Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2009

Tôi viết về những người cam chịu lịch sử

Nguồn : Diễn đàn forum

Ngày 26.4.2009, nhận lời mời của Trung tâm Nghiên cứu chiến tranh và hậu quả xã hội William Joiner (viết tắt : WJC), Đại học Massachusetts, Boston, mời sang Mỹ), nhà văn Bùi Ngọc Tấn đã có một bài nói chuyện về văn học chiến tranh, trong đó ông chủ yếu "đề cập đến một mặt khác của chiến tranh, chính xác hơn là nói đến những người tham gia chiến tranh một cách đặc biệt, chưa từng được nhắc đến trong các cuộc tổng kết, các buổi hội thảo, những người tham gia chiến tranh bằng việc đi tù". Dưới đây là nguyên văn bài nói này.

tôi viết về
những người cam chịu lịch sử

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn

bnt

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn tại San Francisco, 2009

Lịch sử một đất nước, một dân tộc thường được biết đến như lịch sử những cuộc chiến tranh. Lịch sử Việt Nam càng chứng tỏ điều ấy. Những cuộc chiến tranh chống phong kiến phương Bắc (Trung Hoa), những cuộc chiến tranh với Chiêm Thành, và những cuộc chiến tranh “mở mang bờ cõi”. Đó là chưa kể những cuộc nội chiến như Trịnh - Nguyễn phân tranh kéo dài bao nhiêu năm tháng.

Chỉ trong thế kỷ 20, dân tộc Việt Nam đã trải qua bốn cuộc chiến tranh: Chiến tranh chống Pháp, chiến tranh Nam Bắc và chống Mỹ, chiến tranh chống Pôn Pôt ở biên giới Tây Nam và chiến tranh chống Trung Quốc ở biên giới phía Bắc.

Chiến tranh đã kết thúc trên 30 năm, đã lùi xa. Đã được tổng kết, sẽ còn được các bên tham chiến tiếp tục tổng kết. Tổng kết và vinh danh những người đã ngã xuống. Nước Mỹ dựng bức tường Việt Nam, ghi tên hơn 5 vạn binh sĩ hy sinh. Và ở Việt Nam, biết bao đơn vị anh hùng, cá nhân anh hùng đã được tuyên dương...

Tôi muốn đề cập đến một mặt khác của chiến tranh, chính xác hơn là nói đến những người tham gia chiến tranh một cách đặc biệt, chưa từng được nhắc đến trong các cuộc tổng kết, các buổi hội thảo, những người tham gia chiến tranh bằng việc đi tù. Những người đóng góp vào cuộc chiến không phải bằng sinh mạng của mình mà bằng tự do của mình. Với kinh nghiệm sống trong một đất nước liên tiếp có những cuộc chiến tranh, tôi hiểu chiến tranh không chỉ đến một mình. Bao giờ nó cũng có một người bạn đồng hành: Nhà tù. Đó là người anh em sinh đôi của chiến tranh.

Trong chiến tranh, việc gìn giữ hậu phương là vô cùng quan trọng. Hậu phương là gốc rễ, là cội nguồn, là căn cứ bảo đảm sống còn cho tiền tuyến, cho chiến đấu và chiến thắng.

Khẩu hiệu: Dù phải đốt cháy dẫy Trường Sơn cũng vẫn chiến đấu tới thắng lợi hoàn toàn đã thể hiện rõ quyết tâm của miền Bắc giành chiến thắng bằng bất kỳ giá nào. Sự có mặt của 50 vạn sĩ quan và binh lính Mỹ cùng quân đội các nước đồng minh như Nam Triều Tiên, úc... tại miền Nam Việt Nam đã đẩy miền Bắc Việt Nam vào những năm tháng cực kỳ gay go gian khổ: Dốc toàn bộ nhân lực, vật lực, hy sinh tất cả cho cuộc chiến.

Trong cuộc chiến tranh khốc liệt này, miền Bắc thực hiện chủ trương pha lê hoá hậu phương. Những người đã từng cộng tác với Pháp, với Mỹ, những người có biểu hiện thiếu lòng tin vào sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản, những phần tử đáng ngờ, những kẻ trộm cắp, du thủ du thực..., tóm lại tất cả những gì là vẩn đục so với yêu cầu trong như pha lê của một xã hội cần pha lê hoá, đều bị tập trung cải tạo và đó được coi là một biện pháp không thể thiếu. Hơn nữa, nó còn có ý nghĩa răn đe những người khác, hướng tất cả vào mục tiêu chung.

Tổng kết về một cuộc chiến tranh không được quên những người đó. Họ đã góp phần vào chiến thắng, bằng cuộc đời mình, bằng sự đóng góp phần cao quý nhất của mình: Tự Do!

Họ có quyền được chia sẻ niềm tự hào, dù là sự tự hào nhục nhã.

Dù họ chỉ là những người cam chịu lịch sử.

Lịch sử phải viết về họ.

Văn học phải viết về họ.

Thiết tưởng cũng cần nhắc lại ở đây quan điểm của Albert Camus về nhà văn và nghề văn được bày tỏ trong diễn từ nhận giải Nobel văn học tại Stockholm (Thuỵ Điển) ngày 10 tháng 12 năm 1957, cách nay hơn nửa thế kỷ: “Theo định nghĩa, nhà văn giờ đây không thể phụng sự những người làm ra lịch sử, anh ta phục vụ những kẻ cam chịu lịch sử. Nếu không anh ta sẽ cô đơn và đánh mất nghệ thuật của mình. Tất cả những đạo quân của bạo cường với hàng triệu người cũng sẽ không cứu nổi anh ta ra khỏi sự cô đơn, ngay cả và nhất là nếu anh ta thuận tình đi đều bước với họ. Nhưng sự im lặng của một người tù không quen biết ở tận cùng thế giới, bị bỏ mặc trong nhục nhằn, cũng đủ kéo nhà văn ra khỏi trạng thái lưu đầy ấy mỗi khi, giữa những đặc quyền đặc lợi của tự do, anh ta có thể vượt lên để không quên sự im lặng đó và làm cho nó vang lên bằng những phương tiện của nghệ thuật.”

Chính với những suy nghĩ như vậy tôi đã cầm bút viết văn trở lại sau hơn 20 năm im lặng.

Cuộc đời sáng tác của tôi chia ra làm 2 thời kỳ:

1-Thời kỳ đầu tiên: Từ năm 1954 tới tháng 11 năm 1968, nghĩa là từ lúc bắt đầu nghề viết văn tới khi tôi bị bắt đưa đi tập trung cải tạo.

Trong thời kỳ này, những sáng tác của tôi đều ca ngợi con người mới cuộc sống mới, ca ngợi Đảng Cộng Sản Việt Nam, ca ngợi những người làm ra lịch sử. 14 năm đầu tiên, tôi viết theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, mô tả cuộc sống dưới sự lãnh đạo của Đảng, đang phát triển, đang đi lên, một xã hội không có bi kịch như nhà thơ Tố Hữu, người lãnh đạo văn nghệ Việt Nam đã khẳng định.

2-Thời kỳ thứ hai: Từ năm 1990 tới nay.

Đây là thời gian tôi viết về những người cam chịu lịch sử, về những thân phận bé nhỏ, về những người cố gắng tồn tại giữa những bánh xe của lịch sử, đặc biệt là những phận người rơi vào thảm cảnh tù đầy, những người chịu sự khinh bỉ của xã hội.

Về hai thời kỳ này của tôi, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên (Viện Văn Học VN) đã có một cái nhìn tổng thể như sau:

Năm 1995, sau 27 năm bị ngắt tiếng, “bị văng ra ngoài quỹ đạo”, Bùi Ngọc Tấn đã từ một hiện thực khác trở về. Và văn ông bây giờ là nói về một hiện thực khác và từ một hiện thực khác mà nhìn lại. Viết hồi ức, chân dung, truyện ngắn, tiểu thuyết, nhân vật chính trên các trang văn của Bùi Ngọc Tấn là chính ông và những người bạn cùng thế hệ được soi chiếu từ hai phía của một khoảng thời gian đã thành vạch phân cách đời người đời văn: 5 năm (1968-1973). Con dấu đóng giáp lai văn nghiệp Bùi Ngọc Tấn mang số hiệu CR 880 (CR 880 là số tù của tôi-BNT).

Thời kỳ viết văn thứ hai tới nay, tôi đã công bố hai tập truyện ngắn, hai tập hồi ký và hai quyển tiểu thuyết.

Những truyện ngắn của tôi đều viết về “những người cam chịu lịch sử”:

Một người có công với cách mạng bị nghi vấn, tất cả bạn bè đều xa lánh anh ta. Quấn quít trung thành với anh ta chỉ còn một con chó.

Một chị gái điếm chuyên phục vụ đám ăn mày.

Một anh tù bị giải đi trong một ô xà lim bịt kín trên xe com măng ca, trên một quãng đường 30 km nhưng từ sáng đến tối mới tới nơi, cực kỳ hoang mang vì những người áp tải thỉnh thoảng lại dừng lại để bắn chim mà anh ta không biết vì sao.

Một anh tù đi họp hội trường, gặp lại thầy cũ bạn cũ, từ dưới đáy xã hội, anh ta trở lại bậc thang học giỏi nhất lớp của mình. Nhưng khi cuộc họp mặt vừa tan, anh ta đã trở về vị trí “phó người”trong xã hội.

Một giám đốc bị bắt oan, vào tù bị “đầu gấu” đánh đập và bắt khoả thân đứng làm Nữ thần Tự Do, khao khát được như những người khác là chăn và giữ mấy con kiến trong một vòng tròn trên nền buồng giam nhưng không được “đại bàng” cho phép. Chỉ đến khi ra tù ông mới có thể thực hiện khát vọng ấy: Cài trái cửa, giám đốc rút ngăn kéo lấy ra một lọ nhỏ, trong đựng 4 con kiến, thả lũ kiến vào một vòng tròn bằng phấn vẽ trên bàn. Ông bẻ bánh cho chúng ăn và lấy những các vidit (có rất nhiều trong ngăn kéo- của khách và của ông) chặn chúng lại. Thỉnh thoảng ông còn đặt cả ghế lên bàn làm việc. Và khoả thân trên ghế. Đứng thẳng. Mắt hướng về phía xa. Tay giơ cao. Như nữ thần Tự Do.

Tôi xin phép được nói một chút về quyển tiểu thuyết Chuyện Kể Năm 2000 của tôi. Đó là bộ tiểu thuyết của đời tôi, bộ tiểu thuyết mang đậm chất tự sự của tôi. Chuyện một nhà báo đồng thời là một người viết văn mang tên Nguyễn Văn Tuấn bị bắt tập trung cải tạo trong thời gian chiến tranh chống Mỹ (1968-1973).

Cuộc sống trong tù của anh ta không có gì đáng nói ngoài nỗi đau ê ẩm gặm nhấm tim anh. Đó là một chuỗi dài những ngày xam xám, nhờ nhờ, bợt bạt. Như thứ ánh sáng lọt qua lỗ thông hơi vào xà lim những buổi chiều tà. Anh tù mười ngày cũng như anh tù mười năm. Một hiện tượng buồn thảm lặp đi lặp lại. Cuộc sống tẻ nhạt đơn điệu càng đơn điệu, tẻ nhạt vì không ai tin ai. Người tù này nhìn người tù khác bàng con mắt nghi ngờ. Ai cũng có thể là ăng ten, là chỉ điểm. Không ai cởi mở cùng ai. Bụng cứ liền rốn. Mỗi người là một vòng tròn khép kín. Thật khó viết. Rất dễ nhạt. Tôi cố gắng vượt qua khó khăn ấy, nói lên điều ghê sợ ấy trong cuốn tiểu thuyết của tôi. Nó bàng bạc khắp trong quyển truyện.

Rất khó cho tôi khi muốn kể lại nội dung Chuyện Kể Năm 2000. Đây là một cuốn tiểu thuyết không có cốt chuyện, chỉ có thể trực tiếp đọc nó. Đây là những cuộc đời bất hạnh tồn tại bên nhau, mỗi người mang một nỗi niềm riêng, một hoàn cảnh riêng, một lý do riêng để đến với nhà tù. Nhưng nội hàm của nó rộng hơn nhiều. Đằng sau các nhà tù, là cả một xã hội thời chiến tranh gian khổ khó khăn, thiếu thốn. Là cách quản lý xã hội thời chiến trong những ngày gay go ác liệt nhất, nghĩa là một nền chuyên chính vô sản được nâng lên một cấp độ mới. Bị nghi có những tuyên truyền chống Đảng Cộng Sản, nhà văn, nhà báo Nguyễn Văn Tuấn bị biệt giam xà lim, rồi lê chân hết nhà tù này đến nhà tù khác. Gần 5 năm sau, Tuấn được tha, không kết án, không buộc tội. Cuộc sống hậu tù của Tuấn gay go không kém những ngày sống trong tù. Nhất là khi ông trưởng công an quận gọi anh ta ra đồn, tuyên bố thẳng:

- Chúng tôi không cho anh đi làm. Tôi đã chỉ thị cho tiểu khu rồi. Tiểu khu không cấp giấy cho anh.

Sống dưới đáy xã hội, Tuấn nghiền ngẫm công lao của hắn đã đi tù để góp vào chiến thắng, và âm thầm giữ trong lòng nỗi “tự hào nhục nhã” của mình. Hắn có những thói quen mới: Ngồi ở đâu cũng cố ngồi thu nhỏ lại, gãi tai, nói chuyện với ai cũng gãi tai, kể cả nói chuyện với con, và không thể nào quên được những ngày tù tội. Thế rồi “điều khủng khiếp nhất đã đến với hắn suốt một thời gian dài sau đó. Gặp ai, ở đâu hắn cũng tưởng như gặp lại bạn tù cũ. Nhìn những người trên đường, hắn giật mình: “Quái nhỉ, ở trại nào nhỉ. Quen quá. Không biết đã gặp ở đâu rồi. Được về bao giờ nhỉ”.

Đó là một cảm giác kỳ lạ. Hắn luôn gặp những khuôn mặt tù quen quen. Những khuôn mặt tù ngờ ngợ. Không biết ở trại nào. Hẳn họ cũng như hắn. Mới được ra trại. Thoạt đầu hắn cho là hắn mắc bệnh quên. Trí nhớ hắn suy giảm, nên hắn không nhớ được những người bạn tù ấy. Nhưng rồi hắn giật mình: “Chẳng lẽ nhiều người đi tù về đến thế? Đất nước lắm người đi tù đến thế?”

Và hắn hoảng lên: “Mình hỏng mất rồi! Đầu óc mình hỏng mất rồi!”

Cùng với Tuấn là già Đô, một Việt kiều sống tại Pháp, bỏ cả người vợ Pháp và cô con gái nhỏ, nghe theo tiếng gọi của Tổ Quốc về Việt Nam, xây dựng đất nước. Già bị tập trung cải tạo vì đã thẳng thắn đấu tranh với cấp trên, và khi bị đuổi việc lại mắc thêm một sai lầm nữa: Đấu tranh theo kiểu Pháp. Ngồi ngay ở cổng xí nghiệp, tay cầm một miếng gỗ dán vuông, có cọc cắm, trên miếng gỗ dán già viết dòng chữ: “Phản đối giám đốc xí nghiệp vô cớ sa thải công nhân.” Đó là một hình thức đấu tranh không thể chấp nhận trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Thế là già vào tù. Khi được tự do, già về nhà Tuấn đã ra tù trước già một năm. Hơn hai chục năm già mới lại được sống trong không khí một gia đình, mới được ôm một đứa trẻ vào lòng. Già gặp con Tuấn, một đứa bé lên năm (cũng trạc tuổi cô con gái bé bỏng của già bên Pháp khi già về Viêt Nam).

Già bế bé lên, hít mùi thơm của đứa trẻ. Trong giây lát già tưởng như mình đang ở Mác xây hai mươi năm trước. Ôi! Mùi của trẻ thơ. Già nhận ngay ra nó. Đã mấy chục năm già vẫn nhận ngay ra nó. Dù ở Địa Trung Hải hay ven Thái Bình Dương thì cũng giống nhau cả mà thôi.”

Không chỗ nương thân, không còn con đường kiếm sống, già viết đơn xin trở lại nhà tù nhưng không được giải quyết. Già đi ăn cắp với hy vọng được tập trung cải tạo lần thứ hai, nhưng không ai bỏ tù già. Thật là thất bại thảm hại. Già vào mậu dịch vét thức ăn thừa, già đi bới rác. Và già chết cô đơn trong một ngôi đình hoang vắng.

Quyển tiểu thuyết của tôi có Giang Văn Giang, con trai một liệt sĩ anh dũng hy sinh thời chống Pháp, trở thành trẻ bụi, ăn cắp, đánh nhau, được đưa vào trường Kim Đồng, nơi học tập cải tạo các thiếu niên hư hỏng. Nhưng chính tại đây, từ chỗ chỉ quen biết một số bạn phố Bờ Sông, Giang đã quen hầu hết bọn thiếu niên hư trong thành phố và lại đi tù tiếp.

Còn có Sáng một thanh niên nông thôn, bị chính quyền xã ghét đưa đi tập trung cải tạo, 5 lần vượt ngục đều không thoát.

Còn có Nguyễn Văn Phố, một chiến sĩ quân báo của quân đội cách mạng, bị tình nghi là gián điệp cho Mỹ, tù 18 năm với câu nói thản nhiên làm Tuấn rợn người:

- Tôi đi tù năm vợ tôi 33 tuổi, năm nay vợ tôi 51 tuổi rồi.

Còn có Chí Lồng Sếnh, một anh tù người dân tộc, gần như không nói, không cười, chỉ im lặng lao động, bỗng một đêm nằm trong buồng giam, nghe tiếng nai gộ ngoài thung lũng, trở mình nằm sấp, nhìn ra bìa rừng ánh trăng bàng bạc, nói một mình:

- Con nai về ăn lá sắn non đấy.

Nỗi nhớ nhà, nhớ vợ con, làng bản chỉ gói gọn trong một câu ngắn ngủi ấy.

Còn có Nguỵ Như Cần tù hơn hai mươi năm, trông ao cá, một người sống giữa rừng đã gần biến thành cây cỏ.

Tôi không tra tấn độc giả bằng những cảnh đời xám xịt u tối tuyệt vọng suốt 800 trang sách. Theo sự đánh giá của đông đảo độc giả, Chuyện kể năm 2000 còn là quyển tiểu thuyết của tình yêu, tình yêu con người và tình yêu đôi lứa. Tôi đã cố gắng diễn đạt tình thương giữa những người tù trong những trang viết về Tuấn và Giang, về già Đô với Tuấn, về món quà tặng của Lê Bá Di cho Tuấn: Một bãi phân trâu. Cũng như tôi đã nói lên được phần nào tình bạn giữa Tuấn và những người cùng nghề nghiệp văn chương như Lê Bàn, Vũ Mạc, Lê Bình...

Và tình yêu giữa Tuấn và Ngọc, một tình yêu chỉ có trong những năm xã hội tốt đẹp sau chiến thắng chống Pháp 1954 với những đôi trai gái lãng mạn nồng nhiệt đắm say. Đây là ngày Quốc Khánh mùng 2 tháng 9 của họ:

Quốc khánh mùng 2 tháng 9, dậy từ lúc thành phố còn đang ngủ. Náo nức. Đứng ở cửa chờ Ngọc. Nhìn sang cánh cửa bên kia đường vẫn khép. Rồi nàng mở cửa nhẹ nhàng bước ra. áo dài trắng, quần trắng, đồng phục của trường đi đón ngày quốc khánh. Hai đứa nắm tay nhau đi trên đường phố vắng tanh. Không một bóng người. Như thành phố dành riêng cho ta. Vẫn chưa thể quen được với ý nghĩ mình có cả một người con gái để mình yêu quý. Có tên của người ấy để mình lên tiếng gọi. Cám ơn về tình em yêu anh. Cám ơn mẹ cha, mẹ cha sinh em ngày ấy để cho anh mười chín năm sau đó. Để bây giờ em là của anh. Để em đi bên anh và để anh yêu. Đi đâu bây giờ em? Còn sớm quá. Em dịu dàng và tinh khiết như bầu trời đêm trước lúc rạng đông này. Phố Tô Hiến Thành trong mơ. Ra tới phố Huế vẫn là trong mơ. Tay trong tay đi mãi trong phố vắng. Kia rồi một cửa hàng vừa mở. Mình và Ngọc là những người đầu tiên bước vào hiệu. Uống cà phê sữa. Nhìn nhau. Rồi chia tay khi trời rạng sáng. Nàng đi tới trường. Mình đến Ba Đình trong khối các cơ quan trung ương.

Buổi trưa nàng lại sang. Nàng đã tắm gội, tươi tắn lạ thường. Đến chiều hai đứa ra bờ hồ Hoàn Kiếm, tìm một chỗ ngồi từ lúc mặt trời vừa lặn để xí một chỗ cho đến tối. Để bảo đảm được nhìn thấy pháo hoa trên hồ. Những chùm pháo hoa trên bầu trời mịn như nhung có lẽ là những gì đẹp nhất, kỳ ảo nhất mà con người sáng tạo ra. Mình vừa ngước nhìn pháo hoa vừa quay lại nhìn nàng. Nàng mở to mắt nhìn trời. Cặp mắt nàng, gương mặt nàng với bao mầu sắc của pháo hoa ngày hội lướt qua. Nàng còn kỳ diệu hơn, xinh đẹp hơn mọi chùm pháo hoa đẹp nhất.

Và đây cuộc sống của họ sau khi kết hôn:

Ngồi bên giấy trắng. Một hạnh phúc tuyệt vời. Ngọn đèn chiếu một ô sáng. Cẩn thận hơn, hắn lấy một tờ báo, khoanh thành cái bù đài, úp chụp xuống để khỏi làm chói mắt vợ con đang nằm trong màn. Khi vợ con hắn đi nằm là lúc hắn ngồi bên giấy trắng. (...) Ngày đi làm, đêm hắn viết. Hắn có thói quen thức khuya. Hạnh phúc là được thức khuya trong yên lặng. Hạnh phúc là những dòng chữ kín từng trang. Là bóng tối mờ mờ trong phòng, và ở một góc buồng, màn buông, tiếng vợ con thở nhẹ nhàng trong giấc ngủ. Hạnh phúc là lúc đêm khuya cặm cụi, bỗng cảm thấy có người đứng sau lưng. Buông bút. Ngả người trên ghế, đầu đã chạm ngay vào ngực vợ. Linh cảm không nhầm.

Nàng đứng sau lưng tự bao giờ. Nàng đứng im lặng nhìn mình làm việc. Nàng đưa tay ép nhẹ đầu mình vào ngực nàng. Đầy đặn. ấm. Mềm. Mình dụi đầu vào đó và ngước mắt nhìn lên, thấy rõ dưới cằm nàng có một vết sẹo nhỏ, chỉ nhìn từ góc độ ấy mới thấy, vết sẹo khi nàng còn bé tí, bị vập vào miệng chum nước. Đứng phía sau, nàng ấp hai tay vào cằm mình, thì thào:

- Đói không?

Gật đầu. Thế là hai vợ chồng khoá trái cửa, để con ngủ trong màn, đi ăn phở khuya. Ông hàng phở Ngã Bẩy quen.

Bộ tiểu thuyết Chuyện kể năm 2000 của tôi được nhà Xuất bản Thanh Niên, cơ quan của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng Sản VN in, chưa phát hành đã có quyết định cấm, bị thu hồi tiêu huỷ. Nhưng nó vẫn được in chui hàng năm ròng sau đó với số lượng mà hiện nay chưa thể thống kê được (chỉ riêng một người bán sách ở Hà Nội cũng đã bán 1000 bộ) cũng như đã được đưa lên mạng để in và phát hành ở nước ngoài. Ngay lập tức quyển tiểu thuyết đã gây chấn động, trở thành sách bán chạy nhất dù phải bán chui ở trong nước và best seller trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Theo chỗ tác giả của nó được biết ở Canada, nhà xuất bản Thời Mới (Toronto) in 3 lần liên tiếp. Tác giả đã trông thấy 5 bản in khác nhau của 5 nhà xuất bản ở Mỹ. Tại Đức, có 2 bản in khác nhau. Tất cả các báo của cộng đồng người Việt trên các lục địa đều đăng tải dưới hình thức feuilleton. Đài BBC đã để ra 3 tháng đọc Chuyện kể năm 2000. Tôi đã nhận được hàng nghìn bức thư chia sẻ của những người Việt Nam và cả những người ngoại quốc từ các lục địa Châu Âu, châu Mỹ, châu úc và châu á. Tạp chí PEN International của Hội Văn bút Quốc tế đã trích đăng một chương. Tác giả của nó được vinh dự là hội viên danh dự của Hội Văn Bút Quốc tế và hội viên danh dự Hội Văn Bút Canada. Biết bao bạn đọc trong nước, ngoài nước đẫ đến với tôi. Họ cám ơn tôi và nói rằng tôi đã nói giúp họ những điều họ hằng suy nghĩ nhưng không nói được. Trong buổi tôi nói chuyện ở Viện Goethe Hà Nội, nhiều bạn đọc cảm động, khóc nức nở không nói được nên lời. Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên viết:

Bùi Ngọc Tấn viết văn trầm tĩnh và đôn hậu. Hình như đây là kết quả của sự kết hợp bản tính người và trải nghiệm đời nơi ông. Sau những gì đã xẩy đến với ông, nếu văn ông có giọng cay độc, chua chát cũng là điều dễ hiểu. Nhưng không! Ngay cả sự trầm tĩnh đôn hậu ở đây cũng không hề là phải cố ý, gồng mình, tỏ vẻ. Ông đưa lại cho người đọc những dòng văn tự nhiên dung dị, khi những oan trái khổ đau lặn vào sau câu chữ làm nên sức nặng, chiều sâu của những điều được viết ra. Một giọng điệu văn chương làm người đọc hiểu ông, tin ông, đồng cảm với ông và cùng ông đồng cảm với những phận người, những kiếp bụi nhân sinh. Cao hơn chuyện văn chương là chuyện cuộc đời. Bùi Ngọc Tấn là nhân vật của văn ông và đồng thời ông cũng là tác giả của những điều ông viết ra. Đó là văn chương của sự thật(...)

Ông đã gánh cây thập ác đi trọn con đường trần ai của mình.

Không vứt xuống.

Không chạy trốn.

Không gục ngã.

Không dừng bước.

Và dẫu không là Chúa, ông đã được phục sinh.

Còn đây là những đánh giá của nhà văn Nguyên Ngọc:

(...) Bùi Ngọc Tấn đã đi xa hơn được rất nhiều việc mô tả một tấn bi kịch cá nhân, thậm chí một bi kịch của chế độ - điều mà một số cuốn sách viết về nhà tù thường rất tập trung - để nói đến một tình thế phi lí của cuộc sống, và vô hình trung, cuốn sách trở thành như một thiên anh hùng ca, khiêm nhường mà cảm động về con người, con người có thể đi qua được tất cả những gì xấu xa đen tối nhất, đi qua tất cả bùn lầy, giữ vững chất người của mình chống lại tất cả những thế lực đen tối nhất muốn trừ tiệt chất người ở con người. Cuốn sách bị cấm, nhưng bằng nhiều cách vẫn được truyền tay đọc rộng rãi và tác giả của nó được sự kính trọng của toàn xã hội.”

Tôi cảm ơn tất cả các bạn đọc đã chia sẻ cùng tôi.

Cảm ơn trung tâm William Joiner đã tạo điều kiện để tôi có mặt ở đây hôm nay.

Cảm ơn các bạn đã có mặt cùng tôi tại đây.


Bùi Ngọc Tấn


Đôi lời nói thêm :

Về Việt Nam, tôi nhận được những thông tin trái chiều về bài nói chuyện của tôi tại Boston. Có những ý kiến khen, nhưng cũng có những ý kiến chê mà chủ yếu là:

1- Tôi đã đánh đồng tất cả các cuộc chiến vào làm một.

2- Tôi như một người con trong gia đình đòi cha mẹ hồi môn chiến thắng: Lịch sử phải viết về họ, văn họ phải viết về họ.

Về điều 1: Thực sự tôi chỉ làm cái việc thống kê những cuộc chiến tranh trong thế kỷ 20 mà dân tộc ta đã trải qua thôi:

Chỉ trong thế kỷ 20, dân tộc Việt Nam đã trải qua bốn cuộc chiến tranh: Chiến tranh chống Pháp, chiến tranh Nam Bắc và chống Mỹ, chiến tranh chống Pôn Pôt ở biên giới Tây Nam và chiến tranh chống Trung Quốc ở biên giới phía Bắc. Không có ý kiến phân tích về tính chất các cuộc chiến tranh lại càng không đánh đồng các cuộc chiến .

Về vấn đề thứ hai. có thể tôi đã chủ quan, nghĩ rằng ai cũng hiểu ý mình định nói. Tôi muốn đề cập đến một mặt khác của chiến tranh, chính xác hơn là nói đến những người tham gia chiến tranh một cách đặc biệt, chưa từng được nhắc đến trong các cuộc tổng kết, các buổi hội thảo, những người tham gia chiến tranh bằng việc đi tù. Những người đóng góp vào cuộc chiến không phải bằng sinh mạng của mình mà bằng tự do của mình. Với kinh nghiệm sống trong một đất nước liên tiếp có những cuộc chiến tranh, tôi hiểu chiến tranh không chỉ đến một mình. Bao giờ nó cũng có một người bạn đồng hành: Nhà tù. Đó là người anh em sinh đôi của chiến tranh.

Và:

Trong cuộc chiến tranh khốc liệt này, miền Bắc thực hiện chủ trương pha lê hoá hậu phương. Những người đã từng cộng tác với Pháp, với Mỹ, những người có biểu hiện thiếu lòng tin vào sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản, những phần tử đáng ngờ, những kẻ trộm cắp, du thủ du thực..., tóm lại tất cả những gì là vẩn đục so với yêu cầu trong như pha lê của một xã hội cần pha lê hoá, đều bị tập trung cải tạo và đó được coi là một biện pháp không thể thiếu. Hơn nữa, nó còn có ý nghĩa răn đe những người khác, hướng tất cả vào mục tiêu chung.

Tổng kết về một cuộc chiến tranh không được quên những người đó. Họ đã góp phần vào chiến thắng, bằng cuộc đời mình, bằng sự đóng góp phần cao quý nhất của mình: Tự Do!

Họ có quyền được chia sẻ niềm tự hào, dù là sự tự hào nhục nhã.

Dù họ chỉ là những người cam chịu lịch sử.

Lịch sử phải viết về họ.

Văn học phải viết về họ.

Ý tôi muốn nói trong đoạn văn trên là: Chiến thắng của miền Bắc được làm nên bởi nhiều nguyên nhân trong đó có những năm tháng tù đầy oan khuất của biết bao người. Lịch sử không được quên nguyên nhân ấy, không được quên những người ấy.

Văn học phải viết về họ. Vâng. Cho đến hôm nay, tôi tự hào là nhà văn duy nhất trong nước đã viết về họ. Những già Đô, những Nguỵ Như Cần, những Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Văn Phố, những Vũ Lượng, Min, Giang Văn Giang... Tôi đã đưa cuộc sống của họ vào văn học, ra xã hội.

Càng không phải tôi đòi chia quả thực, khi rõ ràng những bọn người tù đầy chúng tôi để thực hiện pha lê hoá hậu phương cho đến ngày hôm nay vẫn sống sự quản lý đặc biệt của nhà nước. Đòi chia quả thực gì đây?

Nếu chịu khó đọc ngay đoạn sau của bài nói chuyện thì thấy rõ ngay ý tôi định nói:

Thiết tưởng cũng cần nhắc lại ở đây quan điểm của Albert Camus về nhà văn và nghề văn được bày tỏ trong diễn từ nhận giải Nobel văn học tại Stockholm (Thuỵ Điển) ngày 10 tháng 12 năm 1957, cách nay hơn nửa thế kỷ: “Theo định nghĩa, nhà văn giờ đây không thể phụng sự những người làm ra lịch sử, anh ta phục vụ những kẻ cam chịu lịch sử. Nếu không anh ta sẽ cô đơn và đánh mất nghệ thuật của mình. Tất cả những đạo quân của bạo cường với hàng triệu người cũng sẽ không cứu nổi anh ta ra khỏi sự cô đơn, ngay cả và nhất là nếu anh ta thuận tình đi đều bước với họ. Nhưng sự im lặng của một người tù không quen biết ở tận cùng thế giới, bị bỏ mặc trong nhục nhằn, cũng đủ kéo nhà văn ra khỏi trạng thái lưu đầy ấy mỗi khi, giữa những đặc quyền đặc lợi của tự do, anh ta có thể vượt lên để không quên sự im lặng đó và làm cho nó vang lên bằng những phương tiện của nghệ thuật.”

Chính với những suy nghĩ như vậy tôi đã cầm bút viết văn trở lại sau hơn 20 năm im lặng.”

Có lẽ sự diễn đạt của tôi không được tốt, nên có thể hiểu theo nhiều cách trái ngược nhau.

Lỗi đó tại tôi.

Tôi xin nhận và rút kinh nghiệm trong khi viết.

B.N.T.

Nguồn : Bài nói chuyện tại WJC đã đăng trên trang web Bùi Ngọc Tấn và trên nhiều trang mạng khác. Chẳng hạn, ở đây bạn đọc sẽ được thấy hình bìa cuốn sách Chuyện kể năm 2000 do Nguyễn Trọng Tạo vẽ, NXB Thanh Niên, vừa in xong chưa phát hành thì bị thu hồi. "Đôi lời nói thêm" do tác giả gửi cho Diễn Đàn.

Share/Save/Bookmark

Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2009

Ba kịch bản bauxite có thể xảy ra (Xã luận số 2 của Bauxite Việt Nam )

Nguồn : BauxitVietNam

Phong trào ký tên vào bản Kiến nghị yêu cầu đưa vấn đề khai thác bauxite ở Tây Nguyên ra Quốc hội và chờ quyết định tối hậu của Quốc hội đã có nhiều kết quả tích cực đến bất ngờ.

Có thể nói, lần đầu tiên sau nhiều năm dài dân ta nhiễm thói ỷ lại chờ đợi phó mặc cho những quyết định từ bên trên, cấp trên quyết định gì cũng được, cấp trên quyết định thế nào cũng xong, hậu quả ra sao không cần biết, thì vừa qua, phong trào ký Kiến nghị, khởi đầu với những người trí thức, song cuối cùng đã lan đến nhiều tầng lớp nhân dân từ Nam đến Bắc và từ trong nước đến ngoài nước, đã đưa lại một thói quen hoàn toàn khác.

Lần đầu tiên sau gần mười năm nằm trong vòng bí mật, vấn đề bauxite đã phải được công khai hóa. Muốn coi là sự đã rồi không được, chuyện khai thác thứ quặng nhôm đầy hiểm họa ấy ở vùng đất Tây Nguyên đã làm dấy lên những ý kiến trái chiều từ các phương tiện thông tin và bắt buộc phải đi vào tận diễn đàn Quốc hội khóa 12 đang họp, rồi dội trở lại dư luận để ngày càng thấm dần, thấm sâu vào nhận thức của mọi người. Những ai đó chỉ muốn làm tới bất chấp luật pháp, rõ ràng hiện đang phải đau đầu.

Trên các phương tiện truyền thông, các loại báo chí in giấy tuy vẫn đành chịu khép vào “lề bên phải” song bằng cách này cách khác, với cả sự dè dặt của con chim dính tên sợ làn cây cong, cũng đã dũng cảm đưa ra những tin tức khó có thể bắt bẻ nổi, như chuyện người lao động phổ thông nước ngoài ngày đang đổ vào nước chúng ta ồ ạt bằng nhiều hình thức trốn luật trên các công trường xây dựng.

Trên các trang mạng thì đúng là đang có tầng tầng lớp lớp sóng dồi dư luận lồng lên, như đồng thanh tương ứng. Các nhà khoa học đã có những đánh giá mang tính phản biện khá đầy đủ về mọi mặt: cách tính trữ lượng, tính toán khả năng khai thác, kỹ thuật và công nghệ khai thác, chuyện lỗ lãi trong khai thác và kinh doanh, những đắn đo về tác hại môi trường lợi chẳng bõ thiệt, và nhất là vấn đề an ninh - quốc phòng trên “nóc nhà Đông Dương”… Những phân tích với lý lẽ chắc nịch đó lại được minh họa ăn khớp bởi chính thái độ giả dối và trịch thượng của “các đồng chí bạn mười sáu chữ vàng” ngoài Biển Đông từ tuyên ngôn lưỡi bò tới việc cấm tàu thuyền đánh bắt cá cho tới việc cho cả một đội tàu đi tuần đang tiền hô hậu ủng diễu hành làm ngư dân Việt Nam đành phải uất ức neo thuyền lại giữa mùa đánh bắt, mà “bề trên” thì cứ lặng thinh chẳng hề có một động tĩnh gì giúp đỡ ngoài những lời tuyên bố suông lặp đi lặp lại Tất cả những điều đó khiến cho dư luận càng lúc càng tự tin vào tính chính nghĩa và sự đúng đắn của yêu cầu dừng dự án bauxite, kể cả thí điểm, một yêu cầu được Đại tướng Võ Nguyên Giáp thẳng thắn nêu ra trong bức thư thứ ba. Một sự kiện mang tính xã hội dân sự đã bắt đầu thành hình và ngày một rõ nét.

Lần đầu tiên tại diễn đàn Quốc hội đã không thấy cảnh “tranh luận” xuôi chiều. Vấn đề bauxite đã được nêu ra thẳng thắn dù chỉ mới ít ỏi. Vẫn có đấy vài ba bài diễn văn viết sẵn nêu ý kiến ủng hộ “của toàn thể cử tri” (?!); vẫn có đấy ý kiến của người có trách nhiệm đứng ra hứa hẹn sẽ “chịu trách nhiệm” (?!), và liền sau đó đều bị phản bác tới tấp trên các trang mạng. Tuy thế, ngay tại diễn đàn Quốc hội đã có những ý kiến khôn ngoan đúng mực khiến cho những ai đã định tìm cách né tránh cũng không lẩn đi đâu được. Vấn đề bauxite dù đang lặng lẽ tại diễn đàn quan phương này, tuy thế có phần chắc sẽ không thể xong xuôi êm thấm trong một sớm một chiều như ước mơ của những người ưa chơi canh bạc này tới đồng xu cuối cùng và giọt máu cuối cùng của dân tộc.

Các nhà khoa học đã hiệp sức với các vị đại biểu Quốc hội có tâm huyết bằng cách nêu ra hàng loạt sai lầm khi phải gật đầu theo định hướng hoặc phải ra những quyết nghị vội vã, xuôi chiều.

Sắp tới, phong trào đòi hỏi giải quyết vụ bauxite sẽ diễn ra theo những kịch bản nào? Có thể hình dung ba dạng kịch bản như sau.

Kịch bản một: lý trí thắng. Theo kịch bản này, dựa trên những lý lẽ hết sức thuyết phục, Quốc hội sẽ ra nghị quyết yêu cầu dừng toàn bộ các dự án bauxite ở Tây Nguyên, mọi chuyện tạm xếp lại, vài ba chục năm nữa các thế hệ sau sẽ tính chuyện kinh doanh khai thác chứ không thể chỉ tính chuyện moi tài nguyên thô đi bán cho bọn lái súng và bọn sản xuất tàu ngầm. Đó sẽ là kịch bản của sự thắng thế của lý trí. Nhưng lại có câu hỏi: lý trí nào và lý trí của ai? Dĩ nhiên đó không phải là lý trí của những ai đã trót dấn sâu vào canh bạc này. Những “đại diện ưu tú” của thứ “lý trí” phản lý trí này sẽ dùng hết sức mạnh của họ để chống lại, nếu cần thì có thể nhờ “các đồng chí bạn” can thiệp, mà lý do thì chẳng thiếu gì. Vì thế ta nên tỉnh táo mà thấy, kịch bản này khó thành công, bởi nó đụng tới vô vàn thứ đặc quyền đặc lợi của những “nhóm lợi ích” nằm cả ở bên này lẫn bên kia biên giới.

Kịch bản hai: lý trí thua. Và thua to! Dĩ nhiên là lý trí lành mạnh của giới trí thức và nhiều người dân sẽ thua cái lý trí tham lam đen tối của các nhóm đặc quyền đặc lợi trong nước và ngoài nước, họ sẽ liên kết chặt chẽ với nhau để “cương quyết xốc tới” như điều đã diễn ra từ trước đến nay, “biết rồi, khổ lắm, nói mãi” trong cơ chế một đảng cầm quyền! Tình hình thế giới nhạy cảm hiện nay càng rất dễ xui khiến những thế lực máu mê siêu cường quen đục nước béo cò tìm mọi cách đoạt thêm quyền lực ở bên ngoài biên ải để đối phó với những khó khăn chồng chất và không bao giờ hết bên trong cương vực. Đây sẽ là một kịch bản đen tối nhất cho dân tộc.

Kịch bản ba: cò cưa kéo cưa. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy ở Việt Nam sự việc thường diễn ra theo lối khôn khéo của đầu óc tiểu nông và theo lối nửa vời của đầu óc tiểu thương. Vấn đề bauxite Tây Nguyên sẽ bị duy trì trong thế nhùng nhằng, cố tình tạo ra một thùng nước không sôi một trăm độ, cố tình làm sao cho mâu thuẫn không thành xung đột kẻo “khó xử lắm các đồng chí ạ”! Biện pháp sẽ vẫn như cũ: hạn chế thông tin, làm ăn kín đáo, xé lẻ đàn áp. Ta đã thấy bối cảnh đó trong nhiều chục năm qua, cái bối cảnh đã biến một dân tộc năng động và yêu cuộc sống thành những cá thể rời rã bất lực, bất cần đến chí khí, bỏ mặc cho lý trí bị ngủ vùi. Điều này cần được nói thẳng ra: từ bao lâu nay những anh chị em chủ trương các trang Web và trang blog chúng ta đều có chung một nguyện vọng tha thiết chẳng nói thành lời, ấy là làm sao nâng cao dân trí nhiều hơn nữa để cởi cho dân tộc khỏi vòng trói buộc mê muội ấy.

Trong chuyện này, người trí thức và lớp người trẻ tuổi lại phải chấp nhận dấn thân chứ không còn giải pháp nào hơn! Mình không làm thì ai làm? Mình không chủ động đảm đương lấy thì chờ ai đảm đương hộ? Mình không nhận việc thì cậy ai nhận việc thay?

Cuộc đời một dân tộc cũng như một cơ thể, cũng có khi cảm mạo vì thời tiết thất thường, cũng có khi đau vì tai họa bất ưng. Nhưng đành để chết đi một cơ thể, tội đó nặng lắm, vì đó là tội tự sát.

Việt Nam ngày 4 tháng 6 năm 2009 (ngày diễn ra sự kiện Thiên An Môn bên Tàu 20 năm trước).

Nguyễn Huệ Chi Phạm Toàn Nguyễn Thế Hùng


Share/Save/Bookmark

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2009

Hai mươi năm bức màn im lặng trên Thiên An Môn

Nguồn : RFI

Bảo Thạch, Trọng Nghĩa

Bài đăng ngày 03/06/2009 Cập nhật lần cuối ngày 03/06/2009 12:39 TU

Một thanh niên tay không chận đoàn xe tăng đến đàn áp sinh viên ở Thiên An Môn. Một hình ảnh đã đi vào lịch sử.

Một thanh niên tay không chận đoàn xe tăng đến đàn áp sinh viên ở Thiên An Môn. Một hình ảnh đã đi vào lịch sử.

Hai mươi năm sau thảm sát Thiên An Môn ngày 4/6/1989, vết thương vẫn không lành cho dù Bắc Kinh tìm đủ mọi cách kiểm duyệt ký ức. Phương Tây cũng nhanh chóng trở lại ve vãn những người mà họ từng lên án là '' những tên đồ tể Bắc Kinh "

Ngày 35 tháng 5

Trên khắp các lục địa, từ Sydney đến Luân Đôn, từ Paris sang Washington hay Hồng Kông, các buổi lễ tưởng niệm nạn nhân Thiên An Môn được tổ chức nhân ngày giỗ này. Nhưng tại Trung Quốc, chính quyền buộc mọi người phải mắc bệnh mất trí: mọi tin tức liên quan đến ngày " mồng bốn tháng sáu " bị thanh lọc và tẩy xóa trên mạng, đến mức hôm nay, những người sử dụng Internet tại Trung Quốc phải luồn lách, gọi " ngày 4 tháng 6 " là " ngày 35 tháng 5 ".

Điều chắc chắc là mạng Internet phải giữ im lặng tuyệt đối. Chính quyền Trung Quốc không muốn xảy ra một sự trao đổi nào về ngày " 35 tháng 5 ". Bức tường lữa thuộc hệ thống kiểm duyệt trên mạng đã biến thành " Vạn Lý Trường Thành " hay " Bức tường ô nhục ", theo bình luận của một số người trên Internet.

Bởi vậy mà ngày hôm nay, tại Trung Quốc, rất ít khả năng diễn ra một cuộc tập hợp nào để tưởng nhớ Thiên an Môn : các nhà ly khai bị đặt dưới vòng kiểm soát gắt gao của công an. Có thể ai đó ngày mai sẽ can đảm mặc áo trắng, màu tang chế, để thầm nói lên sự phản đối, theo lời kêu gọi của đối lập lưu vong.

Theo nhà phân tích Jean-Philippe Béja ( Pháp ) : " Trong Đảng Cộng sản Trung Quốc, người ta rất lo ngại sẽ phải trả lời về việc đã thừa kế quyền lực từ những " tay đồ tể Thiên An Môn ".

Bị cấm kỵ nhắc nhở đến, điều mà chính quyền quy chụp với bản án " phiến loạn chống cách mạng " vẫn còn chờ đợi một ngày kia sẽ được xét lại. Con số nạn nhân cũng không rõ ràng. Một bản tổng kết đầy đủ của Tòa Đô chính Bắc Kinh đưa ra con số 241 nạn nhân thiệt mạng, trong khi các nhà bảo vệ nhân quyền cho rằng đã có ít nhất hàng ngàn trường hợp tử vong.

Trong lớp trẻ hiện nay, ít ai biết rằng, cách đây 20 năm, từ trung tuần tháng 4 đến ngày 4 tháng 6, những thanh niên, sinh viên như họ, mang lý tưởng Dân chủ, đã được sự ủng hộ của đông đảo công nhân, giáo viên, công chức và dân cư Bắc Kinh, để khởi xướng phong trào biểu tình sẽ nhanh chóng lan sang nhiều thành phố và khiến cho Đảng Cộng sản cầm quyền gần như bị tê liệt.

Vào thời điểm đó, tất cả các ông kính truyền hình truyền thông trên thế giới đều nhắm về hướng Thiên An Môn, đặc biệt nhân cơ hội Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Gorbachov đến viếng thăm Bắc Kinh vào giữa tháng 5 năm 1989.

Theo nhiều nhà báo, phong trào mệnh danh là Mùa Xuân Bắc Kinh vào đỉnh điểm đã tập hợp được cả triệu người để yêu cầu dân chủ hóa. Các lãnh đạo sinh viên, vành khăn đỏ quấn đầu, tuyệt thực đòi đối thoại với chính quyền. Ngày 30 tháng 5, trước bức chân dung khổng lồ của Mao Trạch Đông, họ đã xây một bức tượng Nữ thần Tự do cũng vĩ đại không kém.

Lãnh đạo Đảng Cộng sản bị chia rẽ. Triệu Tử Dương muốn bênh vực cho thanh niên biểu tình, nhưng Đặng Tiểu Bình quyết định sử dụng bạo lực. Ngày 3 tháng 6, chính quyền ra lệnh cho sinh viên rời quảng trường Thiên An Môn. Trong chốc lát, các xe thiết giáp đổ về đây. Đêm hôm đó, chẳng còn nghi vấn gì nữa, quân đội được gọi là quân đội nhân dân, đã xả súng bắn vào đám đông. Một số lãnh đạo sinh viên như Vương Đan, Ngô Nhĩ Khai Hy, Sài Linh, buộc phải lui vào vòng bí mật, rồi ra đi sống lưu vong, trong khi Trung Quốc bước vào thời kỳ bị cô lập.

Phương Tây cũng nhanh chóng xí xoá vụ Thiên An Môn

Tuy nhiên, 20 năm sau vụ Thiên An Môn, từ kẻ ''tội đồ'' của thế giới, Trung Quốc đã vươn lên thành nhân vật tối cần trên chính trường quốc tế.

Thật vậy, vào thời điểm hiện nay, từ Hoa Kỳ cho đến châu Âu, tất cả những ai từng hứa hẹn trừng phạt những kẻ bị họ mệnh danh là ''những tên đồ tể tại Bắc Kinh'', đều cố ve vãn chính quyền Trung Quốc, để giành được thị phần tại một nước có sức hấp dẫn đáng kể về mặt kinh tế.

Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu đang làm các nước Phương Tây điêu đứng lại càng gia tăng uy thế của một quốc gia được cho là có khả năng cứu vãn đà tăng trưởng của thế giới, đồng thời là chủ nợ hàng đầu của siêu cường Hoa Kỳ. Sự kiện Diễn Đàn Kinh tế Thế Giới Davos trải thảm đỏ đón thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo vào tháng giêng 2009 là dấu hiệu rõ nhất về thực tế này.

Hai mươi năm sau vụ Thiên An Môn, Liên Hiệp Châu Âu đã trở thành bạn hàng số một của Trung Quốc, thậm chí còn ký kết với nước này một thỏa thuận đối tác chiến lược. Pháp và Đức, hai đầu tầu của Châu Âu, trong những năm gần đây, đã không ngừng vận động để Liên Hiệp Châu Âu và Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận vũ khí đối với Bắc Kinh, được ban hành ngay sau vụ Thiên An Môn, viện lẽ biện pháp trừng phạt này đã ''lỗi thời''.

Thái độ của Hoa Kỳ cũng không khác. Cựu tổng thống Bill Clinton, người đã lên án những ''tên đồ tể tại Bắc Kinh'' trong cuộc vận động tranh cử năm 1992, đã chính thức đi thăm quảng trường Thiên An Môn 6 năm sau đó. Phu nhân cựu tổng thống, hiện là Ngoại trưởng Hoa Kỳ, cũng mau mắn công du Trung Quốc ngay sau khi nhậm chức. Tại Bắc Kinh, bà Hillary Clinton đã cho biết rõ là nước Mỹ sẽ không để cho hồ sơ nhân quyền chi phối tiến trình hợp tác với Trung Quốc trên các hồ sơ thiết yếu như kinh tế hay khí hậu.

Thậm chí bà chủ tịch Hạ viện Mỹ, Nancy Pelosi, người vào năm 1991 đã từng trương biểu ngữ ngay trên quảng trường Thiên An Môn để tưởng niệm ''những người chết vì dân chủ tại Trung Quốc'', cũng đã đến Bắc Kinh cuối tháng 05/2009 và tiếp xúc với giới lãnh đạo Trung Quốc, chủ yếu bàn về vấn đề khí hậu.

Theo chuyên gia John Delury, thuộc Trung Tâm Quan hệ Mỹ Trung tại hội Asia Society, tầm quan trọng của Trung Quốc đối với kinh tế toàn cầu đã đẩy tất cả các vấn đề khác xuống hàng thứ yếu. Ông T. Kumar, thuộc tổ chức Amnesty International, chi nhánh tại Hoa Kỳ cũng ghi nhận : ''Hoa Kỳ có thể cứng rắn với Miến Điện trên hồ sơ nhân quyền, nhưng khi đụng đến Trung Quốc thì do các nguyên nhân chiến lược, vấn đề lại khác."


Share/Save/Bookmark

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2009

Trở về Lệ Chi viên

Nguồn : viet-studies

Truyện ngắn - Nguyễn Thúy Ái

Sau tết Đoan Ngọ, vải chín ửng khắp vườn. Loại trái này vào cuối mùa tuy trái nhỏ hơn nhưng ngon ngọt hơn và màu chín hiện ra bên ngoài vỏ cũng đẹp một cách kỳ lạ bởi sự pha trộn màu không đều trải lên lớp vỏ xù xì khiến cho trái vải trông vừa ngon mắt, vừa ngon miệng ngay cả khi chưa bóc vỏ… Chưa có năm nào vải được mùa như năm nay. Ức Trai tiên sinh ra lệnh cho đám gia nhân không được hái hết vải trên cành mà phải chừa lại trên khắp cả vườn, làm sao để cây nào trông vẫn trĩu quả. Không chỉ những loài hoa, mà vẻ đẹp của quả cũng khiến lòng ông hửng lên một niềm vui.

Từ ngày xa rời việc quan về ẩn dật nơi này, Ức Trai tiên sinh tưởng như thoát khỏi những phiền toái, phức tạp trong triều đình. Nhưng ông lại không thoát khỏi nỗi muộn phiền của lòng mình. Càng hòa mình vào thiên, quan sát cuộc sống của cây cỏ ông càng chiêm nghiệm sâu sắc về sự tồn vong, thịnh suy của cuộc sống, của một triều đại. Ông càng ngán ngẫm cho việc xâu xé, thu tóm quyền lực trong triều. Bao nhiêu công thần bị Lê Lợi bắt giam và bị giết, chính ông cũng bị người mà ông hết lòng phò tá ấy giam vào ngục tối, may mà giữ được mạng sống… Lâu nay tâm hồn ông có phần yên tĩnh hơn nhờ việc trước tác. Có lẽ đó chính là lối thoát, cũng là lúc ông được sống thật với con người của mình. Thi ca giúp tâm hồn ông trẻ lại, dạt dào cảm xúc. Năm nay tiên sinh gần lục tuần, đã trót một đời người. Với dân thường, ở tuổi ấy, họ chuẩn bị lễ lên lão để sống cuộc đời của một ông già thực sự, an phận thủ thường, vui vầy với con cháu, với cảnh điền viên. Còn với ông, dù không cần làm lễ lên lão nhưng trong con mắt tôn kính của con cháu, của đám gia nhân, của dân chúng và những kẻ sĩ ưu thời mẫn thế, từ lâu ông đã là một ông già với tất cả sự cao qúy của nghĩa ấy vì những gì ông đóng góp cho sơn hà xã tắc. Một vị khai quốc công thần, một thi tài lồng lộng như sao Khuê, họ xem ông như một thần nhân. Với họ, Ức Trai tiên sinh là một con người ưu tú của dân tộc mà dễ đến cả trăm năm, thậm chí nghìn năm mới được sinh ra… Cũng có lúc Nguyễn Trãi muốn mình thực sự già đi, để dễ sống hơn. Chả là lâu nay ông tập trung vào việc soạn thảo Quốc Âm Thi Tập để răn dạy con cháu và người đời sống sao cho hợp đạo lý. Mọi đau khổ, bất hạnh của con người cũng do việc sống trái với Đạo mà ra. Đạo cũng chính là quy luật của cuộc sống vậy...

Nhưng sáng nay có một việc xảy ra khiến Ức Trai tiên sinh cảm thấy tâm hồn mình bị xáo trộn. Như mọi ngày, sau buổi trà sớm, ông thăm đám hoa kiểng của mình rồi vào thư phòng đọc sách. Giữa buổi ông nghỉ ngơi một lát rồi đi dạo. Hôm nay ông muốn ngắm cho thỏa vẻ đẹp của những trái vải cuối mùa. Là một nghệ sĩ, ông hiểu rằng Tạo hóa chính là người nghệ sĩ vĩ đại nhất, sáng tạo đến vô cùng và tận tụy nhất. Ngoài kiệt tác là con người, Ngài đã kỳ công tạo tác ra mọi thứ với trí tưởng tượng và óc thẩm mỹ kỳ diệu. Từ hình dáng màu sắc của những bông hoa, chiếc lá, từng loại cây trái, đến từng vẻ đẹp của những con cá, con tôm sống dưới nước cũng đều hoàn hảo, hài hòa và không trùng lắp. Mỗi tạo vật là một tuyệt tác và chỉ được tạo ra một lần duy nhất… Một nét bút của Tạo hóa, cả nghìn năm con người chưa bắt chước nổi. Tiên sinh vừa đi vừa suy nghĩ miên man. Nắng sớm tháng năm rực rỡ, chan hòa khắp vườn khiến tâm hồn u uẩn của ông có phần ấm lại nên đi một lúc, có lâu hơn thường lệ ông vẫn chưa thấy mệt. Bất chợt ông nhìn ra phía cổng có một nữ gia nhân đang chọn chiếu để mua của một người bán chiếu rong. Chuyện này vẫn thường xảy ra nên ông không để ý và định lui gót, vào thư phòng tiếp tục công việc. Nhưng chưa kịp vào, người nhà mua chiếu ban nãy đến trước mặt ông vòng tay cung kính:

- Thưa ngài, có cô bán chiếu con vừa mua còn đứng ngoài kia, thấy quả vải nhà mình nhiều và tốt quá nên xin ngài ban cho một ít, để cô mang về làm quà cho cha mẹ.

Ông ngoái nhìn, quả là cô bán chiếu còn đứng đó, có ý chờ đợi. Ông định gật đầu, bởi vải chín trong vườn lâu nay ông thường sai gia nhân đem biếu cho họ hàng thân tộc, chiêu đãi mọi người là chính. Bỗng ông đổi ý:

- Thôi, ngươi cứ mang chiếu vào nhà đi, để ta đem ra cho họ…

Trên chiếc đôn ngoài hiên, sáng nay ông lão bộc đã chọn sẵn một mâm vải quả được cột thành từng chùm rất khéo để chủ nhân đãi khách vào chiều nay. Nguyễn Trãi chọn hai chùm vải ưng ý nhất rồi đi nhanh ra cổng. Chính ông cũng ngạc nhiên khi nhận ra sự nhanh nhẹn khác thường ấy của mình, trái với phong cách chậm rãi thư nhàn của ông lâu nay. Bởi người con gái bán chiếu trong bộ áo tứ thân đơn sơ và chiếc khăn mỏ quạ sùm sụp trên đầu như mọi cô gái quê khác, nhưng là người nhạy cảm với cái đẹp nên tiên sinh nhận ra đó là dung mạo của một mỹ nhân, vóc hình trẻ trung và thon lẳn. Thấy ông, cô gái gần như run lên. Ức Trai tiên sinh, với một giọng nói âm vang nhưng dịu dàng và ân cần rất mực để cô gái khỏi sợ, ông bảo:

- Đây ta ban cho …

Ông ngập ngừng không biết gọi cô gái là “ngươi” hay “nàng”, bởi tuy vẫn còn run rẩy, người con gái đưa hai tay đón nhận chùm vải chín mọng như nhận một ân huệ từ bậc thiên tài. Đôi mắt đen dài lúng liếng dưới lần khăn kia nhìn ông e ấp nhưng không kém phần dạn dĩ, lẳng lơ, rung động của một người nữ nhìn người đàn ông, tuy lớn tuổi nhưng phong thái sang cả, uy nghiêm mà vẫn chan chứa tình, người mà cô từng nghe tiếng từ lâu, vả lại dinh cơ này của Nguyễn Trãi đại thần, người dân nào mà không biết.

- Em xin tạ ân ngài…

Chữ em ngọt ngào ấy của cô gái trẻ đẹp như một dòng nước mát rót vào lòng tiên sinh, giữa cái nắng bắt đầu lên cao, oi nồng. Ông tự hỏi, chẳng lẽ trước mặt cô không phải là một vị đại thần già nua, một bậc hiền triết mệt mỏi với thế thái nhân tình? Tiếng “em” ấy khiến ông không thể quay vào ngay. Tiên sinh hỏi tiếp:

- Vậy quê cô em ở đâu …

Cô trả lời nhưng ông không kịp ghi nhớ vì bận tâm hỏi tiếp một câu nữa:

- Vậy năm nay cô em được bao nhiêu xuân xanh rồi?

- Dạ thưa ngài, em vừa đến tuổi trăng tròn lẻ…

Ông hơi mỉm cười vì một cô bán chiếu cũng nói năng văn hoa gớm, chắc cô cũng biết ông là một nhà thơ. Cô này thông minh đây. Có thể nghi ngờ điều này, nhưng một điều ông chắc chắn, đó là cô gái đẹp, đẹp lắm. Đôi mắt đen láy, lấp lánh dưới một hàng mi rợp mát, làn da trắng nõn ửng hồng vì nắng. Chiếc yếm nâu, cũ và chật không ép được vồng ngực căng, đầy sức sống… Nhan sắc này nếu được sống trong nhung lụa, được kẻ hầu người hạ và nhất là được khai tâm mở trí bằng chữ nghĩa thì chẳng thua kém những bậc nữ lưu cao quý, những quận chúa, mệnh phụ phu nhân trong triều đình. Nghĩ thế ông không ngần ngại hỏi tiếp :

- Thế cô em được mấy con rồi?

Đôi mắt cô gái càng sáng lên khi được hỏi câu này, như một thí sinh được vị giám khảo hỏi đúng vào câu mà mình đã chuẩn bị kỹ:

- Dạ thưa ngài, em còn chưa có chồng, làm chi có con ạ.

Người hỏi cũng thấy hài lòng không kém gì người trả lời. Thấy đứng lâu ngoài đường, nói chuyện với một cô gái dân dã thế này không tiện nên Ức Trai tiên sinh đành phải từ biệt cô với lời dặn.

- Khi nào dệt được chiếu đẹp, mang đến cho ta xem nhé.

Quả là Ức Trai tiên sinh chưa bao giờ tự tay chọn chiếu cho mình. Dù cuộc đời ông từng trải qua thăng trầm, có lúc phải xa quê hương, khốn khó, không được sống đúng với vị thế cao quý của mình. Nguyễn Trãi sinh ra ở đất Thăng Long, mẹ ông là một tiểu thư dòng tôn thất, con gái yêu của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán. Ông là kết quả của một cuộc tình duyên say đắm và dám vượt khỏi lễ giáo nghiêm khắc thời ấy. Mẹ ông lỡ có thai với người học trò nghèo, biết đó là một cái tội phạm thượng nên người học trò ấy phải trốn đi. Quan Tư đồ biết được và độ lượng tác hợp cho họ nên vợ nên chồng. Sau này cha của ông là Nguyễn Phi Khanh mới thi đỗ tiến sĩ. Nguyễn Trãi từ nhỏ được sống trong dinh phủ với ông ngoại. Trang viên rộng lớn, nơi Ức Trai tiên sinh lui về ẩn dật thường gọi là Lệ Chi viên cũng là cơ ngơi lâu đời của một giòng họ danh giá bậc nhất, là nơi vui thú khi quan tể tướng Trần Nguyên Đán về hưu. Vì thế việc Nguyễn Trãi đứng nói chuyện, ban tặng phẩm vật cho một cô gái bán chiếu ngoài đường, chưa biết rõ lại lịch khiến đám gia nhân xì xầm, đến tai cả con cháu ông.

Nỗi xao xuyến của Ức Trai trước cô gái đẹp tuy mãnh liệt nhưng ông nghĩ rằng việc ấy sẽ qua. Ông lại rơi vào nỗi cô đơn và chỉ chú tâm vào việc soạn sách, làm thơ là chính. Nhưng thật bất ngờ, chưa đến một tuần trăng sau, cô gái bán chiếu ấy lại đến và xin dâng lên Ức Trai tiên sinh một đôi chiếu rất đẹp. Gia nhân dâng lên cho ông xem, ông rất ưng ý nhưng khi gia nhân trả tiền cô không nhận. Nghe thế, tiên sinh bảo người nhà vào kho lấy ban cho cô một tấm lụa thì cô xin nhận. Lần này ông mới biết được tên cô, Nguyễn Thị Lộ và nắm rõ quê quán của cô gái.

Thị Lộ về rồi, mấy ngày sau Nguyễn Trãi chưa hết ngẩn ngơ khi nhận ra sự thay đổi của mình. Trong ông tràn dâng một sức sống mới, giống như thời trai trẻ. Vì sao? Vì trong đôi mắt cô gái ấy, tiên sinh thấy mình không già, cái cách liếc mắt đưa tình, cái cách e ấp làm duyên của cô khi đứng trước ông đã nói lên điều đó. Vẻ thanh xuân của cô như san sẻ bớt tuổi già của ông. Còn sắc đẹp ư? Đó quả là một liều thuốc thần cho hầu hết đàn ông. Người đàn bà đẹp thường khiến nỗi khao khát yêu đương ở đàn ông dấy lên mãnh liệt. Thảo nào không hề ngẫu nhiên mà hai chữ sắc dục lại đi đôi với nhau. Khi những cuộc gặp gỡ của Nguyễn Trãi và Thị Lộ mỗi ngày một nhiều thì người trong gia đình, những gia nhân, công bộc trung thành lâu năm, có người sống từ thời cụ quan họ Trần cũng tỏ ý bất mãn khi biết Ức trai tiên sinh định cưới một người vợ lẽ kém ông quá nhiều tuổi, chỉ đáng con cháu, lại xuất thân trong một giai tầng thấp kém, có lẽ bao đời không biết đến chữ nghĩa thánh hiền. Nhưng họ không không thể không công nhận rằng cô gái ấy có đủ tinh khôn, ma lực để làm Ức Trai tiên sinh mê mệt, bỏ qua mọi lời can gián. Trước khi đưa Thị Lộ về điền trang, để nâng cao giá trị cô gái sắp chung chăn gối với mình Ức Trai đã ra mấy câu thậm dở mà tương truyền là cuộc xướng họa đầu tiên giữa tiên sinh với Thị Lộ, để chứng tỏ người phụ nữ ấy cũng có thi tài.

Cô ở đâu mà bán chiếu gon

Hỏi thăm chiếu ấy hết hay còn

Xuân xanh chừng độ bao nhiêu tuổi

Chồng có hay chưa, được mất con?

Và bài họa cũng là của ông:

Quê ở Tây Hồ bán chiếu gon

Cớ sao ông hỏi hết hay còn

Xuân xanh vừa độ trăng tròn lẻ

Chồng còn chưa có, có chi con

Văn tài Ức Trai có thể chế tác ra những bài xướng họa hay hơn gấp nhiều lần, nhưng ông phải hạ thấp mình xuống như thế cho vừa với con gái dân dã, chỉ quen đối đáp trong những buổi ngồi dệt chiếu hay giã gạo …

Một người như Ức Trai tiên sinh, từng cùng Lê Lợi xây dựng đường lối chính trị, quân sự, đấu tranh ngoại giao với giặc, người từng thảo bản “Thiên cổ hùng văn”, được đời đời truyền tụng … thì việc thuyết phục những người thân, giúp họ vượt qua sự lo lắng, e ngại để ông lấy Thị Lộ chỉ là chuyện nhỏ. Và Thị Lộ đã không làm Ức Trai thất vọng, cô rất thông minh, tiếp nhận ngay được những bài học đầu tiên từ người chồng già dạy. Cô cũng rất thích thú với văn chương thi phú và những giai thoại văn chương. Có dịp đàm đạo với Thị Lộ, không ai nghi ngờ rằng, chỉ một thời gian ngắn, từ một cô gái bình dân, mù chữ đã lột xác thành một bậc nữ lưu quý tộc mà vẫn tràn đầy sức sống, sự sinh động của người lao động. Đó là nền tảng để sau này Nguyễn Trãi dám hạ mình xin cho cô được sung chức “Lễ Nghi Nữ Học Sĩ” trong triều, một thứ hư khoa vượt xa thực học của Thị Lộ, để tăng lên sự môn đăng hộ đối cho cuộc hôn nhân chênh lệch về nhiều mặt ấy. Có lẽ đó là lần đầu tiên và duy nhất trong đời Ức Trai làm một việc trái với lòng lành của mình, nhưng ông lại chặc lưỡi, tự đánh lạc hướng lương tâm rằng, việc ấy chẳng hại gì ai.

Mặc dù Ức Trai tiên sinh từng nhiều lần cưới vợ, như những người đàn ông cao sang, danh vọng thời ấy. Nhưng tất cả những bà vợ kia, tuy gốc gác danh gia vọng tộc hay bình dân thì họ đều có một đặc điểm rất giống nhau trong chuyện chăn gối. Đó là họ gần như hoàn toàn thụ động khi ái ân cùng chồng. Còn Thị Lộ, chỉ sau một thời gian ngắn làm vợ, người đàn bà trẻ này không chỉ biết hưởng ứng, hòa điệu cùng ông trong khúc nhạc ái ân mà còn biết cách chủ động, gợi tình và đẩy chồng lên cao trào… Có lẽ lâu lắm rồi, Nguyễn Trãi thấy mình sung mãn đến như vậy. Ông hài lòng người vợ trẻ về nhiều mặt, không như lo lắng của mọi người. Chỉ một điều tiên sinh lấy làm lạ, là từ khi về sống ở Lệ Chi viên, Thị Lộ chưa một lần về thăm nhà, dù ông có ý khuyến khích. Nhưng Thị Lộ vẫn tỏ rõ là một người con hiếu thảo. Nàng vẫn sai người mang bạc vàng về cho cha mẹ tu bổ lại nhà cửa, tậu thêm ruộng vườn, cưới vợ cho em. Khi nhà Lê vời Nguyễn Trãi ra làm quan trở lại, bổng lộc được phục hồi thì anh em, họ hàng Thị Lộ cũng hiển vinh theo, được phong chức quan lớn, quan nhỏ tùy theo mức độ thân sơ với mình. Trong ngoài Lệ Chi viên đều biết uy quyền và sự ảnh hưởng của Thị Lộ với quan Thừa Chỉ Viện hàn lâm Nguyễn Trãi. Bản thân nàng được lui tới triều đình nhờ chức danh Lễ Nghi Nữ Học Sĩ cũng có tác dụng tích cực tới vị trí của người chồng. Vị vua trẻ tuổi lúc ấy là Lê Thái Tông cũng say mê Thị Lộ, không chỉ vì vẻ yêu kiều mà còn vì sự thông minh, ứng biến tài tình của nàng. Nguyễn Trãi biết điều nhưng vẫn phải làm ngơ. Vả lại việc vì vua trẻ tuổi biết xét lại, biết công trạng, tài năng của ông đã xuống chiếu phục chức cho ông. Với Ức Trai đó là một ân huệ quá lớn, giải được phần nào oan ức lẫn minh chứng được danh dự của ông trong con mắt những người ganh ghét chỉ muốn vùi dập ông lâu nay. Ngay cả ông biết rằng, Thị Lộ, dù không có việc gì vẫn cứ ở lại trong cung nên có điều tiếng xì xầm, ông đắng lòng nhưng vẫn phải chịu đựng. Khi ra làm quan trở lại, tuổi cao, việc lớn, Nguyễn Trãi luôn muốn hết lòng với sự tín nhiệm của vua nên lúc nào cũng mệt mỏi vì làm việc quá sức, thức khuya, lao tâm khổ trí vì dân, vì nước, vì ơn cao dày của Thiên tử… Chuyện ấy không phải không ảnh hưởng đến khả năng chăn gối của ông, với một người vợ trẻ phơi phới xuân tình. Ông biết mình không đáp ứng đủ nhu cầu dục tình của vợ. Quan ngự y là người thân thiết với Nguyễn Trãi, có giúp ông bài thuốc nổi tiếng “Nhất dạ ngũ giao”, tiên sinh có dùng nhiều nhưng thực tế thì “ngũ dạ nhất giao” ông cũng không làm nổi. Thuốc thang nào cũng chịu thua trước luật sinh, lão... Nên dù Thị Lộ ở đêm trong cung, nhiều khi ông lại thấy dễ chịu. Ngay cả trước đây, đám gia nhân xì xầm, khi có dấu hiệu của một tên trộm đột nhập vào Lệ Chi viên, hay rình rập ở khuê phòng của Thị Lộ, không chỉ một lần nhưng vì xem xét thấy không mất gì nên không làm to chuyện. Chỉ có Ức Trai tiên sinh thấy lo trước việc bí ẩn ấy…

***

Mùa hạ năm đó, vua đi duyệt võ ở Chí Linh. Lệ Chi viên nhận được tin vui là trên đường trở về, nhà vua cùng đoàn tùy tùng sẽ nghỉ lại ở gia trang một đêm. Từ chủ nhân cho đến đám gia nhân của trang viên rộn rã trước vinh dự lớn lao này. Họ trang hoàng, giăng đèn kết hoa, tỉa tót cây kiểng, đánh bóng những bộ lư đồng và ướp xạ xông hương cho các gian phòng mà vua sẽ chọn để nghỉ đêm. Khi xa giá vua đến nơi, mọi người mới biết chuyến đi này không có thị nữ theo hầu, nếu có thì chỉ là những thị tì làm công việc phục vụ bên ngoài, nên không ai khác hơn để nâng giấc mình rồng là người vợ lẽ xinh đẹp của Ức Trai tiên sinh, vốn cũng là bạn tri âm của nhà vua trẻ lâu nay. Nhưng bất hạnh thay đó lại là giấc ngủ sau cùng của ngài.

***

Đó là một vụ án lịch sử, oan ức và đau lòng, làm ray rứt nhiều đời sau, cho cả người chết và người bị xử tội. Nguyễn Trãi và Thị Lộ bị kết án âm mưu giết vua, riêng Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc.

Trong lòng thần dân và cả những đời vua Lê nối ngôi sau này đều biết Nguyễn Trãi bị oan. Một bậc anh tài, đức độ như ông giết vua để làm gì, ông không bao giờ có ý nghĩ ấy, cả lúc bị thất sủng. Thị Lộ thì càng không, vì đó chính là lúc cô gái quê, ít học nhưng đầy tham vọng ấy đạt đến đỉnh cao danh vọng, chỉ nhờ vào sắc đẹp và chút khôn ngoan, toan tính. Chính Thị Lộ làm một cuộc đổi đời nhanh chóng cho mình và cả giòng họ mình, họ hàng nhà cô ai mà không ngưỡng mộ và trĩu nặng ân sủng với bà phu nhân quyền quý vốn là con em của họ.

Khi Thị Lộ gánh chiếu đến Lệ Chi viên, cô đã hơn mười bảy tuổi, một năm trước đó nhà cô đã nhận lễ dạm ngõ của một người con trai nghèo cùng làng. Đó là một cuộc hôn nhân đặt để, như hầu hết những cuộc dựng vợ gả chồng thời ấy. Gã trai trẻ ấy khỏe mạnh, cao lớn nhưng Thị Lộ không ưng vì gã nghèo là lại có tính hung hăng di truyền. Cô từng biết cha gã đánh mẹ gã chết đi sống lại vì những lý do vu vơ, nhất là khi say rượu. Anh em gã cũng có cái thói vũ phu ấy. Nhạy cảm, khôn sớm, Thị Lộ biết mình đẹp và hiểu rằng đó là sức mạnh của nữ nhi, vì người đàn ông nào cũng háo sắc, càng giàu sang phú quý họ càng tăng thói háo sắc háo dâm.

Đã nhiều lần đi ngang Lệ Chi viên, Thị Lộ len lén nhìn vào chốn quyền quý ấy với một lòng thèm muốn vô hạn. Được sống trong ấy, dù với vị trí nào cũng là cao sang với mình lắm rồi. Cô cũng biết tiếng vị quan lớn từng làm quan trong triều về đây ở ẩn lâu nay. Những ông quan dù về hưu đều muốn có thêm vợ, khi người vợ trước già, cũ đi một chút là họ tìm vợ mới. Thị Lộ từng hy vọng vào nhiều cổng quan phủ khác hé mở cho mình nhưng cô chưa gặp may. Đó cũng không phải lần đầu gia nhân của Lệ Chi viên ra mua chiếu hay đặt chiếu nhưng Thị Lộ không bao giờ thấy mặt được chủ nhân. Mỗi sáng, gánh chiếu ra đi, Lộ đều thắp hương khấn vái mong được gặp gỡ một người đàn ông quyền quý nào đó và được lọt vào mắt của ông ta.

Vận may đã đến với Thị Lộ khi cô gặp được một văn nhân vốn nhạy cảm với cái đẹp, dù cái đẹp ấy được dấu trong quần áo nghèo nàn. Việc Nguyễn Trãi muốn cưới cô làm lẽ khiến gia đình cô nghe như tiếng sét ngang tai. Việc đó ngoài sức tưởng tượng nhưng họ cũng thấy ngay nguy hiểm cho cô gái. Hề, gã chồng chưa cưới của Thị Lộ biết chuyện này chắc chết cả nhà. Nhưng rồi nhờ có vàng bạc, họ cũng thỏa thuận được với Hề. Nhận mấy nén vàng, gã đồng ý nhượng vợ lại cho người khác. Mọi việc tưởng như êm đẹp, Thị Lộ về trang viên sống đời mệnh phụ. Thế nhưng thỉnh thoảng hắn vẫn tìm cách ghé qua nhà cha mẹ cô gây chuyện, nhằm kiếm thêm mấy nén bạc để uống rượu. Nếu không hắn dọa sẽ đến trước trang viên, nói cho mọi người rằng Thị Lộ là quân lộn chồng. Dù gì cũng đã ăn đồ dạm ngõ của hắn. Chính vì thế mà từ khi về nhà chồng, Thị Lộ dù rất nhớ cha mẹ cũng không dám bén mảng về thăm. Cô luôn nằm mơ thấy mình mặc áo thêu, đeo vòng ngọc, ngồi trong kiệu hoa lộng lẫy, có kẻ hầu người hạ về quê, cho dân làng, phường bạn dệt chiếu, bán chiếu ngày xưa của mình lác mắt. Nhưng đó cũng chỉ là trong mơ. Thị Lộ luôn sợ gặp lại Hề.

Vàng bạc cũng không làm nguôi mối hận mất vợ ở Hề. Có lần hắn lén trèo vào trang viên, tìm đến khuê phòng của Thị Lộ, nhưng bị động hắn tìm cách thoát nhanh. Như bị ma quỷ dẫn đường, dù sợ nhưng gã cũng cứ mò đến gia trang. Nhiều lúc gã rình thấy được cảnh vợ chồng họ ân ái, hắn điên lên muốn nhào vô bóp cổ Ức Trai cho rồi, nhưng nghĩ lại hắn không dám. Từ đó Hề thông thuộc lối vào ra trang viên một cách an toàn. Thị Lộ cũng linh cảm có hơi hướng Hề bên ngoài phòng loan nên luôn đề phòng, sợ Ức Trai tiên sinh biết sự thật. Chính những lúc vào cung là lúc Thị Lộ thấy yên ổn nhất, lại được ở bên mình rồng, một vị vua trai trẻ, phong tình.

Hề biết sẽ có việc lớn ở Lệ Chi viên, khi thấy nơi ấy giăng đèn kết hoa. Rồi cảnh binh mã rầm rộ xuất hiện, binh lính kiểm soát chặt chẽ khắp nơi, các vị quan địa phương ra lệnh cho người dân không được bén mảng đến gần trang viên. Nhưng từ xa trên một đồi sim, Hề cũng nhìn thấy xa giá cùng đoàn tùy tùng của vua xuất hiện với trống đánh cờ giong rợp trời. Không kìm được tò mò, đêm khuya hắn len qua những bụi rậm, vườn cây mò dần đến trang viên. Lúc ấy bọn lính hầu ngủ gục. Như một con rắn, hắn trườn vào theo lối bí mật quen thuộc của mình, không một tiếng động. Tất cả như chìm trong giấc ngủ, duy chỉ trước một sảnh lớn có hai người lính đứng gác. Hắn biết đó là nơi vua nghỉ ngơi. Hề men qua khuê phòng của Thị Lộ, không có nàng ở đó. Còn ánh đèn trong thư phòng, hóa ra Nguyễn Trãi còn thức đọc sách. Vậy Thị Lộ ở đâu? Trong thâm tâm, người đàn bà ấy vẫn còn là của hắn. Hề thấy như sôi lên. Như một cái bóng, hắn liều lĩnh vòng ra phía sau căn phòng có lính gác. Qua khe của chiếc cửa sổ tròn nhỏ, bằng gỗ chạm trổ hình chim hạc rất tinh xảo, nhìn vào, hắn thấy một cảnh mà nếu sau đó còn sống, hắn sẽ nhớ đời. Mình rồng đang ở trần trùng trục, phủ lên thân thể ngọc ngà của Thị Lộ, cũng không một mảnh vải che thân. Cả hai người ra sức tận hưởng lạc thú với tiếng kêu phát ra từ Thị Lộ như tiếng mèo cái lúc động đực. Thù hận, ghen tuông, hắn lồng lộn như một con thú, chỉ muốn cắn xé tình địch, còn hơn lần từng nhìn thấy Nguyễn Trãi và Thị Lộ trong một cảnh tương tự. Từ lần ấy hắn luôn mang theo một liều độc dược trong người, để dành khi cần đến. Nhưng sau đó Thị Lộ vào cung, hắn chưa có dịp gặp lại cảnh đó, đủ để kích thích lòng ghen tuông cho hắn dám nhúng tay vào tội ác. Lần này thì hắn bắt gặp vua với nàng, cái cách dâm ô của nàng mới ghê gớm làm sao. Hắn gầm lên trong lòng “Con dâm phụ!”. Hắn nhìn xuống ngạch cửa, hắn biết quá rõ bề cao cái ngạch cửa này, chỉ khoảng hơn một gang tay. Hắn thử một lần rồi. Nhưng hôm nay sức ép của hận thù khiến hắn ép mình nhỏ lại một cách không ngờ. Hai kẻ say sưa trong hoan lạc nào có hay gì, vả lại họ yên tâm có lính gác, đây là một vùng đất thái bình trong một triều đại đang thời thịnh trị. Lọt vào được bên trong rồi, ngồi thụp xuống trong một góc, Hề nhìn thấy cái bình ngọc và chén ngọc trên bàn, Hề hiểu đấy là đồ dùng riêng của vua, lập tức hắn lấy ra trong người một cái gói nhỏ bằng đầu ngón tay, mở mấy lớp lá chuối khô, rồi rắc thứ bột màu xám vào bình, vào chén. Loại độc dược này chỉ cần lỡ vấy ngón tay cho vào miệng cũng đủ chết người. Xong việc nhưng hắn không thể chui ngạch trở ra được, hắn thấy mình to lớn quá. Không sao, hắn nhanh trí đến cửa sổ, nhẹ nhàng hất cái then gỗ, vọt ra và biến đi trong đêm tối.

Xét xử vụ án này, các quan lớn, quan nhỏ của Tòa Đại Hình đều biết Nguyễn Trãi bị oan. Suốt đêm ấy ông đọc sách và ngủ thiếp đi vào lúc sáng sớm. Vả lại không ai dại gì lại để vua chết tại nhà mình. Nhưng tang chứng khá rõ ràng là nhà vua có dấu hiệu bị đầu độc. Ai hại ông? Bởi Ức Trai tiên sinh không dù phải được tất cả mọi người yêu mến, vì người tài thường bị ghen ghét, nhưng ai cũng nể phục tài năng, đức độ của ông. Chỉ trừ ông có cái tội quá yêu những phụ nữ đẹp, nhưng đó là chuyện chung của các đấng mày râu, ai mà nỡ ghét.

Những ngày cuối cùng trong ngục chờ ra pháp trường bị xử trảm cùng với ba họ, Nguyễn Trãi suy nghĩ nhiều về công, về tội của mình. Ông thấy mình không có lỗi gì với dân, với nước. Suốt cuộc đời ông đã dốc sức, hết lòng cho sự độc lập của sơn hà, sự thịnh vượng của xã tắc. Tư tưởng nhân nghĩa của ông luôn hướng về nhân dân. Nhưng một thiên tài, một bậc minh triết như ông phải thọ tội, một trọng tội thế này ắt ông đã phạm một sai lầm cực lớn. Rồi ông cũng lờ mờ nhận ra rằng một bậc văn tài như ông phải giúp triều đình dựng nước, chăn dân là đúng. Nhưng ông sai khi ra tham chính, làm quan, hưởng bổng lộc của triều đình, đứng về phía nhà cầm quyền và thân thiết với họ. Mà lẽ ra vai trò cao quý của ông, một nhà văn hóa lớn, phải là đối trọng với người nắm giữ quyền lực trong tay, để cảnh tỉnh, giúp họ thấy được những cái sai của mình mà sửa. Cái sai thứ hai của ông, là khi tuổi đã cao, sức đã xuống đi lấy một người vợ quá trẻ, chỉ đáng tuổi con cháu, lại thiếu một nền tảng văn hóa lẫn giáo dục từ tấm bé. Hai điều sai lầm ấy đã đưa ông đến mối bất hạnh khủng khiếp nhất của một kiếp người. Nhận ra điều đó, lòng Ức Trai tiên sinh thanh thản hơn, ông hiểu rằng mọi sai lầm đều phải trả giá. Trong những khoảnh khắc cuối cùng, giấc ngủ trở nên bình yên và hồn mộng của Nguyễn Trãi thường trở về Lệ Chi viên, với những ngày tháng u nhã và thái hòa, được sống với thơ, có hoa cỏ làm bầu bạn …


Share/Save/Bookmark

Thứ Ba, 2 tháng 6, 2009

Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm - Phần II : Nguyên nhân phát xuất

Nguồn : RFI

Thụy Khuê

Bài đăng ngày 01/06/2009 Cập nhật lần cuối ngày 01/06/2009 13:59 TU

Trang bià báo Nhân Văn số 1 và Giai Phẩm Muà Xuân(Ảnh : DR)

Trang bià báo Nhân Văn số 1 và Giai Phẩm Muà Xuân
(Ảnh : DR)

Mặc dù bắt nguồn từ quân đội, nhưng không tìm thấy văn bản nào của ba tướng lãnh Lê Quang Đạo, Trần Độ và Lê Liêm trong tổng cục chính trị lên án phong trào. Trong vụ thanh trừng Nhân Văn Giai Phẩm, quân đội đứng ngoài. Quân đội sạch tay hơn dân sự. Nhân Văn Giai Phẩm mở đầu cho tinh thần đấu tranh cho tự do tư tưởng, cho công cuộc đổi mới văn học, tinh thần này không chấm dứt khi phong trào bị dập tắt, chỉ ngủ yên trong ba mươi năm rồi lại bùng lên những năm 1987- 88, với vai trò chủ đạo của Trần Độ.

Với những tư liệu và nhân chứng hiện hành, chúng ta có thể tóm tắt lịch trình hoạt động của phong trào NVGP, theo thứ tự ngày tháng, như sau :

Tháng 3/1955: Trong quân đội, Trần Dần, Tử Phác, với sự cộng tác của Hoàng Cầm, Lê Đạt, chủ trương việc phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu.

Tháng 4/1955: Nhóm Trần Dần, Tử Phác ký "Dự thảo đề nghị cho một chính sách văn hoá", chủ yếu đòi quyền tự do sáng tác. Bác bỏ chế độ chính trị viên trong văn nghệ quân đội.

Từ 13/6/55 đến 14/9/55: Trần Dần, Tử Phác bị bắt, bị phạt cấm trại trong trại 3 tháng vì lý do phạm quân kỷ, sau đó được đưa đi cải tạo ở Yên Viên (tham gia Cải cách ruộng đất đợt 5).

Tháng1/1956: Giai phẩm mùa xuân ra đời do Lê Đạt, Hoàng Cầm chủ trương (có bàn với Trần Dần) với những bài chính: Nhất định thắng của Trần Dần, Anh có nghe thấy không của Văn Cao, Làm thơMới của Lê Đạt, ...

Tháng 2/56 (Tết Nguyên đán): Lê Đạt bị gọi lên Tuyên huấn để kiểm thảo. Trần Dần, Tử Phác bị bắt lần thứ nhì. Giai phẩm mùa thu bị tịch thu. Trần Dần dùng dao cạo cứa cổ. Chiến dịch đánh Trần Dần bắt đầu với bài của Hoài Thanh "Vạch trần tính chất phản động trong bài thơ Nhất định thắng của Trần Dần" trên báo Văn Nghệ số 110, ra ngày 7/3/56.

Ngày 24/2/1956: Khrouchtchev tường trình tội ác của Staline tại đại hội XX của đảng Cộng sản Liên xô. Ngày 26/5/1956: Mao Trạch Đông phát động phong trào "Trăm hoa đua nở trăm nhà đua tiếng". Ngày 28/6/1956: Ba Lan nổi dậy.

Theo chính sách của Liên Xô và Trung Quốc, đảng Lao Động nới rộng tự do:

Tháng 8/56: Hội Văn Nghệ được chỉ định tổ chức lớp học tập dân chủ 18 ngày.

Ngày 26/8/1956: Nguyễn Hữu Đang đọc tham luận tổng kết lớp học 18 ngày của Hội Văn Nghệ, chỉ trích gắt gao đường lối lãnh đạo văn nghệ của Trung ương đảng. Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi và bộ phận lãnh đạo văn nghệ phải "thừa nhận những sai lầm nghiêm trọng và hứa hẹn sẽ sửa chữa". Hoài Thanh viết bài nhận lỗi đánh Trần Dần.

Ngày 29/8/56: Giai phẩm mùa thu, tập I ra đời, với những bài chủ chốt: Phê bình lãnh đạo văn nghệ của Phan Khôi, Tỉnh giấc chiêm bao của Nguyễn Bính, Tiếng sáo tiền kiếp của Trần Duy,...

Ngày 20 /9/1956: Nhân văn số 1, với bài Phỏng vấn Nguyễn Mạnh Tường về vấn đề mở rộng tự do và dân chủ, bài thơ Nhân câu chuyện mấy người tự tử của Lê Đạt, bài Con người Trần Dần của Hoàng Cầm và tranh Nguyễn Sáng vẽ Trần Dần với vết sẹo ở cổ, bài Chống bè phái trong văn nghệ của Lê Đạt (ký tên Trần Công),...

Tờ Nhân Văn số 1 và bài phỏng vấn luật sư Nguyễn Mạnh Tường về dân chủ (Ảnh : DR)

Tờ Nhân Văn số 1 và bài phỏng vấn luật sư Nguyễn Mạnh Tường về dân chủ
(Ảnh : DR)

Ngày 30/9/1956: Nhân văn số 2, với bài Phỏng vấn Đào Duy Anh về mở rộng tự do và dân chủ, bài Trả lời Nguyễn Chương và báo Nhân dân của Nguyễn Hữu Đang (ký tên Hoàng Cầm, Hữu Loan, Trần Duy), bài Phấn đấu cho trăm hoa đua nở của Trần Duy...

Ngày 30/9/56: Giai phẩm mùa thu, tập II, với bài Bệnh sùng bái cá nhân của Trương Tửu, Ông bình vôi của Phan Khôi, Những người khổng lồ của Trần Duy, Chống tham ô lãng phí của Phùng Quán,...

Ngày 8/10/1956: Giai phẩm mùa xuân tái bản.

Ngày 15/10/56: Nhân văn số 3, Kỷ niệm ngày Vũ Trọng Phụng tạ thế 13/10/1939, và các bài Nỗ lực phát triển tự do dân chủ của Trần Đức Thảo, Phỏng vấn bác sĩ Đặng Văn Ngữ về mở rộng tự do và dân chủ,...

Ngày 30/10/56: Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường đọc bài diễn văn "Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất xây dựng quan điểm lãnh đạo" tại Mặt Trận Tổ Quốc, Hà nội.

Ngày 30/10/1956: Giai phẩm mùa thu, tập III, với bài Văn nghệ và chính trị của Trương Tửu, Muốn phát triển học thuật của Đào Duy Anh,...

Ngày 5/11/56: Nhân văn số 4, với bài Cần phải chính quy hơn nữa của Nguyễn Hữu Đang, Sự thật về vụ xúc phạm thi sĩ Nguyễn Bính và báo Trăm Hoa của Người Quan Sát, Thành thật đấu tranh cho dân chủ của Trần Duy, Con ngựa già của chúa Trịnh của Phùng Cung, Những ngày báo hiệu mùa xuân của Văn Cao,...

Ngày 10/11/56: Đất mới, báo sinh viên, với bài Phê bình lãnh đạo sinh viên của Q. Ngọc và T. Hồng, Lịch sử một câu chuyện tình của Bùi Quang Đoài,...

Ngày 20/11/56: Nhân văn số 5, với bài Hiến pháp Việt nam năm 1946 và hiến pháp Trung hoa bảo đảm tự do dân chủ thế nào? của Nguyễn Hữu Đang, Bài học Ba lan và Hung-ga-ri của Lê Đạt (ký tên Người Quan Sát),...

Tháng 12/56: Giai phẩm mùa đông, tập I, với bài Tự do tư tưởng của văn nghệ sĩ và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Bôn-sê-vích của Trương Tửu, Nội dung xã hội và hình thức tự do của Trần Đức Thảo,...

Ngày 09/12/1956: Hồ Chí Minh ký sắc lệnh bãi bỏ quyền tự do báo chí.

Ngày 15/12/56: Nhân văn số 6 đang in, bị đình chỉ.

Cuối tháng 12/56: Tự Do diễn đàn, tập một, tạp chí chuyên về Lý luận, Phê bình, Sáng tác, do Minh Đức phát hành cuối tháng 12, bị cấm.

Tự do diễn đàn gồm có các bài: Qua sai lầm của Cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo của Nguyễn Mạnh Tường; truyện ngắn Chú bé làm văn của Trần Dần; Tại sao quần chúng nhân dân tha thiết đến cuộc đấu tranh văn nghệ? của Nguyễn Hữu Đang; Nhiệm vụ của văn học không phải là giải thích chính sách của Phan Ngọc; Động Long Mạch của Lê Đạt; Vài ý nghĩ sau khi đọc bài thơ Động Long Mạch của Hoàng Cầm; Sinh hoạt văn hoá của Trương Tửu - Trần Đức Thảo [theo tư liệu của Boudarel, trong bài Le tort de parler trop tot (Sai lầm vì nói quá sớm) viết về Nguyễn Mạnh Tường, Revue Sud Est Asie, số 52].

Từ 20 đến 28/2/57: Đại hội văn nghệ II họp tại Hà Nội. Trường Chinh kêu gọi đấu tranh "đập nát bọn NVGP".

Cuối năm 57: Mao Trạch Đông hạ lệnh đánh phái hữu. Huy Cận và Hà Xuân Trường được cử đi học tập chính sách của Trung Quốc.

Tháng 2 và 3/58: Khi họ trở về, đảng thi hành chính sách "triệt hạ nọc độc Nhân Văn", tổ chức hai lớp đấu tranh ở Thái Hà ấp.

Ngày 4/6/58: "Trận chiến đấu chống bọn phá hoại NVGP" kết thúc bằng Đại hội văn nghệ III, tại Hà nội với bài báo cáo tổng kết của Tố Hữu, Nghị quyết của 800 văn nghệ sĩ lên án "bọn NVGP", và các hội văn nghệ thi hành các biện pháp kỷ luật.

Chớm nở từ đòi hỏi quyền tự do sáng tác

Nhìn lại lịch trình trên đây, chúng ta thấy ngay sự xác định trước đây của Hoàng Văn Chí trong Trăm hoa đua nở trên đất Bắc và của Boudarel trong Trăm hoa đua nở trong đêm Việt nam (THDNTĐVN) về nguyên nhân phát xuất Nhân văn giai phẩm từ Trăm hoa đua nở ở Trung Quốc là sai, vì phong trào ở Việt nam, chớm nở từ việc đòi hỏi tự do sáng tác (tháng 4/55) trong quân đội, và chính thức bắt đầu với Giai phẩm mùa xuân (tháng 1/56), trong khi đến tháng 5/56 Mao Trạch Đông mới phát động phong trào Trăm hoa đua nở.

Nhưng nhờ Đảng Lao Động học tập chính sách của Mao Trạch Đông và Liên Xô, mới có việc nới rộng tự do văn nghệ ở Việt nam, mới tổ chức lớp học tập dân chủ 18 ngày, và Nguyễn Hữu Đang mới có cơ hội trở lại văn trường và chính trường, giữ vai trò lãnh đạo phong trào NVGP.

Tác phẩm của Boudarel đặt trọng tâm vào Trần Dần và bi kịch Trần Dần, theo ông Trần Dần chịu ảnh hưởng tư tương phản kháng của Hồ Phong trong chuyến đi Trung Hoa tháng 7 năm 1954 (để viết bản dẩn giải cho phim Điện Biên Phủ). Thậm chí Boudarel còn cho rằng hai chữ Nhân Văn lấy từ câu một của Hồ Phong: "Hiện thực xã hội theo quan niệm của tôi phải quay về với con người... về sự giải phóng con người... về tinh thần nhân văn" (THĐNTĐVN, Boudarel, trang 59). Trong nhận xét này, ông đã lầm trên một số điểm:

- Tờ Nhân Văn do Nguyễn Hữu Đang chủ trương, khi ấy Trần Dần đã mệt mỏi, lui vào mặt sau vì chuyện tù tội, vợ con, gia đình.

- Tên Nhân Văn là do Nguyễn Hữu Đang hay Hoàng Cầm đặt ra. Lê Đạt nói: "Anh Cầm thì nói rằng tên Nhân Văn là do anh ấy nghĩ ra. Còn anh Ðang cũng nói Nhân Văn do anh ấy nghĩ ra, thực tình tôi cũng không hiểu như thế nào". Và Hoàng Cầm, trong lần phỏng vấn năm 2007, nhận rằng ông đã nghĩ ra tên Nhân Văn; nhưng trong lời "thú nhận", năm 1958, Hoàng Cầm viết: "Một lần nữa, có Nguyễn Bính, Đang, Tước [bác sĩ Trần Hữu Tước?], bàn về tên tờ báo và mời Nguyễn Bính làm thư ký toà soạn, thì tôi nghĩ là "tên báo gì gì cũng được" miễn là có báo ra được". (Những lời thú nhận của Hoàng Cầm, Văn Nghệ số 12, tháng 5/58)

- Dù Trần Dần "thú nhận" rằng sự chống đối của mình "có màu sắc tư tưởng Hồ Phong", cũng chỉ là một lối nói, bởi những thành viên chính của phong trào NVGP hầu hết đều chịu ảnh hưởng văn hoá Pháp, không mấy người biết Hán văn để đọc Hồ Phong.

Tóm lại về nguyên nhân phát xuất phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, với những tư liệu hiện hành, chúng ta có thể xác định: mọi sự bắt nguồn từ quân đội, những người đầu xướng là Trần Dần, Tử Phác, với sự cộng tác của Hoàng Cầm, Lê Đạt trong hai vụ việc: Phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu và Bản "Dự thảo đề nghị cho một chính sách văn hoá".

Vụ phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Gần một năm sau hiệp định Genève, ở miền Bắc, trong quân đội, nổi lên phong trào đòi đổi mới văn học tranh đấu cho tự do sáng tác do Trần Dần, Tử Phác chủ trương với sự cộng tác của Hoàng Cầm, Lê Đạt và một số văn nghệ sĩ. Sự phản kháng chia làm hai đợt:

- Tháng 3/1955, Trần Dần, Tử Phác cộng tác với Hoàng Cầm, Lê Đạt, tổ chức việc phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu, với những bài của Hoàng Yến, Hoàng Cầm, Lê Đạt.

- Tháng 4/1955 Trần Dần, Tử Phác, Hoàng Cầm, Đỗ Nhuận, Hoàng Tích Linh và Trúc Lâm ký bản "Dự thảo đề nghị cho một chính sách văn hoá".

Hai sự kiện này đi đôi và gắn bó với nhau. Trước kháng chiến, Trần Dần đã cùng Đinh Hùng, Vũ Hoàng Địch (em Vũ Hoàng Chương) ra tạp chí Dạ đài (16/11/1946), với bản tuyên ngôn tượng trưng. Trong kháng chiến, năm 1950 Trần Dần gặp Lê Đạt, cùng chí hướng đổi mới thi ca. Bước đầu của sự đổi mới là phải "chôn đàn anh" (như lời Nguyên Sa, và hành động của nhóm Sáng Tạo, trong Nam, công kích Nhất Linh và Tự Lực văn đoàn). Trong đám "đàn anh" này, ở ngoài Bắc, Tố Hữu là khuôn mặt tiêu biểu.

Nhân dịp tập thơ Việt Bắc vừa phát hành tháng 12/54, đã có bài ca tụng của Xuân Trường trên báo Nhân Dân (24/1/55) và một bài tràng giang đại hải tung hô hết mình của Xuân Diệu trên hai số Văn Nghệ 64 và 65 (tháng 2/55). [In lại trong "Tư liệu thảo luận 1955 về tập thơ Việt Bắc", do Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn, nxb Văn Hoá thông tin, 2005]

Ngày 4/3/55, Trần Dần và Tử Phác bèn đứng ra tổ chức một buổi phê bình (kiểu toạ đàm) thơ Tố Hữu trong khôn khổ văn nghệ quân đội, với sự hiện diện của tướng Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị. Lê Đạt, kể lại không khí hôm ấy như sau:

"Lúc đến, tôi đã thấy ông Nguyễn Chí Thanh ngồi đấy rồi. Hoàng Yến lên nói về thơ Tố Hữu và bảo rằng thơ Tố Hữu bây giờ "nhỏ" hơn thơ Tố Hữu thời trước, thì đó cũng là một cách nói thôi. Sau đó, khi anh Thanh lên diễn đàn thì tôi thấy không khí im lặng cả, không ai nói gì nữa. Trần Dần đá chân tôi bảo: "Thôi, thế cậu lên đi." Tôi lên nói một bài về thơ Tố Hữu và tôi có nhắc đến sự sùng bái chủ tịch Hồ Chí Minh của Tố Hữu. Cuộc trao đổi ấy rất vui vẻ rồi ông Thanh cũng không nói gì nữa. Căn cứ trên cuộc thảo luận ấy thì anh em thấy là có thể có đủ bài để viết trên tạp chí Văn Nghệ mà lúc đó tôi là thường trực. Sau đó tôi có lên trình bày với anh Tố Hữu vế tờ báo Văn Nghệ".(phỏng vấn Lê Đạt, RFI).

Buổi toạ đàm, mới chỉ là nói miệng. Nhưng Lê Đạt muốn đưa lên tạp chí Văn Nghệ (Nguyễn Hữu Đang và Lê Đạt ở trong ban biên tập). Khi Lê Đạt lên gặp Tố Hữu (bàn về nội dung tờ báo), thì tình cờ Tố Hữu lại "gợi ý" Lê Đạt nên viết bài phê bình tập thơ Việt Bắc (chắc ông chờ đợi một sự phê bình tâng bốc của đàn em).

Lê Đạt, nhân đã có sẵn bài của Hoàng Yến trong túi, bèn tập hợp thêm một số bài khác, làm số báo đặc biệt về tập Việt Bắc. Chắc Tố Hữu không ngờ vụ việc lại xẩy ra trái hẳn ý mình, và như lời Lê Đạt: "ở nước Việt Nam người ta chưa quen chê anh Tố Hữu bao giờ".

Việc phê bình rộng ra và chuyển sang các báo khác, kéo dài nhiều tháng (xem tư liệu của Lại Nguyên Ân). Nhưng Tố Hữu cũng không vừa: hội văn nghệ tổ chức thêm hai buổi tọa đàm khác, có các vị chức sắc tham dự. Trong số những bài ca tụng Việt Bắc chủ chốt có bài của Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi và Hoàng Trung Thông.

Phía chê có ba người: Hoàng Yến, Hoàng Cầm và Lê Đạt. Trần Độ trung dung: vừa khen, vừa chê.

Hoàng Yến muốn chê thơ Tố Hữu bịa nhưng lịch sự nói rằng Tố Hữu chưa nắm vững hiện thực: "Ta thấy thơ Tố Hữu ngày nay còn bé hơn thơ Tố Hữu trước kia. Bé vì Tố Hữu chưa thổi được vào thơ ngọn lửa hừng hực chiến đấu của thời đại để đốt cháy lòng người đọc. Bé vì chất sống chưa thật sâu sắc nên ý thơ nhiều đoạn còn giả tạo công thức" (Tư liệu Lại Nguyên Ân, trang 69).

Hoàng Cầm chê thơ Tố Hữu "thiếu chất sống thực tế", "nhạt nhẽo", "hời hợt", chỉ "lởn vởn ở bên ngoài chứ không đột phá vào một khía cạnh nào của tâm hồn", "những câu văn đèm đẹp" "rủ rỉ một lát rồi thôi", "chỉ thấy những hình ảnh chung chung, gặp bất cứ ở chỗ nào", khi ca tụng lãnh đạo thì "đao to búa lớn", " bài "Hoan hô chiến sĩ Điện Biên giống như một vại nước to, tràn đầy, pha loãng một màu sữa. Loãng quá",...

Lê Đạt, trong bài lý luận, cho rằng Tố Hữu "cố gắng đi tới công nông" nhưng trong thơ còn rơi rớt tính chất "ngậm ngùi, buồn buồn... nó là cơ sở điệu tâm hồn của Tố Hữu"... Lê Đạt tổng kết ý kiến của mình và các bạn trong câu: "Tính chất tiểu tư sản và xa thực tế là hai khuyết điểm căn bản nó cản trở khả năng hiện thực của Tố Hữu. Nó là nguyên nhân của cái buồn, cái công thức, cái hời hợt rải rác trong tập thơ"' (theo tư liệu Lại Nguyên Ân).

Trần Dần không có bài trên báo, nhưng viết trong nhật ký "Tố Hữu nhìn sự vật nó chính trị quá công thức quá, lười tìm tòi quá. Chỗ nào hay thì lại là lắp lại Nguyễn Du, Tản Đà, ca dao... Tố Hữu chưa đem tới một cách nhìn mới mẻ gì" (Trần Dần ghi trang 143). Và trong buổi toạ đàm ngày 4/3/55, theo Vũ Tú Nam mách lại, Trần Dần gọi thơ Tố Hữu là "tí ti la haine, tí ti l'amour" (tí ti căm thù, tí ti tình yêu) (Sự thực về con người Trần Dần, Vũ Tú Nam, QĐND tháng 4/58).

Tất nhiên Tố Hữu không thể nào "bỏ qua" vụ này.

Sang tháng sau, Trần Dần, Tử Phác lại tung ra một vụ mới, đó là bản dự thảo đề nghị một chính sách văn hoá trong quân đội.

Bản dự thảo đề nghị cho một chính sách văn hoá

Tháng 4/1955, Trần Dần, Tử Phác, Hoàng Cầm, Đỗ Nhuận, Hoàng Tích Linh và Trúc Lâm ký bản "Dự thảo đề nghị cho một chính sách văn hoá", nội dung yêu cầu cải cách chính sách văn nghệ trong quân đội, đòi quyền tự do sáng tác.

Theo Hoàng Cầm: "Bản dự thảo sắp được thông qua. Một vài cán bộ cao cấp trong quân đội tỏ ý tán thành những điểm chính trong bản đề nghị đó, và nhất là hoan nghênh tinh thần xây dựng của bản đề nghị".

Nhưng : "Đột nhiên trong không khí hào hứng của gần ba mươi anh em văn nghệ sĩ đang sẵn sàng cởi mở hết để xây dựng một trong những chính sách lớn của Đảng, bỗng có một câu quật lại : “Tinh thần bản đề nghị này chính là một thứ tư tưởng tự do của tư sản. Nó chứng tỏ tư tưởng tư sản đã bắt đầu tấn công vào các đồng chí !

Giá câu nói ấy ở mồm một người thường thì cũng sẽ thường thôi. Nhưng lại ở một cán bộ có đủ thẩm quyền xét lại hay bác bỏ những đề nghị của văn nghệ sĩ, thì bắt đầu có một sự động cựa lớn. Những người trước kia tán thành bản dự án thì bắt đầu trở nên hoang mang". (Trích bài Con người Trần Dần của Hoàng Cầm, Nhân Văn số 1).

Hoàng Cầm không nói rõ những người ủng hộ kia là ai, và người "thẩm quyền bác bỏ" kia là ai. Nhưng qua bài đánh Trần Dần của Vũ Tú Nam trên Văn Nghệ Quân Đội, chúng ta có thể tóm tắt tình hình như sau : Cuối năm 54, đầu 55, Phòng văn nghệ quân đội tổ chức một cuộc thảo luận về việc thay đổi chính sách văn nghệ với sự có mặt của tướng Nguyễn Chí Thanh. Trong buổi đó, Trần Dần đã nêu lên ba đòi hỏi chính, Vũ Tú Nam viết:

"1- Trả lãnh đạo văn nghệ về tay văn nghệ sĩ.

2- Thành lập trong quân đội một chi hội văn nghệ trực thuộc hội văn nghê, không qua cục tuyên huấn và tổng cục chính trị.

3- Bỏ mọi "chế độ quân sự hiện hành" trong văn nghệ quân đội...

Nghe xong đồng chí Nguyễn Chí Thanh dặn dò anh em phải coi chừng, đó là quan điểm tư sản, phi Đảng, phi giai cấp, phi chính trị. Hồi đó, anh em chưa vỡ lẽ, còn ấm ức, cho là cấp trên không thông cảm. Trần Dần và vài người khác thì lồng lộn, chửi bới, reo rắc hoài nghi, chán nản, muốn giải ngũ". (Vũ Tú Nam, Sự thực về con người Trần Dần, Văn Nghệ Quân đội, số 4, tháng 4/58).

Tuy vậy, Trần Dần vẫn được giao cho việc tổ chức hội nghị ngành văn toàn quân tháng 4/55. Lần này, Trần Dần trình bày bản dự thảo do chính tay mình viết tháng 2/55, dài 12 trang đánh máy. Theo vài câu trích dẫn của Vũ Tú Nam (để buộc tội quan điểm "xét lại" của Trần Dần) Trần Dần viết:

"Biểu hiệu cao nhất của trách nhiệm người viết là thái độ tôn trọng, trung thành với sự thực. Đó là tiêu chuẩn cao nhất đánh giá tác giả và tác phẩm... tôn trọng, trung thành với sự thực vừa là trách nhiệm, vừa là lập trường, vừa là phương pháp làm việc của người viết"

"... Sự thực lớn gấp triệu triệu lần bất cứ chỉ thị, lý luận nào... Nếu như sự thực ngược lại chính sách chỉ thị, thì phải viết sự thực chứ không phải là bóp gò sự thực vào chính sách"

Tổng hợp thông tin của Hoàng Cầm và Vũ Tú Nam, chúng ta thấy: tướng Nguyễn Chí Thanh vừa bật đèn xanh cho Trần Dần và các bạn đòi hỏi tự do sáng tác (viết sự thật) vừa dập tắt bản dự thảo đòi tự do sáng tác. Nhưng ngoài Nguyễn Chí Thanh, bản dự thảo còn được những ai ủng hộ, khiến nó sắp được thông qua, như lời Hoàng Cầm ?

Theo phân tích của Boudarel, thì bản dự thảo này được sự ủng hộ của ba tướng tá cao cấp trong Tổng cục chính trị : Lê Quang Đạo, Trần Độ, và nhất là Lê Liêm. Ông viết:

"Ở những buổi thảo luận nội bộ năm 1955 trong quân đội, có những cán bộ cao cấp ủng hộ nhóm văn nghệ sĩ đòi hỏi quyền tự do sáng tác, nhưng không ai chỉ rõ tên họ ra, rất có thể bởi vì muốn tránh cho họ rơi vào hoàn cảnh khó xử trước những đồng nghiệp quyết liệt. Duy có hai người, hai tướng chính uỷ Trần Độ và Lê Liêm là dễ nhận ra, nhưng cũng không chỉ có hai người đó.

Một văn bản chứng minh rằng vào mùa thu năm 1956, tướng Lê Quang Đạo cũng can thiệp khi vụ việc xẩy ra. Nhưng trong chiều hướng nào? Lúc đó ông là trưởng phòng tuyên huấn" (trích THĐNTĐVN, trang 101).

Boudarel phác họa chân dung Lê Quang Đạo, Lê Liêm và Trần Độ, ba tướng lãnh trong tổng cục chính trị ủng hộ những nhà văn trẻ, ông phân tích những khúc mắc trên con đường của họ, khi ủng hộ tự do sáng tác và mở rộng dân chủ, lúc phải lùi bước trở lại vị trí chính thống. Điều đặc biệt đáng chú ý là trong suốt thời kỳ NVGP, ông không tìm thấy văn bản nào của các tướng lãnh trong tổng cục chính trị lên án phong trào.

Trang bià tập sách phê phán phong trào Nhân Văn Giai Phẩm(Ảnh : DR)

Trang bià tập sách phê phán phong trào Nhân Văn Giai Phẩm
(Ảnh : DR)

Cuốn Bọn Nhân văn Giai phẩm trước toà án dư luận tập hợp những bài viết của hơn 80 văn nghệ sĩ và trí thức "dân sự" tuyệt nhiên không có bài viết nào của quân đội, kể cả Nguyễn Chí Thanh, mặc dầu phong trào phát xuất từ quân đội.

Với mức tư liệu hiện có, chúng ta có thể hiểu rằng: Trong vụ thanh trừng Nhân Văn Giai Phẩm, quân đội đứng ngoài. Quân đội sạch tay hơn dân sự.

Tướng Lê Liêm, một trong những người có công lớn trong trận Điện Biên Phủ, hết sức ủng hộ văn nghệ sĩ, Lê Liêm không viết một dòng nào chống lại những người đòi tự do sáng tạo, một sự im lặng này đầy ý nghĩa. Năm 1958, ông trở thành Thứ trưởng Văn hoá, tuy được thăng chức, nhưng không có quyền, bước đầu của sự thất sủng. Phản đối việc thân Tàu, chống Nga, năm 1965, ông nhận chức Thứ trưởng giáo dục, và trong một bài diễn văn về việc cải tạo giáo dục, năm 1968, ông trở lại quan điểm chính thống. Năm 1974, người ta đồn ông bị khai trừ khỏi đảng cùng với Ưng Văn Khiêm, tướng Nguyễn Văn Vinh và Bùi Công Trừng, vì tội thân Nga. Lê Liêm là một khuôn mặt cởi mở, chấp nhận đối thoại mà ít người biết đến.

Tướng Lê Quang Đạo, với trách nhiệm trưởng phòng tuyên huấn, chắc chắn đã tác dụng vào những cuộc tranh luận văn học nội bộ trong thời kỳ này. Sau vụ Nhân Văn, ông vẫn tiếp tục con đường cởi mở đến thập niên 80. Năm 1982, ở đại hội V, khuynh hướng bảo thủ thắng thế. Đến năm 1987, làm chủ tịch quốc hội, ông tiếp tục cổ động cho công cuộc đổi mới.

Trần Độ kiên trì trong quan điểm dân chủ hoá đất nước. Sau Nhân Văn, ông trở lại chiến trường. Dường như ông chỉ tạm thời lùi bước năm 1956 để tiến mạnh hơn, ba mươi năm sau. Năm 1982, trực diện với sự bảo thủ của Hà Xuân Trường trong đại hội V, Trần Độ thua cuộc, nhưng đến năm 1986, khi làm Trưởng ban văn hoá tư tưởng trung ương, dưới sự cởi mở của Nguyễn Văn Linh, Trần Độ trở lại vai trò chủ đạo cho công cuộc đổi mới văn học. Nói như Boudarel: "tất cả những vấn đề cơ bản đều quy về những năm 1955- 1956".

Như vậy NVGP, mở đầu cho tinh thần đấu tranh tự do tư tưởng, cho công cuộc đổi mới văn học, tinh thần này không chấm dứt khi phong trào bị dập tắt, chỉ ngủ yên trong ba mươi năm rồi lại bùng lên những năm 1987- 88.

Vai trò của tướng Nguyễn Chí Thanh khá phức tạp. Cầm đầu chính trị quân đội, ông cũng là người đã "dẹp" vụ dự thảo ngay còn trong trứng nước. Nhưng khi Trần Dần bị bắt lần thứ nhì, dùng dao cạo cứa cổ, được đưa vào bệnh viện, Trần Dần viết thư cho Nguyễn Chí Thanh, ông đã can thiệp để "cứu" Trần Dần. Nhưng cũng chính tướng Nguyễn Chí Thanh đã trao cho người bà con Vũ Tú Nam toàn bộ tư liệu về Trần Dần, kể cả 2 lá thư Trần Dần viết để xin ra khỏi đảng năm 55, để họ Vũ có đủ tư liệu viết bài đánh Trần Dần (THĐNTĐVN, Boudarel, trang 100 và 126).

Nhưng cũng không thể liệt Nguyễn Chí Thanh vào loại người xoay chiều, như Đỗ Nhuận, bạn thân của Trần Dần, cùng đi Điện Biên Phủ, cùng đi Trung Quốc, cùng ký bản dự thảo, nhưng sau này quay lại viết bài đánh Trần Dần.

Nhân vật Trần Dần

Chân dung nhà thơ Trần Dần với vết sẹo trên cổ do họa sĩ Nguyễn Sáng vẽ năm 1956 và đăng trên Nhân Văn số 1.(Nguồn : Tư liệu G.Boudarel)

Chân dung nhà thơ Trần Dần với vết sẹo trên cổ do họa sĩ Nguyễn Sáng vẽ năm 1956 và đăng trên Nhân Văn số 1.
(Nguồn : Tư liệu G.Boudarel)

Vì hai sự kiện: phê bình thơ Tố Hữuđề nghị cải cách chính sách văn nghệ quân đội, mà Trần Dần và Tử Phác bị kỷ luật, bị giam từ 13/6/55 đến 14/9/55.

Nhưng về mặt chính thức, Trần Dần bị kỷ luật vì lẽ khác: về chuyện tình cảm, yêu một người con gái có đạo (Cô Khuê, vợ Trần Dần sau này) cha mẹ đã đi Nam, không được đảng cho phép cưới, tự ý bỏ trại, về với người yêu ở phố Sinh Từ và không chịu lên trình diện (Tử Phác cũng không chịu lên trình diện). Hoàng Văn Chí thu thập được khá nhiều tin tức và tổng hợp với bài Con người Trần Dần của Hoàng Cầm, đã viết khá chi tiết về việc này từ năm 1959. Nhưng sự phân tích của Boudarel có những điểm thỏa đáng hơn:

"Đối với Trần Dần, trận bút chiến trong ba tháng đầu năm 1955 đi đôi với sự tranh đấu không cân bằng trong cục chính ủy quân đội về vấn đề lý thuyết chính trị và nhân sự, cả hai đan cài khó gỡ. Việc bản dự thảo bị hủy bỏ đối với Trần Dần là một thất bại, nhưng cũng không đau đớn bằng việc bị các bạn đồng hành bỏ rơi chạy sang phe bên kia. Vì lý do sức khỏe, Trần Dần xin nghỉ một thời gian để thoát khỏi trại nhà binh. Mãi không thấy cấp trên trả lời, anh tự ý bỏ trại về nhà người bạn gái ở phố Sinh Từ. Hai lần cấp trên gọi về chờ lệnh, anh đều từ chối. Bị kiểm thảo vắng mặt, và có lẽ bị trừng phạt nữa, bởi vì trong lần gọi thứ ba, anh đòi hủy bỏ những quyết định chống lại anh. Những phê phán Trần Dần phạm quân kỷ đi đôi với việc trật tự trở lại trong văn nghệ quân đội. Mãi không thấy gì mới, đến giữa tháng 5/1955, Trần Dần viết hai lá đơn xin ra khỏi đảng và ra khỏi quân đội (một cho đảng và một cho quân đội) trong đó anh trình bày những lý lẽ của mình với một sự thẳng thắn, nếu không muốn nói ngây thơ lạ lùng" (THĐNTĐVN, Boudarel, trang 125-126).

Đây là lần thứ nhất Trần Dần, Tử Phác bị giam, thật ra là bị cấm trại, không phải bị tù. Trong thời gian này, Trần Dần viết bài thơ dài Nhất định thắng trao bản thảo cho Lê Đạt giữ (Hoàng Cầm, Con người Trần Dần). Hết ba tháng cấm trại, Trần Dần và Tử Phác được về nhà, và hơn tháng sau, cả hai được gửi đi tham gia Cải cách ruộng đất tại Yên viên, Bắc ninh, từ 2/11/1955 đến tháng 2/1956. Trong khi ấy Hoàng Cầm và Lê Đạt chuẩn bị ra tờ Giai phẩm mùa xuân.

Tháng giêng năm 1956, Giai phẩm mùa xuân ra đời, đăng bài thơ Nhất định thắng của Trần Dần. Bài thơ đã gây tai họa cho Trần Dần và tờ giai phẩm. Báo vừa phát hành, Lê Đạt bị gọi lên Tuyên huấn để kiểm thảo. Giai phẩm mùa xuân bị tịch thu. Trần Dần và Tử Phác bị bắt. Bị giam, Trần Dần dùng dao cạo cứa cổ, được đưa vào bệnh viện. Trần Dần viết thư cho tướng Nguyễn Chí Thanh ngày 21/2/56 và được tha ngày 5/5/56 (THĐNTĐVN, Boudarel, trang 46).

Hoàng Cầm viết: "Giai phẩm mùa Xuân bị kết tội, bài thơ "Nhất định thắng" bị kết tội. Người ta cho rằng cái bè phái độc quyền trong giới văn nghệ bị công kích (bắt đầu từ cuộc phê bình thơ Việt Bắc) đã tìm cách trả thù :

Trần Dần, Tử Phác đều bị tống giam".

"Từ những ngày Tết mưa lã chã, cái bè phái độc quyền trong văn nghệ bắt đầu họp đứng họp ngồi để tìm cách đối phó với cái Giai phẩm. Một không khí ngạt thở đè nặng lên những anh em có bài trong tập sách đó. Rồi đến một đêm, bài thơ “Nhất định thắng” bị đem ra luận tội." (Con người Trần Dần, Hoàng Cầm, Nhân Văn số 1)

Hoàng Cầm trong lời "thú nhận", kể rằng ông muốn làm "cho cả cụ Hồ, cả Trung ương cũng phải thương xót cảnh ngộ Trần Dần, mà trừng trị người nào đã gây ra cảnh ngộ đó". Nhưng sau khi bài báo xuất hiện, Nguyễn Chí Thanh giao cho Lê Quang Đạo mời Hoàng Cầm đến để giải thích, vẫn theo lời "thú nhận" của Hoàng Cầm :

"Khi đồng chí Lê Quang Đạo có mời tôi vào giải thích rõ trường hợp Trần Dần, tôi đã nhụt đi, có ý muốn cải chính bài báo, tôi về viết bài cải chính, có nói rõ sự giáo dục của quân đội với Trần Dần, sự săn sóc của đồng chí Nguyễn Chí Thanh và của Phòng văn nghệ quân đội đối với Trần Dần, nhưng trong ý nghĩ vẫn không chịu nhận rằng mình đã xuyên tạc bóp méo sự thật, không chịu nhận rằng mình bôi đen chế độ, nên vẫn viết thêm một đoạn cuối nói rằng: việc bỏ tù Trần Dần là quá đáng, đến nỗi Trần Dần phải tự tử, và tôi vẫn viết một câu đại ý: Đồng chí Tố Hữu là người phụ trách toàn bộ công tác lãnh đạo văn nghệ, phải chịu trách nhiệm về viêc này. Thế là cải chính một nửa, để lại bôi xấu một nửa.- Bài đó (không đăng) chỉ là một hành vi không thành thật" (Những lời thú nhận của Hoàng Cầm, Văn Nghệ số 12, tháng 5/58).

Về phía đối diện, đây là lời buộc tội của Tố Hữu :

"Cuộc tấn công vào chế độ ta và Đảng ta đã bắt đầu trên mặt trận văn nghệ từ đầu năm 1955, ngay khi hòa bình vừa lập lại.

Trong khi bọn gián điệp còn giấu mặt chờ đợi thời cơ, và bọn tờ-rốt-kít Trương Tửu, Trần Đức Thảo tích cực chuẩn bị lực lượng ở trường Đại học, thì bọn Nguyễn Hữu Đang, Lê Đạt, hai tên phản Đảng ẩn nấp trong báo Văn Nghệ của Hội Văn Nghệ cùng bọn Trần Dần, Tử Phác cũng là những tên phản Đảng trong phòng Văn nghệ quân đội, đã kết thành một bè phái chống Đảng trong Văn nghệ.

Như lời thú nhận của Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, cuộc phê bình tập thơ Việt Bắc là do cái bè phái ấy sắp đặt, để đánh vào sự lãnh đạo và đường lối văn nghệ của Đảng, đường lối phục vụ chính trị cách mạng, phục vụ công nông binh, và để đề xướng cái "điệu tâm hồn" ruỗng nát của chủ nghĩa cá nhân tư sản, mở cửa cho lối sống tự do sa đọa.

Đương nhiên cái "điệu tâm hồn" ấy của Lê Đạt xướng lên không thể nào hoà được với cái điệu lớn của cách mạng, và cũng rất tự nhiên nó chỉ hoà được với "tiếng sáo tiền kiếp" lóc gân của tên mật thám Trần Duy.

Cũng lúc ấy, bọn Trần Dần, Tử Phác -những đứa con hư hỏng của Hà nội cũ- nay lại trở về với "cảnh cũ người xưa" bỗng cảm thấy đời sống trong quân đội "nghẹt thở", chỉ vì thiếu cái tự do trở lại đời sống trụy lạc cũ. Đối với chúng, đời sống trong quân đội cách mạng chỉ còn là "những sợi dây xích trói buộc phải phá mà ra". Được tiêm thêm ít nhiều chất phản động của Hồ Phong, Trần Dần gióng lên "tiếng trống tương lai" chửi cán bộ chính trị là "người bệnh", "người ròi", "người ụ". Cùng Tử Phác, khiêu khích những anh em khác, hắn tổ chức một cuộc đấu tranh "buộc lãnh đạo thực hiện mọi yêu cầu" của họ.

Họ đòi thực hiện những gì ? "Trả quyền lãnh đạo văn nghệ về tay văn nghệ sĩ. Thủ tiêu chế độ chính trị viên trong các đoàn văn công quân đội. Thủ tiêu mọi chế độ quân sự hiện hành trong văn nghệ quân đội. Thành lập trong quân đội một chi Hội văn nghệ trực thuộc Hội văn nghệ, không qua Cục Tuyên huấn và Tổng cục Chính trị". Tóm lại là thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng và kỷ luật của quân đội đối với họ"

(Tố Hữu, Nhìn lại 3 năm phá hoại của nhóm "Nhân Văn-Giai Phẩm", BNVGPTTADL, nxb Sự Thật, Hà nội 1959, trang 22-24).

Việc Trần Dần dùng dao cạo cứa cổ

Về việc Trần Dần cứa cổ, cho đến nay, chỉ có Hoàng Cầm kể lại: Trong bài cải chính (không in) mà Hoàng Cầm nhắc đến ở trên và trong buổi nói chuyện trên RFI, ông thuật lại ít nhiều chi tiết. Đặc biệt trong hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh, đoạn ghi lời kể của Hoàng Cầm về việc này có nhiều chi tiết rõ ràng hơn :

Tố Hữu ra lệnh bắt Trần Dần :

Hồi Hoàng Cầm cho in tập Giai phẩm mùa xuân, có đăng bài của Trần Dần, Tử Phác. Tố Hữu triệu tập mấy người đến họp: Hoàng Cầm, Văn Phác (phụ trách tổ chức Bộ Văn Hoá), Chế Lan Viên... Tố Hữu cầm cuốn Giai phẩm mùa xuân, hỏi mọi người: "Các anh thấy tập sách này thế nào?"

Không ai dám trả lời, vì không đoán được ý Tố Hữu. Chế Lan Viên nhanh trí, đoán trúng ý thủ trưởng. Anh nói: " Cuốn sách đại phản động!"

Tố Hữu hỏi Văn Phác:"Hiện nay chúng nó đang ở đâu?" Văn Phác: "Thưa, các anh ấy đang đi thực tế ở Yên viên"

Tố Hữu lệnh - Hoàng Cầm nhớ đúng sáu tiếng: "Gọi nó về, bắt lấy nó!"

Thế là Văn Phác làm giấy tờ để bắt Trần Dần, Tử Phác.

Và đây là lời kể của Trần Dần, Hoàng Cầm thuật lại: Chiều hôm ấy, có một cái xe ô tô nhà binh đến Yên viên. Họ gọi Trần Dần, Tử Phác ra và lập tức bịt mắt. Trần Dần kịp thấy trên xe có lính mang súng, lưỡi lê tuốt trần.

Hoàng Cầm nói, Trần Dần là tay thần kinh rất vững. Anh ta bình tĩnh lắng nghe để đoán xem xe đi đâu. Qua một cái cầu dài. Thế là vào Hà nội. Nhưng xe lại chạy tiếp khá lâu. Thế là đi quá Hà nội. Đến một chỗ nào đấy, xe đỗ lại. Người ta dắt Trần Dần, Tử Phác, đi xuống một địa điểm ở sâu dưới đất - vì cứ thấy xuống nhiều bậc, xuống mãi. Đến một độ sâu nào đấy, họ dừng lại và đẩy Trần Dần vào một căn hầm, đóng cửa lại. Trần Dần nghĩ bụng, chắc bị thủ tiêu. Thủ tiêu ở đây thì ai biết được? Coi như mất tích. Anh nghĩ phải tìm cách lên được mặt đất.

Sáng ra, thấy đây là một cái hầm đào sâu dưới đất. Ánh sáng lọt xuống từ nóc hầm qua một ô cửa có chấn song, ở trên thoáng thấy có bóng một anh lính gác.

Trần Dần thấy trong hầm có một cái phản gỗ và một bình nước. Anh kéo cái phản ra chỗ ánh sáng từ trên nóc hầm rọi xuống, cởi áo ngoài, để phơi áo sơ mi trắng bên trong ra, lấy một cái mince lame trong túi, nằm ngửa lên phản, dùng lưỡi dao cứa vào cổ cho máu phun ra ngực áo, rồi giẫy đạp ầm ĩ, cốt cho anh lính gác nghe thấy. Anh lính gác nhìn xuống thấy thế hoảng quá: Nó tự tử, phải đưa cấp cứu ngay! Một lát sau, cửa hầm mở, người ta đưa Trần Dần đi cấp cứu ở một bệnh viện gần đó. Té ra là bệnh viện Hà đông. Ở đây, Trần Dần may vớ được một người quen bèn viết mẩu giấy nhờ đưa đến Tổng cục chính trị nơi anh công tác. Nguyễn Chí Thanh lập tức đến bệnh viện và lệnh tha ngay cả Trần Dần và Tử Phác.

Hoàng Cầm rất phục Trần Dần. Thằng cha thần kinh rất vững. Hoàng Cầm cũng từng bị bắt giam. (Ông nghe Hoàng Hưng, định đưa tập thơ Về Kinh Bắc sang Pháp in). Ông nói: "Tôi nhát lắm, mọi tội tôi xin nhận hết" (Hết hạn tù, người ta cho ra, còn xin ở lại viết kiểm thảo. Tô Hoài cho tôi biết thế). Sợ nhất là trong tù cứ thấy tiếng phát ra đều đều không biết từ đâu : Khai thật đi ! Khai thật đi ! Khai thật rồi về với vợ con !

Chuyện nghe khá sợ. Một hình thức khủng bố về tâm lý. Chẳng biết Hoàng Cầm có thêm thắt gì vào sự thật không. Nhưng quả là đáng sợ. Hoàng Cầm cũng hay tưởng tượng thêu dệt thêm ra nữa" (trích Hồi Ký Nguyễn Đăng Mạnh, chưa in).

Giai phẩm mùa xuân bị tịch thu, Trần Dần, Tử Phác bị bắt, Lê Đạt bị kiểm thảo. Sự khủng bố trở nên công khai nhưng cũng mở màn cho một phong trào đấu tranh cho dân chủ rộng lớn hơn, nửa năm sau. Vậy nội dung Giai phẩm mùa xuân có những gì ? Điều này cần đến một sự phân tích văn bản cặn kẽ. (Hết phần thứ nhì)


Share/Save/Bookmark

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2009

Nhận xét về người Việt của một người Pháp

Nguồn : Dân Luận
Nguyễn Văn Tuấn (Viện nghiên cứu Y khoa Garvan, Sydney, Úc)

Thấy trên mạng có bài viết giới thiệu cuốn sách của Henri Oger, với những phác họa về sinh hoạt của người Việt trong những năm đầu thế kỉ 20. Theo bài báo Oger nhận xét về người Việt như sau:

Bìa sách Kỹ thuật của người An Nam

“Bắc Kỳ những năm đầu thế kỷ 20 trong con mắt Henri Oger là nơi đất chật người đông, cuộc đấu tranh sinh tồn rất dữ dội.

Chính vì người dân nghèo, chỉ quen mua hàng rẻ, ít đòi hỏi cao, nên hàng làm ra bán cho họ thường bị làm nhanh, làm ẩu. Thợ thủ công An Nam cũng bị nhận xét là kỹ thuật sơ sài, không được giảng dạy đầy đủ về nghề nghiệp, thiếu sáng tạo, không có những phẩm chất đã khiến cho người thợ ở châu Âu trở thành nghệ sĩ.

Tuy nhiên, theo hai tác giả chủ biên cuốn sách, những nhận xét này không hề mang sắc thái khinh thường thái quá mà chỉ đơn giản là vì Oger sống trong thời đại của mình, tin vào tính ưu việt của mô hình văn minh tư sản phương Tây so với các xã hội xa lạ và tin vào sứ mệnh khai hoá văn minh của nước Pháp.”

Tuy người viết bài báo cho rằng nhận xét đó mang tính “thời đại của mình, tin vào tính ưu việt của mô hình văn minh tư sản phương Tây so với các xã hội xa lạ và tin vào sứ mệnh khai hoá văn minh của nước Pháp,” nhưng tôi vẫn nghĩ ông ấy quá chính xác trong nhận xét về tính cách người Việt, mà cho đến ngày nay vẫn còn phù hợp.

Làm ẩu. Kĩ thuật sơ sài. Thiếu huấn luyện. Thiếu sáng tạo. Tất cả những nhận xét đó đều đúng. Không khó khăn gì để có thể đi tìm những bằng chứng thực tế làm cơ sở cho những nhận xét đó. Tôi đi qua cây cầu NHơn Hội nhìn từ xa rất hoành tráng ở Qui Nhơn, nhưng đi trên cầu mới thấy họ làm rất ẩu, thô, và có khi nguy hiểm. Ngay cả cây cầu Rạch Miễu mới rầm rộ khánh thành cũng có nhiều vấn đề kĩ thuật, và cũng rất thô. Nhìn gần những tấm hình kí giả chụp trên cầu Rạch Miễu mới thấy cách làm của ta rất ... hỡi ôi. Hình như người mình không có thói quen xem xét đến chi tiết, mà chỉ làm chung chung hay làm cho có mà thôi. Nhiều công trình của Việt Nam chỉ làm hình như nhằm mục tiêu khoe là “ta làm được”, rồi dừng ở đó, chứ không đi xa hơn. Thật ra, ngay cả “ta làm được” cũng không hẳn là làm được. Điều này rất tương phản với người Tây phương, những người mà khi làm cái gì họ cũng tính toán cẩn thận, xem xét từng chi tiết nhỏ, đánh giá lợi và hại một cách khách quan, v.v… cho nên khi công trình hoàn tất nó thường có chất lượng cao và lâu bền.

Việt Nam ta nổi tiếng làm gia công quần áo cho các công ti Tây phương. Quần áo họ gia công đẹp, và khi ra ngoài này, thường bán với giá rất cao. Nhưng còn hàng trong nước cũng do những công ti gia công đó làm với nhãn hiệu “chất lượng cao” thì sao? Nói ngắn gọn là chất lượng thấp thì đúng hơn. Họ cũng bắt chước may những cái cáo sơ mi hiệu Polo, Nautica, Tommy Hilfiger, v.v… nhưng nhìn kĩ thì họ bắt chước rất kém. Chỉ nhìn qua đường chỉ là thấy họ làm ẩu. Nhìn qua cách họ làm logo cũng dễ dàng thấy đây là đồ dỏm, bắt chước. Người Tàu cũng làm hàng nhái, nhưng họ nhái giỏi hơn người Việt chắc cỡ 10 lần. Hàng nhái của Tàu lợi hại đến nổi chúng ta khó nhận ra thật và giả. Còn hàng nhái của Việt Nam thì còn quá kém. Làm hàng nhái mà còn làm không xong thì chúng ta khó mà nói đến chuyện lớn được.

Thế còn hàng do Việt Nam thiết kế thì sao? Tôi tò mò xem qua những chiếc quần tây và áo sơ mi của hãng VT làm, và thấy tất cả đều có một motif giống y chang nhau, không có gì là sáng tạo cả. Họ chỉ thay đổi màu và vải (mà vải thì cũng chất lượng thấp). Ngay cả các thiết kế của hãng nổi tiếng như AP cũng thế, không có gì thay đổi đáng kể và không mới. Giày sản xuất ở Việt Nam không rẻ chút nào, nhưng về mẫu mã thì còn thua xa so với ngoại quốc (thua luôn Trung Quốc và Ấn Độ), bởi vì các loại giầy này đều na ná giống nhau về thiết kế. Tôi có cảm giác hình như các hãng bắt chước kiểu nhau. Không thể biện minh rằng họ làm cho người địa phương nên chất lượng như thế là đủ, vì nói như thế là xem thường đồng hương Việt Nam. Cũng không thể biện minh theo kiểu "tiền nào của nấy", vì đây là hàng "chất lượng cao", và người Việt sẵn sàng trả cả 100 USD cho những cái áo có chất lượng cao. Chỉ có thể giải thích là làm ẩu, thiếu sáng tạo, và bắt chước quá tồi.

Trong văn nghệ cũng thế. Khi một vở tuồng Đời cô Lựu ra đời, thì hàng loạt (có thể hàng 20) vở tuồng cải lương cũng có motif na ná giống như Đời cô Lựu. Cho đến bây giờ, những vở tuồng cải lương được sáng tác hay soạn thảo vẫn chưa thoát được cái motif của Đời cô Lựu, Ông cò Quận Chín, hay chưa đi xa va cao hơn những sáng tác của Viễn Châu. Tân nhạc cũng thế: một bài ca ca ngợi cái nghèo làm cho hàng loạt “sáng tác” khác cũng ca ngợi cái nghèo một cách vụng về, tũn mũn, và … sến. Trịnh Công Sơn có bài Cát bụi thì phía nhạc sến cũng cho ra đời "trở về cát bụi" gì đó mà ý tưởng thì y chang như ý của TCS nhưng nhạc điệu và lời thì quá nghèo nàn và thiếu chất thơ, thiếu triết lí. Khi trung tâm Paris By Night ra đời, thì hàng loạt trung tâm khác cũng lấy “by Night” làm tên gọi (Saigon by Night, Cali by Night, Hollywood Night, v.v…). Thật khó tưởng tượng được một sự bắt chước và nhái thô thiển như thế!

Không chỉ đúng trong giới thợ thuyền và công nhân, trong giới nghệ sĩ, mà ngay cả trong giới khoa học nữa. Những ai thử đọc qua các abstracts trong các hội nghị y khoa ở Việt Nam sẽ dễ dàng bắt gặp những cụm từ quen quen như “Bước đầu nghiên cứu”, “Đánh giá”, “Xác định”, v.v… Phần lớn (chắc cũng 99%) là những nghiên cứu lặp lại những gì người nước ngoài đã làm nhưng không có phương pháp gì mới hay dữ liệu gì mới. Và, đương nhiên là không có phát kiến gì mới.

Mà, thật ra, nhìn lại về những thành tựu khoa học, chúng ta phải ngậm ngùi mà nói là: không có gì. Chúng ta không có những phát kiến gì đáng kể. Ngay cả nghề nông là nghề truyền thống, mà chúng ta cũng chẳng có gì để chỉ dạy thế giới. Chúng ta không có những nhân tài xuất sắc trên trường quốc tế (nhưng có nhiều người nghĩ như thế).

Bán hàng rong

Bắt chước và thiếu sáng tạo có lẽ là dấu hiệu của một sự lười suy nghĩ. Nếu giả thuyết này đúng thì người Việt chúng ta lười suy nghĩ quá.

Cách đây hơn 70 năm, cụ Ðào Duy Anh đã viết như sau khi nhận xét về tính cách của người Việt: "Về tính chất tinh thần thì người Việt Nam đại khái thông minh, nhưng xưa nay thấy ít người có trí tuệ lỗi lạc phi thường. Sức ký ức thì phát đạt lắm, mà giàu trí nghệ thuật hơn trí khoa học, giàu trực giác hơn luận lý. Phần nhiều người có tính ham học, song thích văn chương phù hoa hơn là thực học, thích thành sáo và hình thức hơn là tư tưởng hoạt động... Tính khí cũng hơi nông nổi, không bền chí, hay thất vọng, hay khoe khoang trang hoàng bề ngoài, ưa hư danh và thích chơi cờ bạc". Tôi thấy, cho đến nay, những nhận xét này vẫn còn chính xác, nhất là trong giới trí thức Việt Nam.

Tôi vẫn thường tự hỏi tại sao ta lại quá kém trong hoạt động khoa học như thế? Có thể nói từ xưa, nước ta không có một truyền thống khảo cứu khoa học. Ðọc lịch sử Việt Nam từ các triều đại Ðinh, Lý, Lê, Trần và Nguyễn, ai cũng thấy nước ta có nhiều anh hùng quân sự, nhà thơ, nhà sử học, nhưng rất ít nhà khoa học, kĩ sư hay nhà kinh tế. Hệ thống giáo dục của nước ta ngày xưa được bắt chước theo mô hình giáo dục của Trung Quốc, đòi hỏi người học sinh phải tuân thủ sách vở một cách máy móc và không khuyến khích sự tự do tìm tòi, thử nghiệm, hay chất vấn. Cái truyền thống này ca ngợi, tuyên dương những người thuộc làu những điều răn dạy của Khổng Tử, và coi thường những ai làm nghề tay chân (kĩ sư, khoa học gia, công nhân, nông dân, v.v...) hay làm thương mại.

Khi người Pháp vào Việt Nam, hệ thống giáo dục Trung Quốc được thay thế bằng hệ thống giáo dục Pháp, một hệ thống có mục tiêu là đào tạo ra những thầy thông, thầy phán, hay quan chức để thực thi đường lối, chính sách của kẻ cai trị. Hệ quả là nó làm cho học sinh tiêm nhiễm cái tâm lí hám danh và sính bằng cấp, học ra để làm quan, làm ông nghè hay nhằm giật được một mảnh bằng để làm rạng danh gia đình hay khoe cùng người hàng xóm, chứ không nhằm đóng góp kiến thức hay mang lại phúc lợi cho xã hội và nhân loại. Với hệ thống giáo dục này, học sinh phải học thuộc lòng sách giáo khoa nhằm cố thi đỗ trong các kì thi rất gắt gao. Lối giáo dục này vẫn còn kéo dài tới những năm trong thập niên 60 và 70 mà tôi (và nhiều người cùng thế hệ) từng là những "nạn nhân" của nó. Chúng tôi không được khuyến khích tìm hiểu những sự việc, hiện tượng chung quanh chúng tôi xảy ra như thế nào và tại sao? Kết quả cuối cùng là nhiều thế hệ học sinh không có cơ hội nghiên cứu khoa học. Và quan trọng hơn nữa, phần lớn những kiến thức về Việt Nam, về dân tộc Việt Nam và tài nguyên Việt Nam lại nằm trong tay các nhà khoa học ngoại quốc, thay vì trong tay các nhà khoa học Việt Nam. Rất tiếc là xu hướng này vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay, với những show khoa học theo kiểu nhảy dù.

Tôi nghĩ tác dụng của cuốn sách của Oger là nó “đánh” thẳng vào tâm thức của người Việt, làm cho chúng ta phải nhìn nhận một thực tế: đó là chúng ta có thói quen làm ẩu, kĩ thuật sơ sài, thiếu huấn luyện, thiếu sáng tạo, và lười biếng suy nghĩ. Nhận thức được như thế là một bước đầu để mỗi chúng ta phải làm gì. Tôi cũng phải suy nghĩ lại mình có những thói quen đó hay không và phải tự khắc phục mình.


Share/Save/Bookmark
Related Posts with Thumbnails