Việt Nam mới của phong trào Đông Du, in trong Phong trào Đông Du và Phan Bội Châu, NXB Nghệ An và TT Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2005

[3] Đây là chữ Phan Châu Trinh đã dùng khi nói về Phan Bội Châu. Nguyên văn viết bằng chữ Hán, đọc theo âm Hán Việt là “ hữu ái quốc chi tâm nhi bất tri sở dĩ ái quốc chi đạo ”. Dẫn theo bài viết của Vĩnh Sính Thử tìm hiểu ý nghĩa tác phẩm Pháp Việt liên hợp của Phan Chu Trinh, in trong Từ đông sang tây, NXB Đà Nẵng, 2005, tr. 142.

[4] Lấy một ví dụ sách Khuyến học của Fukuzawa đã hai lần được dịch ra tiếng Việt và in ra ở hai NXB khác nhau, một dưới cái tên Nhật Bản cách tân giáo dục thời Minh Trị ở nhà Chính trị quốc gia 1995, và một giữ nguyên tên Khuyến học ở nhà Trẻ, 2004. Lưu ý là chính câu nói trên “Quốc dân không có chí khí độc lập, không có tinh thần tự do, thì lòng yêu nước cũng hàm hồ nông cạn, vô trách nhiệm ” được đưa ra bìa 1 của bản in ở nhà Trẻ. Những tư tưởng của Fukuzawa đã bắt đầu được người Việt hôm nay hiểu đúng chăng, và chúng ta bắt đầu nghĩ khác đi về lòng yêu nước ? Song không hẳn vậy, theo sự ghi nhận được của chúng tôi thì cuốn sách gần như không được một tờ báo lớn nào nhắc nhở tới.

[5] Một ví dụ nữa. Theo Vĩnh Sính, “ Phan không đánh giá những khó khăn trong việc tiếp thu văn hoá và kỹ thuật nước ngoài đúng mức nên đâm ra quá lạc quan ” khi nói về tương lai (tr 142). Đọc lại một nhận định Phan viết trong Tân Việt Nam, và được Vĩnh Sính dẫn lại “ Việc học tập tinh thông nghề nghiệp ở các nước Anh Nhật Đức Mỹ nhanh cũng đến hai năm, noi theo đó chớ nên lấy khó ; việc học tập thành thạo các ngành binh công nông thương có nhanh cũng đến năm năm, ta chớ lấy làm lâu !” (cũng trang trên), chúng ta như bắt gặp chính sự ngây thơ và ảo tưởng ngự trị trong đầu óc nhiều người đương thời, ngay sau những ngày thống nhất đất nước 1975.

[6] Trước đó ông đã cho in thành một bản riêng, Hội khoa học lịch sử Việt Nam và Tạp chi Xưa và nay xuất bản, 1999


Share/Save/Bookmark
Related Posts with Thumbnails