Thứ Sáu, 21 tháng 5, 2010

“Sự kiện Ngô Quang Kiệt”: Kỳ 2 - Hé lộ sự thật qua các phát biểu chính thức và các văn kiện Tòa Thánh

Nguồn : Nữ Vương Công Lý

Những ngày qua, lá thư giã biệt của Đức cha Ngô Quang Kiệt, bài trả lời phỏng vấn đài RFA của Đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh – Giám mục Thanh Hóa, và nhất là sự kiện Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt ra đi bất ngờ vào đêm 12/5 vừa qua, khiến cho công luận hết sức hoang mang. Đâu là giá trị thật của những thông tin được loan tải trên các trang mạng trong suốt thời gian qua về sự đi ở của Đức Tổng Giuse Ngô Quang Kiệt?

Nếu tinh ý, người ta sẽ gặp thấy những mâu thuẫn, những ẩn ý trong các lời phát biểu của Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt, từ bài trả lời phỏng vấn trang WHĐ, cho tới lá thư từ biệt; từ những lời của Đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh, những phát biểu của Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt về việc đi hay ở của ngài cho tới các văn thư bổ nhiệm của Tòa Thánh bổ nhiệm Đức cha Nhơn làm Tổng Giám mục Phó với quyền kế vị.

Trong bức thư từ biệt, Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt đã viết: “Thực ra, khi tôi đề cập tới vấn đề này, các bộ liên quan đều phản đối. Nhưng, khi tôi trực tiếp đệ đơn lên Đức Thánh Cha, ngài đã cảm thông và với tấm lòng hiền phụ, ngài đã chấp nhận. Cùng với đơn xin từ nhiệm, tôi cũng xin Tòa Thánh tìm người kế vị và Tòa Thánh đã tuyển chọn đức cha Nhơn”.

Ở đây, cần để ý quá trình bổ nhiệm một vị giám mục được qui định trong Giáo luật như thế nào. Điều này, chính Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt đã một lần nói tới trong cuộc trả lời phỏng vấn của WHĐ: “Thông thường việc bổ nhiệm giám mục gồm những bước cơ bản như sau. Bước thứ nhất: Khi có nhu cầu, giám mục địa phương đệ trình lên Tòa Thánh kèm với một danh sách các ứng viên thích hợp. Bước thứ hai: Tòa Thánh cứu xét bằng tham khảo ý kiến của nhiều người có uy tín về các ứng viên. Bước thứ ba: các cơ quan hữu trách (khá nhiều) cùng với các vị cố vấn họp lại, căn cứ vào các thông tin thu lượm được để duyệt xét và quyết định chọn vị xứng đáng và thích hợp nhất trong số các ứng viên. Trường hợp không tìm được ứng viên xứng đáng, sẽ trả lời và yêu cầu vị Bản quyền địa phương làm lại danh sách và tiến hành lại từ bước thứ nhất. Bước thứ tư: Nếu tìm được ứng viên thích hợp, sẽ phải hỏi ý kiến đương sự có đồng ý chấp nhận hay không. Bước thứ năm: Đức Thánh Cha chính thức bổ nhiệm và chọn ngày công bố”.

Có một điều chắc rằng Đức cha Kiệt không bao giờ đề cử Đức cha Nhơn - một vị Giám mục đã 72 tuổi làm người kế vị mình.

Lời từ biệt của Đức TGMHN Giusse Ngô Quang Kiệt

Việc Đức cha Kiệt làm đơn từ chức chắc chắn phải xảy ra sau khi Tòa Thánh bổ nhiệm Đức cha Nhơn làm Tổng Giám mục Phó. Điều này hoàn toàn có cơ sở, bởi có một thực tế rằng trong Văn thư bổ nhiệm của Tòa thánh bổ nhiệm Đức cha Nhơn làm Tổng Giám mục Phó và nghị định thư của
Bộ Truyền giảng Phúc âm cho các Dân tộc về việc tuyển chọn Đức cha Nhơn, có nói rõ rằng: “Để giúp cho thiện ích thiêng liêng của dân Chúa trong Tổng Giáo phận của mình được dồi dào và phong phú hơn, Đức cha đáng kính Giuse Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám mục Hà Nội, đã xin Tòa Thánh thương ban cho ngài một Tổng Giám mục Phó”. Sắc lệnh của Đức Giáo hoàng về việc bổ nhiệm Đức cha Nhơn làm Tổng Giám mục Phó cũng nói rõ: “Thói quen của các Đấng kế vị Phêrô là nhận lời các vị lãnh đạo trong Giáo hội khi các ngài xin được giúp đỡ với lý do chính đáng. Lúc này, Hiền đệ đáng kính Giuse Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Hà Nội đã xin cho mình một Tổng Giám mục Phó để có thể lo liệu thích đáng hơn cho đàn chiên”.

Như vậy, việc Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt làm đơn xin một vị Tổng giám mục Phó để giúp đỡ ngài là có thật và Tòa Thánh đã nhận lời. Tuy nhiên, việc ngài có đề cử Đức cha Nhơn theo qui định của Giáo luật hay không thì có điều chắc chắn rằng ngài đã không đề cử, bởi nếu ngài đã đề cử thì ngài đã không nói với các linh mục Tổng Giáo phận Hà Nội, trong cuộc gặp với các linh mục vào tối 6/5/2010 rằng: “Khi nghe Tòa Thánh bổ nhiệm Đức cha Nhơn thì tôi vừa mừng vừa sợ… tôi sẽ bàn giao ngay vì một Giáo phận không thể có hai đầu”.

Có một điều chắc rằng Tòa Thánh đã không hỏi ý kiến Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt có đồng ý Đức cha Nhơn ra Hà Nội hay không, một điều thuộc về nguyên tác khi bổ nhiệm cần có đã bị bỏ qua vì lý do gì?.

Cần nhớ rằng theo các văn kiện của Tòa Thánh, Đức cha Kiệt chỉ làm đơn xin Tổng Giám mục Phó để giúp đỡ ngài (và ngài đã đề cử 3 ứng viên do ngài chọn, không có Đức GM Nguyễn Văn Nhơn) chứ không có việc xin người để thay thế ngài.

Không biết có phải vì điều này hay không mà nhiều lần Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt đã nói với một số các linh mục tới thăm ngài tại Châu Sơn rằng: “Tôi sợ lắm, tôi bị lừa nhiều lần”?

Theo một nguồn tin chắc chắn, Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt đã ba lần làm đơn từ chức và chưa lần nào trong đơn ngài nêu lý do từ chức vì “sức khỏe”. Hai lần trước đây, ngài gửi tới các bộ có liên quan và bị từ chối và như ngài đã viết trong tâm thư “các bộ liên quan đều phản đối”, “các giám mục Giáo tỉnh Miền Bắc cũng làm đơn gửi Tòa Thánh giữ ngài ở lại”. Sau đó, ngài được gợi ý làm đơn xin Tổng Giám mục phó giúp đỡ ngài. Ngày 9/12/2009, ngài đã làm đơn xin Tổng Giám mục phó kèm theo danh sách những ứng cử viên ngài tuyển chọn. Trong số các ứng viên không hề có Đức cha Nhơn và ngay ngày 8/3/2010, ngày ngài có Giám mục Phó cũng là ngày ngài bị buộc làm đơn từ chức.

Ngài viết trong bức tâm thư: “Tôi thật có lỗi với anh chị em vì đã làm đơn từ chức”. Việc ngài bất ngờ từ chức khi vừa có vị giám mục phó khiến ngay cả Đức cha Linh, trong bài phỏng vấn đài RFA cũng phải thốt lên: “Chúng tôi rất ngạc nhiên không hiểu tại sao ngài lại từ chức vào lúc này…" và: "...có những người họ có cả một kế hoạch, ngay cả có kịch bản làm cho giáo hội Việt Nam tan nát.”.

Câu chuyện Đức cha Giuse phải rời khỏi Hà Nội còn rất nhiều điều phải làm sáng tỏ. Tại sao ngài lại phải bất ngờ ra đi ngay trong đêm 12/5/2010, trong khi ngày 13/5/2010 là ngày ngài được Tòa Thánh chính thức chấp nhận đơn từ chức? Tại sao từ ngày nhận chức ở tòa TGMHN đến nay, TGM Nguyễn Văn Nhơn hầu như không rời căn phòng đóng kín của mình mà sáng 11/5/2010, ngài đã phải dậy đi từ rất sớm đến Châu Sơn – Ninh Bình đến nỗi khi Đan Viện Xito Châu Sơn được thông báo thì Ngài đã đến gần Châu Sơn để “tha thiết mời Đức Tổng về HN”? Ai lo giấy tờ thủ tục xuất cảnh cho ngài?

Dù thế nào thì có một điều chắc chắn mà ai cũng biết việc Đức cha Giuse phải ra đi đã được bắt đầu từ cái Nghị quyết quái đản của chính quyền Hà Nội bằng con đường ngoại giao mà tờ quyết định Đức cha Kiệt phải ra khỏi Hà Nội đã được Tòa thánh gửi về Bộ Ngoại giao Hà Nội từ giữa tháng 3/2010. Việc Đức cha Nhơn ra Hà Nội là “được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ” và vị tiền nhiệm đáng kính của Đức cha Nhơn là Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt đã không hề được hỏi ý kiến có đồng ý chấp thuận đức cha Nhơn hay không”.

Văn thư bổ nhiệm nói rõ: “Tòa Thánh đã chỉ định Đức cha Nhơn”. Vậy Tòa Thánh ở đây là những ai? Thế lực nào đang muốn biến Giáo hội Công giáo Việt Nam đi theo đường hướng “Phúc âm, Dân tộc, Chủ nghĩa Xã hội”? Nếu thế lực này cứ tiếp tục tồn tại, khuynh loát HĐGMVN và Giáo hội Việt Nam thì sẽ để lại một hậu quả khôn lường.

Nữ Vương Công Lý

Kỳ tới: Ván cờ không đánh mà tự thua của giáo hội công giáo

Share/Save/Bookmark

Thứ Tư, 19 tháng 5, 2010

Kỳ 1: Hiện tượng Ngô Quang Kiệt

Nguồn : Nữ Vương Công Lý

Thưa quý vị độc giả,

Như trong "Thư gửi quý vị độc giả", bắt đầu từ hôm nay, chúng tôi sẽ khởi đăng loạt bài "Sự kiện Ngô Quang Kiệt".

Đức Tổng Giám mục đã ra đi khỏi TGPHN như những gì chúng tôi đã loan tin, ngài ra đi trong im lặng, trong đêm tối. Ngài ra đi trong sự đau đớn, luyến tiếc của giáo dân và những người yêu công lý, sự thật. Có vẻ như “Cuộc khổ nạn Ngô Quang Kiệt” đã đến hồi kết?
Không phải vậy, mọi vấn đề vẫn còn đang phía trước. Bởi cuộc khổ nạn Ngô Quang Kiệt, thực chất chỉ là bước mở đầu, điểm nút cho một “cuộc khổ nạn” khác của Giáo hội Công giáo Việt Nam với mô hình giáo hội “Phúc âm - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” là mục đích.
Chúng ta cần hiểu được điều này: Thời gian qua, không thể có cách nói nào xuyên tạc được sự thật là Đức TGMHN buộc phải ra đi khỏi ngai Tòa TGMHN vì những yêu cầu của chính nhà nước Cộng sản Việt Nam. Bằng con đường nào, bằng cách nào để họ thực hiện được điều đó là điều cần nói tới.
Sự phản kháng mãnh liệt của giáo dân Hà Nội và khắp nơi với quyết định này, thực chất là sự phản kháng việc can thiệp vào tôn giáo, nhất là Giáo hội Công giáo VN của nhà cầm quyền CSVN. Điều đó làm cho nhà cầm quyền CSVN rất đau nhưng không thể can thiệp, và nguy cơ bạch hóa đường dây họ đã mất công cài cắm bấy lâu nay bị bại lộ càng làm cho họ mất ăn mất ngủ mà không thể trực tiếp can thiệp. Hiện họ đang dùng bộ máy công an và an ninh theo dõi và làm việc này.
Nhiều người cho rằng, GHCGVN sẽ bị ảnh hưởng? Tất nhiên, sau mấy chục năm can thiệp khi trắng trợn, khi âm thầm cách tinh vị vào từng giai đoạn, từng công việc, nhất là nhân sự, chính quyền CSVN đã đạt được một số kết quả nhất định là cài cắm một số nhân vật thỏa hiệp, buông xuôi hoặc bị “tóm gót chân Asin” vào những vị trí có ảnh hưởng đến GHCGVN và sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu vô lý của nhà cầm quyền CSVN mà vụ việc TGMHN Giuse Ngô Quang Kiệt là điển hình.
Vì thế, việc bóc trần những âm mưu, những thủ đoạn này sẽ liên quan đến một số nhân vật trong GHCGVN mà nhiều người chưa nhìn thấy được bản chất, sự thật sẽ dẫn đến những hoang mang và nghi kỵ.
Nhưng không thể cứ để Giáo hội CGVN dần dần đi theo “sự lãnh đạo sáng suốt của đảng” và biến GHCGVN thành cái vỏ bọc, chỉ còn là hình thức.
Những điều không thể nói ra từ Đức TGM
Lá thư từ biệt của Đức Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt ngày 13/5/2010, cũng như bài phỏng vấn Ngài trên website của Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN) được đưa ra để giải thích bằng nhiều cách khác nhau cho “sự kiện Ngô Quang Kiệt”.
Nhiều trang mạng cũng như những người có trách nhiệm, lo ngại cho uy tín của một số người liên quan đã đưa ra lời giải thích nhằm trấn an dư luận trước nỗi bất bình của giáo dân khi nghe tin về sự ra đi của Đức TGM này với nhiều câu hỏi khác nhau chưa có lời giải.
Nhiều người đọc bài phỏng vấn cũng như lá thư để lại của ngài, đã có thể không hiểu hết những sự thật ẩn giấu khéo léo đằng sau những lời viết, câu nói đó.
Nói cách khác, trong hoàn cảnh của Đức GM Giuse Ngô Quang Kiệt thời gian qua, nhiều sự thật được ngài nói ra với phương pháp “ý tại ngôn ngoại”. Những sự thật về sự kiện này, theo như lời ngài nói trong một cuộc họp với linh mục đoàn Hà Nội, thì “không phải ai cũng hiểu hết vì không phải ai cũng có trình độ để hiểu”.
Đằng sau những lời nói, những câu chữ đó là gì? Trước khi tìm hiểu những vấn đề đó, chúng ta hãy nhìn nhận lại vị TGMHN kiên cường này đúng thực chất và hoàn cảnh của ngài.
Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt - Ngài là ai?
Chắc hẳn ít có ai không hiểu về thân thế sự nghiệp của Đức GM Giuse Ngô Quang Kiệt nếu họ chú ý đến những thông tin về giáo hội VN những ngày qua. Nhưng có những sự kiện chắc rằng mọi người không được thông tin nhiều bởi nhiều lẽ:
- Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt là người đã chấp nhận nhiều áp lực khi đứng lên đồng hành cùng giáo dân, nỗi cô đơn của ngài vấp phải lại chính từ một số GM trong GHCGVN. Trong khi là người đơn sơ, thánh thiện và không chứa chấp mưu mô thế gian nên ngài đã bị ăn từ quả lừa này đến quả lừa khác một cách cay đắng kể cả từ lãnh đạo cộng sản VN, thậm chí từ một số đấng bậc có thế giá trong Giáo hội. Đến nỗi cuối cùng, khi nói chuyện với một số người thân tín, ngài đã phải thốt ra “tôi sợ rồi, tôi đã bị lừa quá nhiều nên tôi sợ”.
- Trong vai trò là người đứng đầu Tòa TGMHN, một nơi đầy sóng gió, ngài đã được sự yêu mến nhiệt thành của giáo dân, ngài không muốn tất cả được huỵch toẹt nói ra, sẽ ảnh hưởng lớn lao đến Giáo hội, đặc biệt là sự kính trọng cần thiết trong phẩm trật giáo hội. Ngài sợ rằng điều đó sẽ dẫn đến sự chia rẽ, sự nghi kỵ mà chính CSVN đang muốn có để tấn công GHVN, chính vì vậy ngài không nói ra những điều bất thường trong các vụ việc liên quan đến ngài một cách thẳng thừng.
- Với cá nhân ngài, ngài chấp nhận khi đã có bước đi lỡ bước, nhất là trong việc viết đơn từ chức trong hoàn cảnh bó buộc “không thể khác” như ngài đã nói. Chính việc viết đơn từ chức này là nỗi đau và sự ân hận của ngài khi giáo dân thể hiện sự yêu quý ngài cách mạnh mẽ và nhiệt thành. Vì vậy, ngày đã nói trong cuộc họp các linh mục đón Đức TGM Phó Nguyễn Văn Nhơn rằng: “Nếu nói rằng có tội thì con là người có tội lớn nhất đã gây ra sự việc này”.
- Sự ra đi của ngài, đúng là vì quyền lợi của giáo hội, của giáo phận và tín hữu Hà Nội, bởi nếu ngài ở lại, chắc chắn ngài sẽ không được yên như đã từng không được yên bởi ngoài những mưu mô của nhà cầm quyền cộng sản, thì còn bị áp lực bởi một số vị giám mục đồng nhiệm của ngài. Những giám mục này là ai? Chúng tôi sẽ trình bày lần lượt với quý vị độc giả.
Xin nhắc lại rằng, không phải toàn bộ các giám mục trong HĐGMVN, mà thực chất trong đó chỉ có một đường dây, một nhóm có thế lực đã khuynh loát tất cả. Chỉ tiếc rằng, đa số các vị còn lại với tinh thần đơn sơ, đặc biệt là HĐGMVN là một tổ chức chưa có một quy tắc, một điều nào quy định trong giáo luật về ứng xử, về vận hành… nên hầu như đã im lặng chỉ chăm chú cho giáo phận của mình và nhóm này mặc sức khuynh loát, hướng dẫn.
Và nếu khi không thể yên, nếu có những phản kháng của ngài chắc chắn sẽ ảnh hưởng lớn đối với toàn thế TGPHN và cả giáo hội công giáo VN.
Vì vậy, ngài chấp nhận tất cả, ngài bị dồn vào thế “đau nhưng không được kêu”, không yêu vẫn phải nói rằng “tôi mến”.
Nếu cho đến nay, một số người vẫn “cố đấm ăn xôi”, bất chấp sự sám hối và nhìn nhận theo đường lối ngay thẳng. Thì những sự thật cần minh bạch rõ ràng, để giáo dân hiểu hơn không chỉ về cá nhân Đức GM Giuse Ngô Quang Kiệt, mà ẩn giấu đằng sau đó là một loạt những âm mưu, những hành động có nguy cơ dẫn Giáo hội VN đi theo con đường của những kẻ vô thần can thiệp và dẫn dắt.
TGM Giuse Ngô Quang Kiệt bước lên “vũ đài” từ khi nào?
Khi Đức Giám mục Lạng Sơn Ngô Quang Kiệt được bổ nhiệm làm Giám quản Tông tòa và rồi Tổng Giám mục Hà Nội, mọi chuyện tưởng như bình thường nhưng bắt đầu đã có những thay đổi thể hiện bản lĩnh của một vị chủ chăn xác định được cái gì thuộc quyền của mình và những gì thuộc quyền của giáo dân. Tuy quan hệ với các cơ quan chính quyền vẫn bình thường, nhưng ngài đã hành động khá kiên quyết để thể hiện vài trò của mình như một sự “phá lệ” bắt đầu từ việc giành quyền Giám mục của mình phong chức cho các linh mục không cần phải xin phép đối với hai linh mục Nguyễn Văn Thật và Nguyễn Văn Phượng, mở đầu cho việc không cần xin phép thụ phong linh mục như trước đây.
Đến một ngày bình thường, khi nhìn thấy Tòa Khâm sứ bị người ta tháo dỡ sàn, mái… để bàn giao cho một ngân hàng cổ phần nào đó, thì ngài là người đứng đầu TGPHN, buộc phải lên tiếng.
Những tiếng kêu từ Tòa TGMHN xưa nay, hầu như chẳng có chút giá trị gì với nhà nước CSVN, cách đó 8 năm, Tòa Khâm sứ cũng đã từng nằm trong âm mưu cướp của chính quyền CSVN. Khi đó Đức Hồng Y Phạm Đình Tụng và linh mục đoàn đã hai lần đưa kháng thư nhưng không được trả lời. Chỉ đến khi toàn TGP có phong trào lấy chữ ký và kháng thư ở tất cả các nhà thờ và được giáo dân rầm rộ hưởng ứng, thì sự việc mới dừng lại và nhà nước CSVN buộc phải bỏ dở miếng mồi béo bở, nhưng vẫn rắp tâm chiếm cướp bằng được.
Bắt đầu từ việc ngài ra văn thư kêu gọi cầu nguyện, một phong trào rầm rộ đều khắp TGP và được sự hưởng ứng khắp nơi trong và ngoài nước. Đây là cơn địa chấn đối với chế độ độc tài vốn sợ những cuộc tập hợp đông đảo người dân mà không do họ tổ chức và kiểm soát.
Rồi những ngày căng thẳng đó, phong trào cầu nguyện cho Sự Thật, Công Lý, Hòa Bình được phát triển và lan rộng đã làm nhà nước CSVN đau đầu. Nhà cầm quyền đã phải huy động cả hệ thống chính trị, nhân tài, vật lực và mọi phương tiện, bằng mọi cách kể cả phương cách nhơ bẩn nhất để hòng đánh gục được một TGM kiên cường và giáo dân Hà Nội bản lĩnh.
Và từ đó bắt đầu một “cuộc khổ nạn Ngô Quang Kiệt”.
Những khó khăn thăng trầm, những đau đớn, những đơn độc, thiếu hiệp thông… những ngón đòn được thi thố bằng nhiều cách, nhưng con bài tẩy được sử dụng cho một âm mưu…
Để cuối cùng, Đức TGMHN Giuse Ngô Quang Kiệt phải ra đi khỏi TGPHN theo đúng yêu cầu của nhà cầm quyền CSVN.
Điểm lại quá trình vừa qua, trong lịch sử GHCGVN, xuất hiện một TGM Ngô Quang Kiệt như một hiện tượng, công khai đòi tự do tôn giáo, công lý, sự thật và hòa bình.

Nữ Vương Công Lý
Kỳ tới: Hé lộ sự thật qua các phát biểu chính thức và các văn kiện Tòa Thánh

Share/Save/Bookmark

Chủ Nhật, 16 tháng 5, 2010

Theo dõi bước chân của kẻ bị trục xuất

Nguồn : DCVOnline

Nguyễn Văn Lục


Thế là xong. Kịch bản đã diễn ra như là nó phải như vậy, không thể khác được. Hơn hai năm trời tranh đấu nay tay trắng ra đi. Les jeux sont faits. Và nếu nói theo ngôn ngữ của một người theo đạo thuần thành thì mọi chuyện xảy ra đúng như ý Chúa định.

Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt rời Việt Nam, vội vã lên đường ra khỏi Việt Nam.

Theo thông cáo của linh mục thư ký tòa Tổng Giám Mục thì Gm Kiệt rời Hà Nội “tiếp tục chương trình chữa bệnh” vì gần đây sức khỏe của ông lại đột ngột ngột suy yếu.

Ông linh mục thư ký ơi. Tôi hiểu cái vai trò thư ký của ông. Thằng bồi thì diễn đúng cái cung cách cử chỉ của một thằng bồi. Ông chủ thì xuất hiện thế nào cho oai phong như một ông chủ. Đó là điều mà triết gia Jean Paul Sartre chúa ghét vì ông cho là kịch cỡm, đóng kịch. Phần ông, đóng vai thư ký tòa Tổng giám mục, ông bắt buộc phải xử dụng thứ “ngôn ngữ Pharisiêu” như thế. Nhưng tôi nghe không lọt tai chút nào.

Trong đời sống, có những lúc phải dám nói sự thật. Đó là một bổn phận tinh thần, một thử thách đạo đức và một sự can đảm đức tin tôn giáo ông ạ. Tôi không nghĩ ông là một linh mục tốt lành. Nhưng biết đâu trong một xã hội nhố nhăng như thế với người chủ mới trong bối cảnh ở Việt Nam, ông tỏ ra thích hợp và có nhiều cơ may trở thành giám mục không biết chừng.

Chỉ khổ cho giáo dân thật thà thôi ông ạ.

Có thể nào để tránh phải đụng chạm với sự thật, ông không ra thông cáo được không?

Tôi đủ tư cách trí thức để cho ông biết sự thật mà đáng lẽ không cần phải nhiều lời. Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt không đi chữa bệnh mà đã bị nhà cầm quyền Hà Nội trục xuất ra khỏi Việt Nam ông ạ. Tôi khẳng định như thế. Số phận ông cũng giống như tình cảnh Hồng y Nguyễn Văn Thuận trước đây mà thôi.

Này nhé, theo tin của nuvuongcongly.net ngày 9-5, ông còn vào Vinh chúc mừng Kim khánh giám mục Cao Đình Thuyên, một người cùng đồng hành chia sẻ những nỗi lo toan chung của Giáo Hội Thiên Chúa giáo. Sáng 10-5, ông còn làm lễ tại dòng Mến Thánh giá Xã Đoài. Sau đó ông quay về Đan Viện Xi-Tô Châu Sơn tại Ninh Bình, nơi mà ông đã định gửi tấm thân cho những ngày còn lại của đời ông. Nhưng ngày 12-5 thì vị Tổng giám mục Nguyễn Văn Nhơn đã từ Hà Nội xuống Ninh Bình đề nghị giám mục Ngô Quang Kiệt về Hà Nội để “có việc gấp”.

Và ngay trong đêm 12-5, ông khăn gói quả mướp rời khỏi Việt Nam.

Điều mà ông không mang theo được và ông đã để lại cho giáo dân và mọi người Việt Nam là cái tinh thần Ngô Quang Kiệt.


TGM Ngô Quang Kiệt (t); Nguyễn Văn Nhơn (p)
Nguồn: DCVOnline tổng hợp
Điều mà ông mang theo trong đám hành lý cân nặng nhất của ông là 15.000 chữ ký thiết tha mời gọi ông ở lại với đàn chiên. 15.000 chữ ký ấy phải nhân lên 100 lần thành 1.500.000 mới đúng. Kể từ nay, Ngô Quang Kiệt nằm trong số những người lãnh đạo kiệt xuất trong danh sách những người tiền nhiệm như Trịnh Như Khuê, Nguyễn Văn Thuận, Nguyễn Kim Điền, Phao lồ Lê Đắc Trọng và tôi cũng quý mến tất cả các giám mục đã công khai hỗ trợ tổng giám mục Kiệt trong những giai đoạn tranh đấu cho quyền lợi giáo hội và nay trên bước đường luu vong của ông. Đó là các giám mục Kontum, Lạng Sơn, Hải Phòng, Thái Bình, Bắc Ninh như Nguyễn Đức Tuyên đã viết.

Tất cả thủ tục giấy tờ xuất cảnh nhà nước đã lo chu đáo nhanh chóng có thể chỉ nội trong một ngày. Kể cũng buồn cười, có những việc họ làm rất nhanh lại có những việc họ làm chậm như rùa.

Lý do duy nhất người ta trục xuất ông khỏi Việt Nam chỉ vì người ta sợ ông.

Như lời một vị trong Mặt trân tổ quốc tiết lộ, để ông Kiệt nghỉ hưu ở đâu thì ảnh hưởng của ông trên giáo dân vẫn còn đó nên buộc phải cho ông đi ra nước ngoài.

Đây là công đầu tiên trong vai trò tay sai của Tổng giám mục Nguyễn Văn Nhơn. Ông đã làm một cách xuất sắc. Ai đã sai ông vào Ninh Bình để mời gọi giám mục Kiệt phải về Hà Nội gấp? Phải chăng đó là nhiệm vụ của một Tổng giám mục mới?

Ông Nhơn học trên Giáo Hoang Học viện Piô 10 thì hẳn không quên được những sắc chỉ của giáo hoàng Piô 12 vào năm 1948 đối với chế độ cộng sản. Cụ thể là những thư chung của hàng giám mục Việt Nam năm 1952 có đoạn:

“Chủ nghĩa cộng sản bác bỏ tất cả quyền lợi của nhân vị và gia đình. Chủ nghĩa cộng sản xung khắc tuyệt đối với công giáo. Chủ nghĩa cộng sản bác bỏ Thiên Chúa, bác bỏ mọi tôn giáo, bác bỏ thuyết linh hồn hằng sống đến nỗi Đức Thánh Cha đã tuyên bố rằng: không bao giờ có thể vừa theo cộng sản vừa theo công giáo được và người công giáo nào gia nhập đảng cộng sản thì lập tức bị khai trừ khỏi giáo hội.”

Thư chung của giám mục miền Nam vào năm 1960 cũng nhắc lại cái tinh thần ấy.

Cái tinh thần ấy đã có những nạn nhân làm vật hy sinh tế thần ở Hà Nội như các linh mục Nguyễn Văn Vinh, Nguyễn Ngọc Oánh, Phạm Hân Quynh và Nguyễn Văn Thông.

Nay thì tình thế đã đổi khác. Gió đã đổi chiều, người ta nói đến hòa hợp hòa giải? Nhưng hòa giải với ai? Và hòa giải về cái gì?

Thực tế mà nói, công việc của ông Nhơn tại giáo phận Hà Nội sẽ thuận buồm xuôi gió theo tinh thần chủ bảo tớ nghe, răm rắp đâu vào đó bất kể dân theo đạo nghĩ gì, mong muốn gì.

Nhưng cái nỗi khổ cho ông giám mục Nhơn là từ nay nếu gặp giáo dân thì phải cúi mặt xuống. Vừa rồi người ta đã có nhận xét, ông Nhơn đi giữa hai hàng giáo dân mà mặt nhìn thẳng, không vẫy tay chào lại.

Ông làm sao phủ lấp được bóng dáng Ngô Quang Kiệt? Ông làm sao thay thế chỗ trống Ngô Quang Kiệt trong tim mỗi người giáo dân? Ông sẽ trở thành kẻ xa lạ giữa hơn 300.000 ngàn giáo dân Hà Nội dưới quyền ông.

Dám ông trở thành thứ mục tử lạc loài, chăn chiên mà không có chiên để chăn?

Và vì thế, ông giảng ông nghe. Cùng lắm quanh ông vài kẻ theo đóm ăn tàn. Cái đó thì thời nào chả có. Phần tôi sẽ không liên lạc, điện thoại, không chơi với Paul Deslierres, không rủ ông đi ăn Phở, không mời ông ăn chả giò, những món ăn Việt Nam mà ông ưa chuộng nữa vì ông đã không biết dạy học trò.

Tôi cũng đã đọc tất cả những thư từ của giáo dân chia sẻ về sự ra đi của Giám mục Kiệt mà tôi có được. Tôi cũng nhìn và quan sát cái cảnh ngày lễ nhậm chức của giám mục Nguyễn Văn Nhơn. Một cái cảnh mà trong đời tôi chưa hề nhìn thấy cái cảnh đó bao giờ.

Cái cảnh đó là dấu hiệu của sự trưởng thành, của tinh thần dân chủ hay dấu hiệu của sự bất tín nhiệm?

Có hàng triệu người buồn hoặc thất vọng. Có nhiều người xúc động không cầm được nước mắt. Tôi xin được đứng trong danh sách những người ấy mặc dù danh sách cũng được gửi đến, nhưng tôi đã không ghi danh vào đó làm gì. Vì tôi biết trước đó chỉ là một cách cụ thể hóa một biểu lộ hơn là một thực tế đòi hỏi.

Nay Người đã đi rồi. Thế là hết. Hết tất cả.

Nỗi lo sợ chính của tôi là nay danh hiệu Quốc doanh có thể được nâng cấp lên hàng giám mục như trong một bài viết trước. Lm Đỗ Xuân Quế đã viết một bài cảnh báo về nạn giám mục quốc doanh xâm nhập cả vào tổ chức của Vatican.

Nhưng trước mắt, việc thay thế hai giám mục Kiệt và Thuyên bằng giám mục Nhơn và linh mục Nguyễn Thái Hợp làm chúng ta lo ngại.

Ông Nguyễn Thái Hợp được biết giao du với bọn Tứ nhân Bang và Nguyễn Đình Đầu, thường viết bài cho Công giáo và dân tộc. Tôi có một bài viết của ông qua một người bạn trong nước gửi ra là bài Thử nhân diện con người Việt Nam. Bài viết thuộc loại bài bản, khuôn mẫu như có đoạn, “Chúng ta từng làm nên Điện Biên Phủ, mùa xuân đại thắng 1975, vậy mà 30 năm qua hòa bình độc lập ta làm được gì để không hổ thẹn với cha ông?”

Giáo hội quốc doanh thông qua những việc bổ nhiệm mới đây, phải chăng đó là mục tiêu của chính quyền đề ra trong lúc này?


© DCVOnline

Share/Save/Bookmark

Chủ Nhật, 2 tháng 5, 2010

Một phút tưởng tượng - Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh

Nguồn : Nữ Vương Công Lý

Nếu điều này xảy ra, chắc chắn các giám mục sẽ suy nghĩ lại, Toà Thánh cũng sẽ suy nghĩ lại. Phần Đức Cha Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn, ngài sẽ đường đường đi vào lịch sử với tư cách không phải một người tham quyền cố vị, hay khiếp nhược trước bạo quyền, nhưng là một con người hoàn toàn tự do để cống hiến, một người hy sinh danh dự cá nhân vì lợi ích cộng đoàn
Dưới búa rìu của dư luận
Vào đúng thời điểm miền Nam kỷ niệm 35 năm có người gọi là giải phóng, có người cho là mất nước, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đang trải qua một cơn thử thách ngặt nghèo. Nhìn từ bên ngoài, mọi sinh hoạt vẫn bình thường, nhưng chỉ cần đọc các bài viết trên mạng thì thấy, từ hơn một tuần nay, kể từ ngày Toà Thánh Vatican công bố quyết định bổ nhiệm đức cha Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn làm Phó Tổng Giám Mục Hà Nội với quyền kế vị Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, có thể nói: chưa bao giờ HĐGM/VN và ngay cả Toà Thánh Vatican, lại bị dư luận chỉ trích công khai và mạnh mẽ như lúc này.
Dưới bàn tay đạo diễn
Lẽ ra việc thay đổi nhân sự trong một tổ chức là chuyện bình thường, thế nhưng chưa nói đến chuyện tuổi tác (một vị 72 tuổi thay thế một vị 58 tuổi), chưa nói chuyện vị trí (Chủ tịch đi làm Phó) điều làm mọi người băn khoăn lo lắng nếu không nói là thất vọng ê chề, đó là mọi chuyện đang diễn ra theo đúng kịch bản của Uỷ Ban Nhân Dân Thành phố Hà Nội đứng đầu là Chủ tịch Nguyễn Thế Thảo: bằng mọi cách phải “bứng” Đức Tổng Kiệt ra khỏi địa bàn Hà Nội. Và người đến thay thế Đức Tổng Kiệt là Đức Cha Nguyễn Văn Nhơn. Cho dù trang mạng của HĐGM/VN đã tỏ ra nhanh nhạy một cách khác thường (từ nhiều năm nay đâu có thấy nhúc nhích gì trước bao việc long trời lở đất !), và có thể nói đã lấy hết sức bình sinh để trấn an dư luận, thì ngay cả bài trả lời phỏng vấn của Đức Tổng Kiệt vẫn không làm người đọc an lòng. Là vì mọi việc đang diễn ra theo đúng đòi hỏi của chính quyền cộng sản Hà Nội: bằng mọi giá Đức Tổng Kiệt phải ra đi ! Có phải nguyện vọng thiết tha và quyền lợi chính đáng của khối tín hữu Công Giáo không chỉ riêng Hà Nội mà trên cả nước Việt Nam, đã bị hy sinh để làm đẹp lòng chính quyền Hà Nội ?
Một công việc “đội đá vá trời”
Trong hoàn cảnh này, bất cứ ai đến thay thế Đức Tổng Kiệt cũng phải được chính quyền Hà Nội chấp nhận. Và người đó, tài cao đức cả đến đâu, cũng sẽ bị đánh giá là “người của Nhà Nước”. Trong tình huống đó, làm sao đức cha Nguyễn Văn Nhơn có được sự tin tưởng, kính nể cần thiết để lãnh đạo? Nếu ngài cứ bình thản chấp nhận chức Phó Tổng Giám Mục Hà Nội, ngay cả khi vì vâng lời mà các tín hữu không công khai bày tỏ sự chống đối, thì thật khó cho ngài gặp được những khuôn mặt vui tươi, thân thiện, càng không có mấy cơ may tìm được những người cộng tác hết mình để việc chung được suôn sẻ. Còn đối với chính quyền thì trước bao nhiêu áp bức, bất công xảo trá… ngài đâu còn lựa chọn nào khác hơn là cúi đầu lặng lẽ nghe theo, dù biết như thế là bất trung với sứ mạng ngôn sứ của mình. Trong tình huống này, Đức Cha Nguyễn Văn Nhơn sẽ bị kẹt giữa hai gọng kềm: một bên là một chính quyền vô thần, không dẹp được tôn giáo thì cũng chỉ lợi dụng tôn giáo, bên kia là trách nhiệm một mục tử phải chu toàn, trách nhiệm đó đòi vị này phải hoàn toàn tự do để thay mặt Chúa lãnh đạo cộng đoàn, thực hành giáo huấn của Chúa Giê-su để xây dựng con người và xã hội. Vậy phải làm sao đây ?
Nếu điều này xảy ra…
Điều tôi sắp nói ra chẳng có chi là độc đáo, vì trước tôi, có người đã nói trên mạng rồi. Xin cho tôi một phút tưởng tượng. Đó là ngay tại Nhà thờ Chính Toà Hà Nội, ngay sau khi đọc văn thư bổ nhiệm, sau khi nói lời cám ơn Đức Giáo Hoàng đã tin tưởng mình, đức cha Nguyễn Văn Nhơn tuyên bố cho cộng đoàn là sẽ gửi văn thư xin từ chức Tổng Giám Mục Phó Hà Nội với quyền kế vị. Mục đích là để đem lại sự bình an cho Giáo Hội giữa lúc phong ba bão táp, tạo nên sự hiệp nhất cho cộng đoàn đang bị xâu xé, chứng minh Giáo Hội không lệ thuộc vào Nhà Nước, hiệp thông với vị Tổng Giám Mục được mọi người kính yêu đang một mình ngày đêm vác thập giá, cuối cùng là vì ngài không ham hố quyền lực mà chỉ muốn noi gương người đã rửa chân cho môn đệ trong bữa Tiệc Ly.
Nếu điều này xảy ra, tôi tin chắc cả cộng đoàn sẽ nghẹn ngào vì sung sướng. Mọi người sẽ khám phá nơi ngài đích thực là mục tử dám hy sinh vì đoàn chiên, sẽ dành cho ngài sự kính trọng và lòng quý mến đến giờ này họ mới có. Về phần chính quyền, họ có thể thất vọng hay giận dữ, nhưng sẽ khám phá ra một Giáo Hội Công Giáo mạnh mẽ, đoàn kết, có tinh thần siêu nhiên, và họ buộc lòng phải kính nể.
Sau đó rồi sao ?
Nếu điều này xảy ra, chắc chắn các giám mục sẽ suy nghĩ lại, Toà Thánh cũng sẽ suy nghĩ lại. Phần Đức Cha Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn, ngài sẽ đường đường đi vào lịch sử với tư cách không phải một người tham quyền cố vị, hay khiếp nhược trước bạo quyền, nhưng là một con người hoàn toàn tự do để cống hiến, một người hy sinh danh dự cá nhân vì lợi ích cộng đoàn. Và một khi nhờ Đức Cha Nhơn chủ động đi bước trước, mà Giáo Hội chúng ta tìm lại được sự bình an và hiệp nhất, thì chúng ta có quyền tin là Chúa Thánh Thần sẽ làm phần còn lại.
Kết luận
Chẳng biết đây sẽ là thực hay mơ. Điều ta phải vững tin là “không có gì mà Thiên Chúa không làm được.”
Sài-gòn, ngày 30 tháng 04 năm 2010
Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh ofm

Share/Save/Bookmark

Thứ Ba, 20 tháng 4, 2010

Xin hãy giữ vững cây gậy mục tử

Nguồn : DCVOnline

Nguyễn Văn Lục

Nguồn: lifesitenews.com
Mới đây, tôi có dịp đọc lại một bài báo trên tờ La Presse, Montréal, ngày thứ sáu tháng tư, 2009 của linh mục Raymond Gravel thuộc giáo xứ Épiphanie, giáo phận Joliette với một nhan đề khá gay gắt: Messieurs les évêques: taisez-vous! (Các vị giám mục, xin các ngài im miệng lại.)

Linh mục Raymond Gravel muốn nhắc đến thảm trạng trẻ em bị sách nhiễu tình dục bởi một số chức sắc thiên chúa giáo trong các địa phận như ở Boston, Hoa Kỳ hay ở Ái Nhĩ Lan (Ireland) mới đây.

Đây là một thứ scandal mà hầu hết các trường hợp xảy ra đều bị giáo hội che dấu. Rất ít thủ phạm bị trừng phạt. Và nó đã gây ra một phản ứng dây chuyền nơi các nhà thờ ở Ireland. Giáo Hoàng Benedict đành gửi thư bày tỏ sự xin lỗi công khai và xám hối. Thư sám hối đã được đọc ở tất cả các nhà thờ ở Ireland.

Nhưng mặc dầu có những lời sám hối chính thức như thế, nó cũng không đủ làm nguội và dập tắt được dư luận. Bởi vì hơn ai hết đáng lẽ Giáo Hôi phải chứng tỏ họ là chứng nhân của công lý, là lương tri của nhân loại đi trước và đứng trên cả pháp luật mới phải.

Giáo hội nói chung đã không làm nổi điều đó.

Nay Vatican trở thành tâm điểm cho những khủng hoảng niềm tin và quyền lực. Rất có thể nó đánh dấu một thời kỳ đen tối của giáo quyền La Mã!

Trong khi đó tại Việt Nam, giám mục Nguyễn Văn Khảm của tổng giáo phận Sài Gòn cũng như Hội đồng Giám mục lại bày tỏ một thái độ tiêu cực, bài bác các dư luận chống đối và tự coi Giáo hội mẹ là nạn nhân của dư luận bất công.

Được hỏi về vấn đề này trong dịp sang Mỹ tháng 3 vừa qua, giám mục Nguyễn Văn Khải đã trả lời một cách rất thiếu ý thức trách nhiệm đạo đức cũng như khôn ngoan, giám mục nói,

“Ở đây tôi chỉ muốn nói đến một điều là sức sống của giáo hội. Hình như các phương tiện truyền thông thích nói đến chuyện tiêu cực trong giáo hội Hoa Kỳ như vấn đề lạm dụng tình dục trẻ em...và hình như phải làm rùm beng những chuyện đó thì mới thu hút người xem và người nghe. Nhưng có bao điều tích cực khác mà chúng ta không để ý đến”.
Thế nào là thích nói thế nào là rùm beng? Thế nào là dư luận bất công? Thích nói hay phải nói? Đọc lời tuyên bố trên, người viết đâm nghi ngờ những bài giảng của giám mục Khảm lúc còn là linh mục.

Tiếp đến khi được phỏng vấn về sự hiện diện của Hồng Y Phạm Minh Mẫn tại buổi lễ ở LA, Gíám mục Khảm vận dụng thánh kinh nhắc lại lời Chúa trong câu: Nước của tôi không thuộc thế gian này. Vì thế Chúa có đến trần gian này để làm chính trị đâu.

Đồng ý Chúa có thể không làm chính trị. Nhưng phần các lãnh đạo thiên chúa giáo ở Việt Nam thì chẳng những làm chính trị mà còn làm thứ chinh trị dấu mặt. Thứ chính trị theo đuôi và bợ đỡ.

Giám mục Nguyễn Văn Khảm viết Hồng Y Phạm Minh Mẫn sang Mỹ để “chủ sự một buổi lễ tôn giáo, để bày tỏ và củng cố sự hiệp thông giữa hai tổng giáo phận LA và Sàigòn cũng như mối hiệp thông giữa cộng đồng thiên chúa giáo Việt Nam Hải ngoại và giáo hội tại quê nhà.”

Nhìn thực tế thì tôi không thấy Hồng Y có khả năng để tạo dựng bất cứ một mối Hiệp Thông nào? Sự hiện diện của ngài gây rối ren và khó chịu tạo thành một dư luận phản kháng của nhiều người.

Nhiều hội đoàn trong thiên chúa giáo đến ngoài thiên chúa giáo đã lập ra ỦY Ban Phản kháng sự hiện diện của Hồng Y Phạm Minh Mẫn. Thêm vào đó là những thông cáo mập mờ của ban tổ chức buổi lễ để đánh lừa dư luận.

Người ta có cảm tưởng bằng mọi cách làm thế nào để Hồng y giáo chủ phải có mặt.

Giáo dân sẽ không dàn chào áp lực phản đối kiểu Nguyễn Tấn Dũng hay Nguyễn Minh Triết. Tuy nhiên điều dó không có nghĩa là Hồng y giáo chủ có đủ lý do để có mặt.

Đối với đa số những giáo dân cho rằng sự có mặt hay không có mặt của vị Hồng y không mấy quan trọng cho bằng sự phủ nhận vai trò chủ chiên ở trong ý thức của mỗi người.

Hồng y giáo chủ không còn có trong mắt của giáo dân hải ngoại nữa.

Sự phủ nhận ấy cho thấy vai trò chủ chiên không có chỗ đứng trong cộng đồng tín hữu hải ngoại nữa. Và sau buổi lễ, vị Hồng Y biến mất không biết đi đâu, làm gì. Cung cách hành xử như thế đã hẳn không phải cung cách của một người chủ chiên nữa.

Rõ ràng chỗ của ông không phải ở California, nhưng ở giữa những cộng đồng giáo dân đang gặp những cơn thử thách với nhà cầm quyền cộng sản.

Chỗ cần có mặt, cần đến thì lại không đến, chỗ không cần thì lại có mặt. Vai trò mục tử đối với đoàn chiên đã không làm trọn vẹn.

Ước gì tôi thấy được ngài Hồng Y giáo chủ, chống gậy mục tử đi hàng đầu, đứng giữa đám đông người thiên chúa giáo ở Thái Hà, ở Đồng Chiêm thay vì ở LA.

Tôi cũng ước gì giám mục Nguyễn Văn Khảm, thay vì chỉ thuyết giảng xuông, hãy nói lên tiếng nói của giáo dân Thái Hà, Đồng Chiêm.

Chỗ của các Hồng y, GIám mục - chỗ của mục tử - không phải ở Mỹ mà ở giữa đoàn chiên giáo dân đang bị sách nhiễu trong nước.

Phần Hội Đồng giám mục trong nước tạo ra những xôn xao, những tin đồn đủ loại. Ông Giám mục này từ Mỹ Tho sẽ về Sai Gòn, ông giám mục ở Sài Gòn kia sẽ thay thế chỗ của Tổng Giám mục Kiệt. Có sự trao đổi, mặc cả. Mặc cả thế nào không ai biết. Hư thật bao nhiêu cũng không rõ.

Rồi đùng một cái, Giám mục Kiệt từ giã Roma về lại Hà Nội trước sự ngạc nhiên của mọi người, vượt ra khỏi những tiên đoán, tin đồn.

Mong là từ nay, những việc bổ nhiệm giữ được tính cách trang nghiêm, thuần túy tôn giáo và không phải một cuộc đổi chác , mặc cả, đi đêm với chính quyền cộng sản.

Họ đã tha hóa quyền bính giáo hội thành những chức tước đầy tính cách trần thế và vật chất. Cho ai thì người đó được.

Và nếu không giữ được sự thuần khiết tôn giáo để rơi vào những manh múng cá nhân, những toan tính thế tục với danh vọng quyền lợi thì đó là dấu hiệu bi đát nhất của Hội Đồng Giám mục Việt Nam.

Đã có một số linh mục quốc doanh và còn lại 26 giám mục ai sẽ là giám mục quốc doanh?

Tình trạng ấy đã từng xảy ra, đã từng có những vị phá rào, đã từng có vị ra sách mà tiêu biểu là cuốn Bước Đường hành hương, hai tập, dày 710 trang mà ai đọc cũng phải sượng sùng.

Viết như thế là tự hạ thấp mình, tự bôi tro chát chấu vào mặt nhau để họ coi thường tất cả.

Phần người viết bài này, đã quá thấu hiểu những thứ ngôn ngữ hai mặt, ngôn ngữ dấu mặt che đậy hay ngôn ngữ úp úp mở mở trong các Thư Chung.

Đó là những lá thư chung nội dung kêu, rỗng tuếch và vô nghĩa. Nó không phản ánh tâm tư, nguyện vọng của người thiên chúa giáo. Nó cũng không hỗ trợ cho những đòi hỏi nhân danh quyền tự do tín ngưỡng hay quyền lợi của giáo dân thiên chúa giáo.

Họa hiếm tôi mới đọc đọc được lá thư của Hội đồng giám mục gửi đến lãnh đạo chính quyền ngày 14-06-1991 trong đó có một vài điểm lên tiếng tích cực như: không được đồng hóa tổ quốc với xã hội chủ nghĩavà quyền tự do tôn giáo. Nhà nước không trả lời.

Thế là xong, đâu lại vào đấy.

Cho nên tôi rất lấy làm ái ngại cho những ai cứ dùng Thánh Kinh, lời Chúa để biện hộ cho những hành vi của mình.

Chúa có thể không làm chính trị, nhưng việc làm của Hồng Y và thái độ của một số giám mục hiện nay thì không giống Chúa.

Đã đến lúc cần một sự thẳng thắn và minh bạch. Đừng mang Chúa ra làm tấm bình phong che đậy nữa. Các hàng giám mục vẫn núp sau những lá chắn như các thư Mục Vụ, Thư Chung, Ngỏ lời với Giáo Dân. Như mới đây Thư Chung HĐGMVN kỳ 1/2010 gửi Cộng Đồng dân Chúa. Nhưng tôi có cảm tưởng Hội Đồng Giám Mục chọn lựa, cân nhắc từng câu từng chữ mà mục đích chính không phải để gửi cho giáo dân đọc mà để cho cấp lãnh đạo đọc.

Nội dung lá thư chung của Hội đồng giám mục viết được một câu ám chỉ xa xôi thế này:

“Giáo Hội của Chúa ở khắp nơi cũng như trên quê hương đất nước chúng ta vẫn phải đối diện với nhiều khó khăn thử thách xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.”

Viết như thế là viết huề cả làng, năm nào cũng có thể sẽ viết lại như thế và tái diễn những câu chung chung vô tội vạ ấy. Năm sau lại tiếp tục còn những khó khăn, lại còn thử thách. Nhưng không một ai biết đó là khó khăn gì, thử thách gì.

Viết mà né, viết mà ngại úp úp mở mở. Nó thể hiện cái điều tệ hại nhất của con người sống trong chế độ xã hội chủ nghĩa là sự sợ hãi.

Tôi tố cáo lên ở đây những thái độ ngụy tín [mauvaise foi] của những lá thư ấy và thấy thà không có chúng còn hơn.

Thà quý vị im lặng. Có cần tôi nhắc lại câu nói của linh mục Raymond Gravel trích dẫn ở đầu bài viết không?

Phải xóa đi cái đạo đức giả nhân danh những ngôn từ vốn không thực, vốn chỉ là bánh vẽ.

Cái tồi tệ nhất là sau mấy ngày họp hành, nghỉ ngơi của hội đồng giám mục, 26 vị tin tưởng và hân hoan thơi thới ra về vì tưởng rằng đã chu toàn trách nhiệm chủ chiên, đã nói lên được những “bức xúc” của Hội Đồng.

Ai trong số 26 vị lúc ký vào Thư Chung khi ra về còn nhớ được nội dung Lá thư chung ấy viết gì? Tác dụng của những lá thư chung đó đi đến đâu?

Quý vị đã quá ngây thơ khi xử dụng cái double language, ngôn ngữ hai mặt, thứ ngôn ngữ chung chung, ngoại giao, không chết ai cả.

Tôi gọi chúng là thứ “poisonous writing”, tự đánh lừa mình và đánh lừa người khác.

Và lúc nào cũng tự tạo cho mình một ảo tưởng là đã làm trọn sứ mệnh thiên chức được giao phó.

Và nếu chỉ nói giới hạn trong vòng hơn 30 năm qua, Hội đồng Giám mục đã không làm trọn nhiệm vụ chủ chiên của mình. Cây gậy chủ chiên nhiều lúc biến thành cây gậy ăn mày.

Chẳng hạn khi Hồng Y Phạm Minh Mẫn kêu gọi đối thoại và hòa giải với chính quyền cộng sản thì quả thực là tự lừa dối chính mình.

Trong hơn 30 năm qua, bất cứ cá nhân nào, đoàn thể nào hay tôn giáo nào còn hy vọng hão huyền là có thể đối thoại với chính quyền cộng sản là tham gia vào quá trình tự hủy hoại, tự lệ thuộc chính mình và tôn giáo mình.

Tự nó chế độ cộng sản là một điều xấu tự thân mà cố giám mục Phao lồ Lê Đắc Trọng để lại như sau, Communis-mus est intrinsere malus. (Cộng sản bản chất của nó là xấu.)

Câu này và câu nói của TT Nguyễn Văn Thiệu, xin tạc vào bia đá. Không xin ghi tạc vào đầu mỗi người để nhớ. Và tôi xin được phép ghi thêm câu nói của Lm Paul Deslierres, giáo sư linh hướng của 15 vị giám mục hiện nay khi các vị còn ngồi ghế nhà trường Giáo Hoàng Học Viện Piô 10, Đà Lạt mà tôi có nhiều dịp thảo luận với ngài về cộng sản. Tôi đã có lần hỏi ngài điều gì tồi tệ nhất trong một chế độ cộng sản?

Ngài nói văn tắt, đơn sơ và buồn bã là:

“Điều tồi tệ nhất của người cộng sản là họ đã đánh mất cái hồn của một dân tộc.”

Tôi nghĩ trong ba câu kể trên, câu nhận xét của Lm Paul Deslierres là thấm thía và sâu xa nhất. Xin gửi đến Gm Nhơn, Gm Oanh mà cha Paul Deslierres thường nhắc đến các học trò của ngài trong sự hân hoan, hãnh diện và quý mến.

Cho nên ta đừng hy vọng bất cứ điều gì nơi họ (cộng sản). Thưa Hồng y giáo chủ. Thưa các giám mục, thưa 15 vị học trò cha Paul Deslierres.

Hồng Y Mẫn hãy chứng minh là từ hơn 30 năm nay, chỉ kể từ sau 1975, giáo hội đã hòa giải được gì, đã đối thoại được gì với cộng sản, đã đạt được những thỏa thuận gì với cộng sản? Tất cả những thứ mà quý vị nhận được thật sự chỉ là những thứ mà quý vị đã đánh mất vào tay họ nay đòi lại cũng không xong.

Sự mất còn ấy nói sao cho vừa, cho đủ.

Phần tôi chỉ thấy sau 1975, giáo hội thiên chúa giáo như một số tôn giáo khác cũng đã gẫy thành nhiều mảnh, phân tán, chia lìa, và tự mỗi cá nhân tìm cho mình một con đường sống.

Xin ghi lại câu nhận xét phũ phàng ngay từ những ngày đầu tháng 7 năm 1975:
“Thiên chúa giáo Việt Nam trong lòng chế độ cho thấy: Giáo hội miền Nam là giáo hội tư sản, nặng tinh thần thế tục, lòng đạo từ giám mục trở xuống thiếu chuẩn bị trở thành sa sút nên không có lập trường vững chắc như miền Bắc. Khi cộng sản vô đã vội vàng chấp nhận hoan hô, không phải để bảo vệ đức tin hay tinh thần cộng đồng Vatican cho bằng vì sợ khó khăn, sợ mất của, sợ tù đầy và sợ chết.”

Nhận xét này không phải từ cố giám mục Lê Đắc Trọng mà của một giáo dân, một trí thức miền Nam viết cách đây hơn 30 năm.

Đã có một lá thư chung nào bày tỏ công khai, cụ thể về từng trường hợp, hay lên tiếng bênh vực những bất hạnh mà thiên chúa giáo đã phải lãnh chịu từ năm 1975 chưa?

Hay là sự im lặng chịu đựng, nếu không nói là đồng lõa. Một sự im lặng đồng nghĩa với sự “khôn ngoan” của con cái thế gian. Hãy nghe Mai Chí Thọ dằn mặt các giáo sĩ:

“Nếu các quý vị không đi với chúng tôi thì có nghĩa là các vị không thể đoàn kết với chúng tôi, mà cũng có nghĩa là chống chúng tôi, không thể có nghĩa nào khác.”

Thế là quý vị “rét” co rúm lại.

Cái quan hệ giữa hàng giáo phẩm với chính quyền trồi sụt, đôi khi là thứ quan hệ đóng băng bất đắc dĩ và phải qua trung gian bọn tay sai của cộng sản là Ủy Ban Đoàn Kết như Huỳnh Công Minh.

Mỗi lần cái quan hệ đóng băng ấy trở thành bi kịch thì lại chỉ có tiếng nói đơn độc, tiếng nói cá nhân của một tu sĩ lên tiếng.

Đó là những tiếng kêu giữa sa mạc?

Thoạt kỳ thủy là tiếng nói bất khuất của Tổng giám mục Nguyễn Kim Điền.


TGM Nguyễn Kim Điền (1921-1988)
Nguồn: vietcatholic.net
Đó là tiếng nói của lương tri, bất khoan nhượng. Ngày 3-7-1986, tổng giám mục Nguyễn Kim Điền đã gửi thư cho nhà nước cộng sản Hà Nội như sau:

“Tôi sử dụng quyền làm người khi viết thư, đưa bản tin. Tôi thi hành nhiệm vụ tôn giáo giám mục khi gửi thư thăm Giáo Hoàng và cho Ngài một số tin tức tôn giáo trong phạm vi trách nhiệm. Và tôi rất lấy làm vinh dự nhận lãnh tất cả biện pháp xử lý vì tôn giáo, vì nhân quyền. (…) Tù ngục và chết chóc, chủ chăn của anh chị em hôm nay sẵn sàng và vui lòng đón nhận như phần thưởng Chúa ban sau 25 năm làm giám mục và 22 năm được phục vụ giáo phận Huế.” (Thư viết ngày 19-10-1985).

Và căn dặn giáo dân:
“Khi tôi bị bắt rồi thì anh chị em đừng ai tin lời khai nào, dù có kèm tjeo chữ ký mà người ta kể là của chính tôi.”
Không ai bắt các quý vị phải lên tiếng, nhưng đã có một ai có đủ can đảm đứng chung hàng ngũ với Tổng giám mục Nguyễn Kim Điền.

Phải nghĩ lại điều này để tự xét mình.

Chỉ khi nào quý vị không sợ tù ngục, không sợ mất quyền lợi, chỉ khi nào quý vị vị can đảm chấp nhận hy sinh thì tiếng nói của qúy vị mới là tiếng nói của một mục tử tốt lành vì con chiên của mình.

Sau 1975, xin quý vị đừng mau quên. Hãy nhớ lại giáo Hội nói chung của miền Nam gặp biết bao kiếp nạn mặc dầu với một tổng giám mục Nguyễn Văn Bình cởi mở và chấp nhận hợp tác với chính quyền mới.

Bọn họ chỉ lợi dụng tổng giám mục Bình và tiến hành triệt đề xiết chặt, bóp nghẹt thiên chúa giáo.

Chưa đầy một tuần sau 30 tháng tư, 1975, TGM Nguyễn Văn Bình gửi tâm thư kêu gọi giáo dân phải hòa mình vào nhịp sống mới cũng trong tinh thần hòa hợp hòa giải:

“Một trang sử mới đã mở ra cho dân tộc Việt Nam. Đây là một niềm vui chung của cả dân tôc. (…) Hơn mọi lúc, giờ đây người thiên chúa giáo phải hòa mình vào nhịp sống của toàn dân, đi sâu vào lòng dân tộc.”
Gaudium et Spes. Anh em ơi. Hãy vui mừng.

Vui mừng đâu chưa thấy, chỉ thấy tai ương đổ xuống cho giáo hội miền Nam.

• Ngày 1-6-1975 : Trục xuất khâm sứ tòa thánh

• Ngày 15-8-1975, trục xuất giám mục Nguyễn Văn Thuận ra khỏi Saì Gòn, sau đó biệt giam và chuyển ra Bắc, bị tù 13 năm trong đó có 9 năm biệt giam, được thả ngày 23-11-1988.

• Các chủng viện bị đóng cửa đồng loạt, bị giải tán và cơ sở thì bị trưng dụng.

• Cũng ngày thứ sáu 15-8-1975, trục xuất giám mục Paul Seitz, tác giả cuốn Le temps des chiens muets. (Thời của những con chó câm), địa phận Kon Tum ra khỏi Việt Nam. Ai là những con chó câm đây? Có quý vị nào trong Hội đồng giám mục viết được một cuốn sách có tính cách phản kháng?

• Ngày 7-7-1976, trục xuất các linh mục Dòng Tên ra khỏi Việt Nam, đóng cửa Giáo Hoàng Học viện Piô X, trong đó có Lm Paul Delierres, hiện nay 90 tuổi, ở Montréal, Canada. Giáo Hoàng Học viện là nơi đã đào tạo cho Việt Nam 16 giám mục hiện nay (một đã qua đời) đã xuất thân từ đấy.

• Ngày 7-10-1975, tất cả các trường thiên chúa giáo đồng loạt bị tịch thu hoặc “tự hiến” cho nhà nước.

• Ngày 12-2-1976 vụ nhà thờ Vinh Sơn với linh mục Nguyễn Quang Minh.

• Ngày 20-5-1987 đến lượt dòng Đồng Công ở Tam Hà, Thủ Đức.

• Toàn bộ các tuyên úy quân đội bị đi học tập cải tạo và khi được thả về nhiều vị sống vất vả, vất vưởng. Giám mục nào là người trách nhiệm lo cho họ?

• Toàn bộ các dòng nữ tu bị giải thể hoặc không có điều kiện vật chất để tồn tại.

• Nhiều linh mục đã chết trong tù như quý Lm Hoàng Quỳnh, Trần Phương Phi, Nguyễn Văn Vàng, Vũ Khánh Tường.


mạnh dạn chỉ ra những kẻ phản bội đàn chiên
Nguồn: mondes-normands.fr
Mất mát quá nhiều. Nào ai đã lên tiếng, mà nay đòi đối thoại? Đối thoại kiểu gì?

Trong các năm từ 1980-1990 là tiếng nói bất khuất của Nguyễn Ngọc Lan và Chân Tín.

Cuối tháng 11, năm 2000, đến lượt các linh mục Nguyễn Văn Lý, Phạm Văn Lợi vào cuộc với bản Tuyên ngôn về thực trạng thiên chúa giáo tại giáo phận Huế.

Chưa bao giờ có tiếng nói can đảm và quyết liệt của Hội Đồng Giám Mục. Đừng biến Hội đồng giám mục là một hội đồng chuột nói bằng thứ ngôn ngữ poisonous writing.

Hiện nay còn cho thấy chiều hường HĐGM ngày càng trở nên khiếp nhược, mềm yếu và bất lực.

Giáo hội Việt Nam nay bị thử thách không hẳn vì do cộng sản chèn ép, đè nén mà còn do các vị mục tử đã không làm trọn vai trò chủ chiên của mình.

Chỉ sợ họ sẽ không đại diện cho tiếng nói giáo dân mà đại diện cho chính quyền bạo lực cộng sản.

Cầu mong chúng ta có được những mục tử giữ được xứng đáng cây gậy mục tử của mình. Muốn thế, cần nhất loạt lên tiếng, cần mạnh dạn chỉ ra những kẻ phản bội đàn chiên.


© DCVOnline


Share/Save/Bookmark

Thứ Hai, 12 tháng 4, 2010

Tìm hiểu Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm Phần XIII: Văn Cao

Nguồn : Thụy Khuê
Thụy Khuê

Cuộc đời Văn Cao gắn bó với toàn bộ sinh hoạt văn nghệ Việt Nam trước kháng chiến, trong kháng chiến và sau kháng chiến. Văn Cao ở trong cả ba bộ môn: thơ, nhạc, họa, cho nên được giới nghệ thuật ba ngành kính phục. Là tác giả quốc ca, nhưng Văn Cao suốt đời bị chính quyền cộng sản nghi ngờ, tác phẩm bị trù dập, phân biệt đối xử.

Tìm hiểu cuộc đời của Văn Cao cũng là tìm hiểu giai đoạn lịch sử 45-46, mà các văn nghệ sĩ xuất thân từ nhiều ngành nghệ thuật khác nhau, nhiều thành phần chính trị và phi chính trị khác nhau đã theo Việt Minh để tranh đấu cho một lý tưởng: chống Pháp. Những Văn Cao, Phạm Duy, Tạ Tỵ, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Nguyễn Đình Thi, Lưu Hữu Phước,... đã có một thời hoạt động chung vai sát cánh, nhưng rồi chính trị sẽ phân lìa mỗi người một con đường, một chiến tuyến...

Tìm hiểu Văn Cao, tức là tìm hiểu tại sao có sự chia cắt tinh thần và thể xác Việt Nam. Tìm đến nguồn cội phát xuất hận thù: Sự tranh bá đồ vương giữa các đảng phái chính trị trên con đường giành độc lập. Để giải toả cho nhiều thế hệ, thoát khỏi cái nhìn một chiều về lịch sử: lịch sử phân biệt ta-địch.

Tìm hiểu Văn Cao là để tìm đến nguồn cội của vấn đề: Văn hoá Việt nam là một toàn khối, không thể chia đôi. Tâm hồn Việt Nam là một toàn khối, không thể phân liệt.

Toàn khối ấy đã thể hiện trong cuộc kháng chiến từ 1945 đến 1950: Hầu hết các văn nghệ sĩ ở mọi khuynh hướng đều cùng nhau "chung lòng cứu quốc".




Share/Save/Bookmark

Thứ Bảy, 27 tháng 3, 2010

Cái nghèo hiện thực

Nguồn : Talawas
Tác giả: Bắc Phong

nhà thuyền

(ảnh: Lê Hiếu)

bãi Giữa nhà thuyền hơn mười cái
xơ xác nổi trên mặt sông Hồng
tương lai con cái trôi đi được
đục dòng đời như đục dòng sôn
g

thương binh lách luật

(ảnh: LV)

đưa giấy chứng nhận thương binh
công an đành phải nể tình bỏ qua
xe ba bánh của người ta
thuê mình ngồi đó để mà kiếm ăn

ăn mày

(ảnh: Danh Anh)

các phụ lão bơ vơ nghèo khổ
ngồi lê la xó chợ đầu đường
tay chìa nón mắt nhìn cầu khẩn
xin xỏ người ban chút tình thương

bán mía rong

(ảnh: Quang Phùng)

xe đạp chất bán mía rong
còn mắc được võng cho con thơ nằm
kiếm cơm phải chịu nhọc nhằn
ai thèm ăn mía mua ăn mía giùm

nhặt rác

(ảnh: Tuệ Khanh)

chị kiếm sống bằng nghề nhặt rác
cũng đói no đắp đổi qua ngày
nghèo nhưng sống cuộc đời lương thiện
nhếch nhác thì ai nói mặc ai

lấy chồng Hàn

(ảnh: Đ. Quang)

cởi quần cởi áo người xem
người xem vừa ý người đem em về
mẹ cha gả/bán gái quê
vừa ô-sin lại vừa thê thiếp người

© 2010 Bắc Phong

© 2010 talawas


Share/Save/Bookmark

Giải thưởng dành cho sự khác lạ

Nguồn : Diễn đàn


Inrasara


Đây là diễn từ của nhà nghiên cứu INRASARA PHÚ TRỌNG đọc khi nhận giải thưởng văn hoá Phan Châu Trinh ngày 24.3.2010 tại Hà Nội. Giải thưởng văn hoá Phan Châu Trinh 2009 gồm có (mỗi giải thưởng : 15 triệu đồng) :

- Giải thưởng Giáo dục : nhà giáo dục Hồ Ngọc Đại

- Giải thưởng Dịch thuật (2 giải) : dịch giả Phạm Vĩnh Cư (dịch tác phẩm của M. Bakhtin và V. Soloviev), dịch giả Lê Anh Minh (dịch bộ Lịch sử Triết học Trung Hoa của Phùng Hữu Lan)

- Giải thưởng Nghiên cứu : nhà nghiên cứu Inrasara Phú Trọng

- Giải thưởng Việt Nam học : nhà dân tộc học Georges Condominas.

inrasara

INRASARA PHÚ TRỌNG là nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học và nhà nghiên cứu. Tác phẩm đã xuất bản : Văn học Chăm, khái luận, Nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc (1994) ; Văn hoá dân gian Chăm - Ca dao Tục ngữ, Câu đố ; Văn học Chăm -- Trường ca, sưu tầm - nghiên cứu ; Từ điển Chăm-Việt (viết chúng), Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1995 ; Từ điển Việt-Chăm (viết chung), Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1996 ; Văn hoá - Xã hội Chăm, nghiên cứu & đối thoại, tiểu luận ; Tự học tiếng Chăm, Nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc, 2003 ; Từ điển Viêt-Chăm dùng trong nhà trường (viết chúng), Nhà xuất bản Giáo dục, 2004 ; Akayet Sử thi Chăm, Viện Văn hoá Dân gian xuất bản, 2009. ; chủ biên Tagalau, tuyển tập sáng tác - sưu tầm - nghiên cứu Chăm (10 tập, 2000-2009) ; Tủ sách Văn học Chăm (10 tập - đã in 3 tập).

Tôi đến từ miền đất quen mà lạ, ở đó đang tồn tại một nền văn hoá khá khác lạ. Nền văn hoá khác lạ của dân tộc có một lịch sử bi thương. Dân tộc đó ngày nay đang sống khiêm cung tại các tỉnh Miền Trung của đất nước Việt Nam. Sau hai trăm năm bị bỏ quên, nền văn hoá văn minh của dân tộc ấy tưởng đã bị thời gian vùi lấp hay bị chìm khuất dưới đêm mờ lịch sử, nhưng không ‒ nó vẫn còn đó. Nó có mặt, và đợi những bước chân thiện chí đến đánh thức. Đã có nhiều bàn chân như thế dọ dẫm bước tới, hơn thế kỉ qua. Để nền văn hoá kia ngày càng lộ hiện dần khuôn mặt khác lạ độc đáo của nó.
Chính các khác lạ như thế làm nên sự phong phú đa dạng của nền văn hoá.

Đây là phần thưởng dành cho sự đóng góp khác lạ ấy, chắc chắn thế. Hôm nay, tôi xin nói lời tri ân sâu xa nhất đến các vị trong Hội đồng Giải thưởng, những người quan tâm vấn đề tôi quan tâm, biết đến và ghi nhận vài thành tích chập chững đầu tiên của tôi trong những bước khai phá.

*

Bản sắc cùng với truyền thống có lẽ là khái niệm được sử dụng nhiều hơn cả, khi nhắc tới văn hoá, thời gian qua. Nhưng thế nào là bản sắc ? Bản sắc là cái KHÁC của nền văn hoá ‒ dân tộc này so với nền văn hoá ‒ dân tộc kia.

Cái khác biệt rõ nhất giữa Chăm và Việt là ngôn ngữ. Cùng với bốn dân tộc anh em là Churu, Êđê, Giarai và Raglai, tiếng Chăm thuộc ngữ hệ Mã Lai - Đa Đảo, còn Kinh thuộc nhóm Việt - Mường. Tiếng Chăm góp vào kho tàng ngôn ngữ Việt Nam hiện đại không phải là ít. Nhưng cái cốt tuỷ làm nên sự khác biệt lớn chính là văn minh. Ngay từ những năm đầu thế kỉ đầu tiên sau Công nguyên, trong khi Chăm tiếp nhận nền văn minh Ấn Độ thì Đại Việt nhận ảnh hưởng từ Trung Hoa. Trong quá trình lịch sử, qua xung đột, tiếp xúc và tiếp biến văn hoá giữa Champa và Đại Việt, người Chăm đã để lại bao nhiêu dấu tích khắp đồng bằng Bắc Bộ và suốt dải đất miền Trung.

Dòng máu Chăm lưu lại ở Yên Sở, Đắc Sở đến nay vẫn chưa mất dấu. Mai Hắc Đế có cha là người Chăm, mẹ Việt. Rồi từ Thanh Hoá trải suốt tận Khánh Hoà, ai biết được bao nhiêu thế hệ người Việt mang dòng máu Chăm ?

Trong triều đình nhà Lí, không ít vua quan Việt say mê điệu Chiêm Thành âm. Điệu Nam Ai Nam Bình ở Huế, hay Hát Bội ở Bình Định hoặc đi vào trong, ca vọng cổ ở miền Tây Nam bộ,… Tất cả đều mang âm hưởng Chăm.

Lúa Chiêm từ Champa nhập vào Việt Nam từ thế kỉ thứ mười, là chuyện rõ rồi. Người Chăm còn du nhập và thuần hoá các loại cây trồng như khoai, mía, bông ; đã hình thành và truyền lưu các vùng đặc sản như khoai Trà Đoá, mía Quảng Ngãi, bông Điện Bàn,...

Tháp Bảo Thiên ở Hồ Hoàn Kiếm là do tù binh Chăm xây dựng. Tượng Garuda ở chùa Châu Lâm, quận Ba Đình ; Chùa Mía ở xã Đường Lâm, huyện Ba Vì hay Chùa Đinh Xá ở xã Đinh Xá, huyện Kim Bảng hoặc tượng bà chúa Liễu thấp thoáng hình bóng thần Thiên Y trong ngôi đền ở Thanh Hoá hay dấu tích ở vùng Thạch Thất, Hoài Đức phía tây Thăng Long và vùng Bắc Ninh, Bắc Giang của Bà Chúa Lẫm. Cùng bao nhiêu dấu tích khác còn chưa được khảo cổ học động cập tới !

Chúng đã được người Việt thâu thái tạo nên những biến thể độc đáo. Hoà quyện nhưng vẫn giữ được nét khác biệt.

Hôm nay, nhắc đến Chăm, đa số nhắc đến một nền kiến trúc kì vĩ, một nền điêu khắc đặc sắc, hoặc truyền thống ca-múa-nhạc dân tộc, các lễ hội dân gian, dệt thổ cẩm hay chế tác gốm,… Và, không gì khác. Nhưng, dân tộc có bia chữ Phạn, có chữ viết bản địa sớm như Chăm, lẽ nào họ không là gì cả trong văn chương ? Lướt qua mấy công trình văn học sử Việt Nam, đâu là mảnh đất dành cho văn học Chăm ? ‒ Không chương nào, thậm chí không dòng nào. Đó là sự lạ. Vậy, làm sao có thể nói đến là tính toàn vẹn của văn học Việt Nam ?

Văn chương không chủ ở số lượng. Nếu người viết Chăm hiện thời sáng tác thêm một sử thi Akayet Dewa Mưno hay một trường ca Ariya Glơng Anak mới, thì văn chương Chăm chẳng vì thế mà lớn hơn. Ngược lại với Chăm, nếu dân tộc này góp thêm một Truyện Kiều hay một Hồ Xuân Hương mới, nó chẳng có tác động tích cực nào đến phát triển văn học Việt Nam cả !

Vấn đề là cái KHÁC. Vậy Chăm có cái gì khác ?

Không kể truyện cổ hay truyền thuyết, ca dao hay tục ngữ ; cũng chưa kể tới các trường ca triết lí như Ariya nau ikak (Thơ đi buôn) hay các trường ca thế sự như Ariya Ppo Parơng, riêng về hình thức, thể ariya Chăm, như lục bát Việt, linh hoạt trong cấu trúc, nên khả năng sáng tạo rất lớn. Đừng nói ai có trước hay ai vay mượn ai, trong khoảng mù mờ của lịch sử. Do cấu trúc ngôn ngữ khác nhau (đa hay đơn âm tiết là một trong những), nên lối phát triển hai dòng thơ đã có khác biệt nhất định ; từ đó nó làm đa dạng thơ ca tiếng Chăm lẫn tiếng Việt.

Về nội dung đề tài : 250 minh văn Champa được sáng tác từ thế kỉ thứ ba đến thế kỉ thứ mười lăm bằng cả tiếng Phạn lẫn tiếng Chăm cổ là cái được kể đầu tiên. Ba Sử thi ‒ Akayet Chăm có xuất xứ từ/mang âm hưởng Mã Lai / Ấn Độ được viết vào thế kỉ XVI - XVIII, là sáng tác thành văn đặc trưng Chăm, một hiện tượng không có trong văn học sử Việt Nam. Nữa, khác với các dân tộc anh em ở Tây Nguyên như Êđê hay Bana,… sử thi Chăm được văn bản hoá từ thế kỉ mười sáu. Các Trường ca - Ariya trữ tình nổi tiếng mà nội dung mang chở sự đối kháng quyết liệt giữa Hồi giáo – Bà-la-môn giáo dẫn đến đổ vỡ và cái chết, cũng là một dị biệt khác.

Như vậy, bên cạnh kiến trúc và điêu khắc, phong tục tập quán cùng ca-múa-nhạc,… văn chương và ngôn ngữ Chăm ít nhiều đã được biết đến. Còn bao nhiêu mảnh vụn khác nữa của nền văn hoá văn minh phong nhiêu kia đang bị lãng quên ?!


Kính thưa quý vị !

Một chàng trai nhà quê khởi đầu cuộc đi vào lòng văn hoá dân tộc “ từ bàn chân trần trắng, từ con số âm, từ con số không – có lẽ ”. Không miếng tư liệu, không mảnh bằng, túi rỗng không, còn mục tiêu thì xa hun hút. Hơn nửa đời hư, chàng trai ấy hôm nay đứng ở diễn đàn này để nhận phần thưởng cao quý từ quý vị. Tôi nghĩ phần thưởng không chỉ dành cho cá nhân tôi với vài thành tích khiêm tốn đạt được mà hơn thế, nó còn là tiếng nói khích lệ các thế hệ sắp tới. Bằng tri thức mới, nhiệt tâm và nỗ lực mới, họ sẽ đi những bước đi mới, không kém trắc trở và gian nan, với hi vọng làm sống dậy nền văn hoá văn minh kia, như là một cách bảo tồn bản sắc dân tộc, góp phần vào đa dạng hoá nền văn hoá Việt Nam, rộng hơn ‒ văn hoá nhân loại.

Xin cảm ơn và kính chúc quý vị sức khoẻ và hạnh phúc.


Share/Save/Bookmark

Thứ Tư, 17 tháng 3, 2010

Thư gửi National Geographic Society

Nguồn : Diễn đàn

Thư gửi Hội Địa dư Quốc gia (Mĩ)
To The National Geographic Society





Chúng tôi đăng dưới đây bản gốc tiếng Anh (và bản dịch tiếng Việt) bức thư của ba nhà nghiên cứu Ngô Vĩnh Long, Tạ Văn Tài và Vũ Quang Việt gửi Hội Địa dư Quốc gia (Mĩ) yêu cầu họ sửa lại một sai lầm trên bản đồ Đông Nam Á.

March 12, 2010

NATIONAL GEOGRAPHIC SOCIETY
1145 17th St, NW
Washington, D.C 20036-4688
nationalgeographic.com/magazine
ngsforum@ngm.com

Attn: Mr. Chris Johns, Editor in Chief





Dear Mr. Chris Johns,

The new World Political Map (Item 22005C, 2009), published by the National Geographic Society (NGS), shows the Paracel Islands in Southeast Asia (SEA) as belonging to China, in contrary to the 1943 and 1994 maps. This must be an error that puts the NGS as taking side on the disputed status of the archipelago whose legal status has not been arbitrated by any international legal body. In the interest of scholarship and fairness, we ask you to consider corrective actions based on the following facts :

  1. Both China and Vietnam have presented historic evidences of their possession of the Paracels dating back to the 15th century. In the 19th and 20th century, the Paracels were identified as part of Vietnam when it was a protectorate of France. It was returned to South Vietnam in 1954 and the South Vietnamese posted garrisons and exploited natural resources there. In 1974, taking advantage of the American withdrawal from South Vietnam, China attacked the South Vietnamese and took the archipelago over by force. Since then Vietnam never ceded rights to the archipelago and international scholars classed it as “disputed”. There are numerous documents regarding these facts. Due to lack of space, we cite only the following:

    2. China has claimed practically the entire SEA waters bordered by Hainan, Vietnam, Malaysia, Indonesia, Brunei and the Philippines as its maritime territory (see map). It uses Paracels and some islands of the Spratly archipelagos, which it also took over by force in a 1988 bloody invasion, as centerpieces of the claim. It is building a nuclear navy base on Hainan and several airfields on the Paracels and Spratlys in order to patrol this vast expanse of international water; claiming all mineral rights; forbidding the fishing activities of Southeast Asian countries; and controlling the vital sea routes between Singapore and Japan. In fact, it has challenged the presence of the United States in the area by harassing U.S. signals surveillance planes and research ships (e.g., April 1, 2000, incident regarding the US Navy 1EP-3 aircraft and the March 8, 2009, incident regarding the US Navy ship Impeccable.)

bando
Map : From UNCLOS and CIA, published by BBC News

    3. Currently SEA countries and China have submitted papers with the United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS) governing body, outlining competing claims and professing adherence to the convention. While an international effort to mediate and arbitrate the claims appears rational, China insists on dealing with the smaller nations one-on-one, leaving interested parties such as the United States, India, Japan, Russia and other SEA nations out of the talks. The disputed nature of the Paracels and Spratlys is clear and potentially dangerous to world peace.

The NGS publications and maps are widely read and consulted all over the world for references. Your corrective actions for the hopefully inadvertent error will confirm the reputation of the NGS that it does not take side in disputed geopolitical matters.

We request that you return the annotation in National Geographic’s 2006 Atlas of the World, which states that: “Paracels Islands:administered by China, claimed by Vietnam”, which is more accurately representing current situation.

Thank you for your attention.

Sincerely,

Ngo Vinh Long, Ph.D., Professor of Asian Studies and US-Asian Relations, University of Maine.

Tai Van Ta, Ph.D., former Saigon Law School professor and Law lecturer and Research associate, Harvard Law School, Attorney at law.

Vu Quang Viet, Ph.D., former Chief of National Accounts Statistics, United Nations. Author of several papers presented at Workshop “South China Sea Disputes in Vietnamese Context” on November 18, 2009 at the Council of Southeast Asian Center, Yale University.







(bản dịch - của Diễn Đàn)

NATIONAL GEOGRAPHIC SOCIETY

1145 17th St, NW

Washington, D.C 20036-4688

nationalgeographic.com/magazin

ngsforum@ngm.com

Xin lưu ý : Ông Chris Johns, Tổng Biên Tập

Thưa Ông Chris Johns,

Bản đồ Chính Trị Thế Giới (Số 22005C, 2009) mà Hội Địa Dư Quốc Gia (NGS) mới công bố, ghi chú Quần Đảo Paracels trong biển Đông Nam Á (SEA) là thuộc Trung Quốc, khác hẳn với các ghi chú trong các bản đồ NGS phổ biến năm 1943 và 1994. Đây hẳn là một sai lầm khiến cho NGS ngả về một bên trong cuộc tranh chấp về quần đảo này trong lúc chưa hề có bất cứ một cơ quan pháp luật quốc tế nào phán quyết về thẩm quyền. Trong tinh thần học thuật, nghiên cứu và công bằng, chúng tôi yêu cầu NGS điều chỉnh trên cơ sở những sự kiện sau đây :

  1. Cả Trung Quốc và Việt Nam đã đưa ra những bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền trên quần đảo này từ thế kỷ 15. Vào thế kỷ 19 và 20, khi Việt Nam đặt dưới chế độ bảo hộ của nước Pháp thì quần đảo Paracels đã được xác định thuộc lãnh thổ Việt Nam. Năm 1954 quần đảo này được trao cho Nam Việt Nam và Nam Việt Nam đã đặt quân đồn trú và tiến hành khai thác tài nguyên tại đây. Năm 1974, thừa cơ Hoa Kỳ rút khỏi Nam Việt Nam, Trung Quốc đã tấn công và chiếm đóng quần đảo bằng vũ lực. Từ đó tới nay, Việt Nam chưa hề chuyển nhượng chủ quyền của mình, và giới học giả quốc tế đều ghi nhận quần đảo này là đối tượng “tranh chấp”. Có rất nhiều tài liệu liên quan tới những sự kiện này, nhưng vì thiếu chỗ, chúng tôi chỉ đơn cử nhưng tài liệu sau đây :

  1. Trung Quốc đã đưa ra yêu sách theo đó hầu như toàn bộ vùng biển Đông Nam Á nằm giữa Hải Nam, Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Brunei và Philippines (xem bản đồ) là lãnh hải của mình. Họ dùng Paracels và một số hòn đảo thuộc quần đảo Spratly mà họ đã gây đổ máu, cưỡng đoạt năm 1988, làm chủ chốt cho những yêu sách này. Trung Quốc hiện đang xây một căn cứ tàu ngầm hạt nhân tại Hải Nam, cùng nhiều phi trường trên hai quần đảo Paracels và Spratly với mục đích tuần tra vùng biển quốc tế mênh mông này, đòi toàn quyền khai thác khoáng sản, ngăn cấm hoạt động của ngư dân các nước Đông Nam Á ; kiểm soát các tuyến đường hàng hải huyết mạch giữa Singapore và Nhật Bản. Thậm chí, Trung Quốc còn thách đố sự có mặt của Hoa Kỳ tại vùng biển bằng các sự kiện như quấy nhiễu máy bay thám báo và tàu khảo sát của Hải Quân Mỹ (ví dụ, sự kiện phi cơ 1EP-3 bị chiến đấu cơ Trung Quốc va đụng ngày 1 tháng 4 năm 2000 và tầu hải dương học Impeccable bị xua đuổi ngày 8 thảng 3 năm 2009.)

biendong
Yêu sách về lãnh hải của Trung Quốc
theo « đường lưỡi bò » (màu đỏ);
Đường màu xanh : vùng đặc quyền 200 hải lí theo UNCLOS
Nguồn bản đồ : UNCLOS và CIA do BBC công bố

.

3. Hiện nay các nước Đông Nam Á và Trung Quốc đều đã nộp hồ sơ tới cơ quan quản trị Công ước về Luật Biển của Liên Hiệp Quốc (UNCLOS), trình bầy chủ quyền của mình và tuyên bố sẽ tuân thủ Công ước. Mặc dù ai cũng thấy cần phải có một cố gắng dàn xếp và phán xử các tranh chấp này, Trung Quốc lại khăng khăng đòi đàm phán tay đôi với từng nước nhỏ và gạt ra rìa các nước hữu quan như Hoa Kỳ, Ấn Độ, Nhật Bản, Nga và các nước Đông Nam Á khác. Rõ ràng là sự tranh chấp về chủ quyền về quần đảo Paracels và Spratly là rất rắc rối và có cơ nguy cho hòa bình thế giới.

Các ấn phẩm và bản đồ của NGS đã được rất nhiều người đọc và tham khảo khắp thế giới. Chúng tôi hi vọng lỗi ghi chú như đã nói ở trên là vô tình và NGS sẽ có cách chỉnh sửa thích ứng. Sự điều chỉnh này sẽ xác nhận thanh danh của NGS là không thiên vị trong các vấn đề tranh chấp địa chính trị.

Chúng tôi yêu cầu NGS dùng lại ghi chú của Atlas Thế Giới do NGS xuất bản năm 2006 : “ Quần đảo Paracel hiện do Trung Quốc quản trị nhưng Việt Nam đòi chủ quyền ”, phản ánh tương đối đúng tình trạng hiện thời.

Chúng tôi cảm ơn sự chú ý của Ông.

Kính thư,

Ngô Vĩnh Long, Tiến sĩ, Giáo Sư Nghiên cứu Á Châu và Quan hệ Á-Mĩ, Đại học Maine.

Tạ Văn Tài, Tiến sĩ, nguyên giáo sư Đại học Luật khoa Sài Gòn, giảng viên và nghiên cứu viên liên kết Đại học Luật Harvard, Luật sư.

Vũ Quang Việt, Tiến sĩ, nguyên Trưởng ban Thống kê Quốc gia, LHQ, tác giả nhiều bài tham luận về Tranh chấp Biển Đông tại Trung tâm nghiên cứu ĐNA, Yale University, 18 tháng 11, 2009.


Share/Save/Bookmark

Thứ Bảy, 13 tháng 3, 2010

Giới thiệu “Việt Nam trong thế giới của thập kỷ thứ hai thế kỷ XXI” của Nguyễn Trung

Nguồn : Bauxite Việt Nam

Nguyễn Quang A - Nguyễn Trung



Trên tạp chí Thời đại mới số tháng 3 năm 2010, học giả Nguyễn Trung vừa công bố bài viết Việt Nam trong thế giới của thập kỷ thứ hai thế kỷ XXI. Bài viết là một kiến giải mới của tác giả về con đường tất yếu của Việt Nam trên chặng đường mười năm tới. So với Thời cơ vàng viết cách nay 4 năm, nhiều nhận định của tác giả có sự thay đổi căn bản, do tình hình Việt Nam và thế giới lúc này đã biến chuyển khác trước nhiều. Chỉ xin dẫn chứng một thí dụ, đoạn tác giả nói về vấn đề “diễn biến hòa bình” mà hầu như bất kỳ người đương chức đương quyền nào của Đảng và Nhà nước đến nay vẫn phát ngôn chính thức rằng đó là mối đe dọa hàng đầu của các lực lượng thù địch (hiểu ngầm là Âu Mỹ) đối với nước ta: “Nếu các cường quốc phương Tây lúc này có quốc sách lật đổ hay diễn biến hòa bình để hạ gục nước ta, tại sao một số nước trong các nước phương Tây lại đồng ý nâng quan hệ hợp tác với nước ta lên tầm đối tác chiến lược? Các nước phát triển từ hàng chục năm nay liên tục dành cho nước ta những khoản viện trợ ODA không nhỏ, nguồn vốn tài trợ này góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội nước ta. Hàng năm Chính phủ ta tiếp tục vận động các nước duy trì nguồn tài trợ này. Hội nghị các nước tài trợ ODA tháng 12-2009 đã quyết định viện trợ ODA cho Việt Nam 8 tỷ USD, mức cao nhất từ trước đến nay – trong lúc bản thân những nước này chưa ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay. Tại hội nghị này các nước nhấn mạnh: muốn phía Việt Nam xử nghiêm khắc vụ Huỳnh Ngọc Sỹ và đẩy mạnh chống tham nhũng nói chung, đình chỉ một số vụ việc mất dân chủ và nhân quyền… Giữa lúc nước ta đang nỗ lực khắc phục khủng hoảng kinh tế, sự giúp đỡ này càng có ý nghĩa. Có thể coi những đòi hỏi này của các nước viện trợ là diễn biến hòa bình chống đối hay lật đổ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam? Còn chủ trương của trong nước dùng vấn đề “diễn biến hòa bình” để giải quyết những vấn đề trong nội bộ nước ta lại là câu chuyện hoàn toàn khác.
Sự thực có một thứ diễn biến hòa bình khác nhất thiết phải vô hiệu hóa, đó là sự câu kết giữa tham nhũng, tha hóa ở trong nước và bàn tay can thiệp của quyền lực mềm từ bên ngoài. Song cho đến nay chưa được đặt ra yêu cầu chống sự diễn biến nguy hiểm này. Những dự án kinh tế lớn công nghệ lạc hậu có vốn đầu tư nước ngoài được hình thành thông qua những quá trình đấu thầu méo mó, tình trạng buôn lậu, xuất khẩu lậu những khối lượng hàng hóa lớn và nhiều sự việc nghiêm trọng khác đã xảy ra… đòi hỏi phải ngăn ngừa sự lũng đoạn nguy hiểm này”.
Đại loại, ý kiến của người viết đặt ra nhiều vấn đề có sức lay động nhận thức của mỗi chúng ta là như vậy.
Tuy nhiên, bản luận văn của học giả Nguyễn Trung lại có đặc điểm là rất dài, có lẽ muốn giải quyết hết mọi vấn đề, nhằm phục vụ giới nghiên cứu lý thuyết chính trị học là chính, trong khi mục tiêu của BVN lại nhắm nhiều vào đại chúng và muốn kết hợp lý thuyết với thực tiễn một cách thật sáng, gọn. Vì vậy, chúng tôi đã nhờ TS Nguyễn Quang A viết cho một bài giới thiệu bản luận văn đó để những bạn đọc không có thì giờ đọc hết, vẫn có thể nắm được những điều cốt tủy.
Dưới đây, xin trân trọng giới thiệu bài viết của TS Nguyễn Quang A cùng với 2 chương III và IV trích từ nguyên văn bài Nguyễn Trung. Nếu những ai muốn đọc toàn bài cũng rất dễ dàng, xin cứ bấm vào đường link ở dưới cùng, đã được chuyển đổi sang dạng pdf.
Bauxite Việt Nam



Share/Save/Bookmark

Chủ Nhật, 7 tháng 3, 2010

Thông báo tạm dừng hoạt động 15 ngày của diễn đàn X-Cafe

Nguồn : Dân Luận
Tinman

Kính gửi toàn thể các thành viên và bạn đọc diễn đàn X-Cafevn,

Giai đoạn từ ngày 19/1/2010 cho đến hiện tại một trong những giai đoạn khó khăn nhất mà diễn đàn X-Cafe đã trải qua kể từ ngày thành lập đến nay. Diễn đàn đã bị tin tặc tấn công bằng DDoS nặng từ ngày 19/1/2010, trùng vào thời điểm chính quyền trong nước xét xử và tuyên án các nhà dân chủ ở Việt Nam. Điều này cho thấy đây là một hành động có hệ thống và có chỉ đạo hẳn hoi vì nó được kết hợp với sự việc các ISP ở Việt Nam đồng loạt dở bỏ firewall để tin tặc có thể dùng nhiều máy trong nước tấn công vào máy chủ của diễn đàn. Đây là một tấn công kéo dài liên tục trong nhiều ngày với một hệ thống botnet hỗ trợ với gần 40 nghìn máy tham gia. Vào thời điểm bị tấn công mạnh nhất, toàn bộ đường truyền của máy chủ hoàn toàn bị bão hoà.

Các thành viên kỹ thuật của diễn đàn đã phải làm việc cật lực và liên tục trong nhiều ngày để chống trả các đợt tấn công này và họ đã giữ vững được hoạt động của diễn đàn trong suốt giai đoạn vừa qua.

Sau khi các hành động DDoS thất bại, tin tặc lại tiến hành thêm một bước tấn công khác. Ngày Chủ nhật 28/2/2010, tin tặc giả dạng làm thành viên diễn đàn và đăng link có virus gài bẫy một thành viên của Ban Quản trị và đã lấy được thông tin đăng nhập vào phần quản trị của diễn đàn (Admin Control Panel). Sau nhiều giờ thâm nhập, tin tặc đã tải được hồ sơ của hơn 19 nghìn thành viên trong đó có hơn 7 nghìn thành viên đang sinh sống tại Việt Nam. Sau đấy tin tặc lại dùng những dữ liệu ăn cắp được để gửi email thông báo diễn đàn sẽ đóng cửa hoặc doạ dẫm các thành viên trong nước. Và tồi tệ hơn, tin tặc đã đăng toàn bộ thông tin của thành viên của diễn đàn tại một website khác nhằm gây hoang mang, sợ hãi cho các thành viên ở trong nước.

Qua phân tích của ban kỹ thuật X-Cafe, vụ đột nhập ngày 28/2 là một hành động có tổ chức vì có nhiều người tham gia từ các máy tính xuất phát từ Việt Nam và trong số máy tính được sử dụng, có cả máy tính có địa chỉ xuất phát từ Trung Quốc. Thông qua những phương pháp mà tin tặc sử dụng để viết thông báo giả mạo, nội dung cùng lối trình bày thông báo, chúng tôi tin rằng đây chính là nhóm tin tặc đã thực hiện các hành động thâm nhập tương tự đến các diễn đàn talawas, Bauxitvn và các blog cá nhân trong nước trong thời gian qua. Chúng tôi đã thu thập toàn bộ những chứng cứ liên quan đến vụ việc này và đã điền hồ sơ truy tố những hành động phạm pháp này mang tính quốc tế này với cơ quan IC3 trực thuộc FBI của Hoa Kỳ.

Ban quản trị diễn đàn X-Cafe rất hối tiếc về sự sơ xuất vô tình mang lại hậu quả trầm trọng của mình vừa qua. Chúng tôi xin gửi lời xin lỗi chân thành đến với tất cả những thành viên bị ảnh hưởng bởi sự việc này, đặc biệt là những thành viên trong nước. Chúng tôi đã đánh mất sự tin tưởng của các bạn. Dù giải thích như thế nào chăng nữa, việc này sẽ ít hoặc nhiều ảnh hưởng đến các bạn, nhất là khi các bạn đang phải sống trong một thể chế mà sự khủng bố tinh thần được dùng như một dụng cụ pháp trị.

Điều đáng buồn là chúng ta đang sống trong thế kỷ 21 nhưng con người lại có thể bị đe doạ, bịt miệng, thậm chí bị trừng phạt bởi vì họ muốn nói lên sự thật hay bày tỏ ý kiến của mình một cách ôn hoà. Những điều mà ngay cả khi đất nước còn bị thực dân, phong kiến đô hộ hay một nửa phần đất nước còn bị "xâm lược" cũng không hề xảy ra. Sự việc đáng tiếc này sẻ không bao giờ xảy ra ở một đất nước có tự do ngôn luận và có một nền dân chủ thật sự và nó chứng tỏ rằng ở Việt Nam hoàn toàn không có tự do ngôn luận và hoàn toàn không có quyền dân chủ như giới lãnh đạo và chính quyền Việt Nam từng tuyên bố.

Sự việc này đã tác động mạnh đến các thành viên ban quản trị diễn đàn X-cafe và đã làm chúng tôi mệt mỏi và thậm chí muốn rút lui ra khỏi cuộc chiến không cân sức này. Tuy nhiên khi cân nhắc lại những gì xảy ra trong xã hội Việt Nam hiện nay, chúng tôi thật sự thấy mình cần phải tiếp tục vượt qua các khó khăn này, tạo ra và đảm bảo một môi trường tự do ngôn luận không bị quản chế bởi bất kỳ một thế lực chính trị nào để mỗi thành viên của diễn đàn được bày tỏ quan điểm của mình nhằm đòi hỏi những quyền chính đáng của một công dân bao gồm quyền tự do ngôn luận và tự do bày tỏ ý kiến của mình. Từ những động lực này, BQT quyết tâm tiếp tục duy trì hoạt động của diễn đàn và cố gắng sẻ tiếp tục phát triển để đem lại nhiều lợi ích hơn cho xã hội Việt Nam khi sự suy thoái về đạo đức, lương tâm ngày càng trầm trọng hơn.

Để có thể thực hiện được quyết tâm này, ban quản trị diễn đàn X-Cafe quyết định sẽ tạm đóng cửa diễn dàn vào sáng ngày thứ Hai 8/3/2010 (giờ VN) cho đến ngày 22/3/2010 để bảo trì, nâng cấp và tạo những thay đổi cần thiết. Trong giai đoạn tạm ngưng hoạt động này, tất cả những cập nhật, thông tin và trao đổi của thành viên có thể tiếp tục thực hiện tại trang Facebook: http://www.facebook.com/pages/X-Cafevn/329192838497 và Wordpress Blog: http://xcafevietnam.wordpress.com/

Chúng tôi hy vọng sau thời gian đóng cửa và nâng cấp, diễn đàn sẽ được gặp lại toàn bộ các bạn. Chúng tôi sẽ cố gắng tạo một môi trường sinh hoạt an toàn hơn cho mọi thành viên để chúng ta có thể tiếp tục tham gia sinh hoạt, thảo luận hay trao đổi ý kiến và kinh nghiệm theo tinh thần "tôn trọng sự khác biệt" của diễn đàn.

Đại diện ban quản trị diễn đàn X-Cafe,
Tinman


Share/Save/Bookmark

Thứ Tư, 3 tháng 3, 2010

Nhân Văn Giai Phẩm phần XII : Hoàng Cầm

Nguồn : RFI
Thụy Khuê

Về Kinh Bắc là bản hùng ca bi tráng, vào đêm. Đêm của người thất trận, nhưng không thoái gót. Về Kinh Bắc là về đất mẹ Luy Lâu (Kinh Bắc), kinh đô văn hoá đầu tiên của nước Việt, để dâng sớ kể tội "triều đình" đàn áp tư tưởng, càn quét nhân tài. Nội dung ấy được giấu trong những câu thơ kín đáo, rồi lại đảo lộn thứ tự như sấm Trạng Trình. Đọc qua không thể hiểu. Hoàng Cầm trả lời mọi thanh trừng bức bách. Nhưng kẻ ra lệnh bắt Hoàng Cầm đã hiểu.

Muốn tìm hiểu một giai đoạn nào của Lịch Sử lớn, không thể không tìm hiểu lịch sử nhỏ của những người đã đóng góp tích cực vào sự tiến hoá hay thoái hoá của giai đoạn này. Trong thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm, tiểu sử những người có công tiêu diệt phong trào NVGP được phóng đại tô màu, vinh thăng ca ngợi. Còn lịch sử những người có công đầu trong kháng chiến chống Pháp, nhưng sau này trở thành những thành viên NVGP, đã bị xoá, tẩy, bôi nhọ, tác phẩm bị loại trừ. Hoàng Cầm là một khuôn mặt điển hình.




Share/Save/Bookmark

Thứ Ba, 2 tháng 3, 2010

Tin và không tin

Nguồn : DCVOnline
DCVOnline: Ngày nay một trong những ưu tư của bất cứ người Việt Nam nào còn quan tâm đến tình trạng đất nước là sự thờ ơ của giới trẻ đối với thời cuộc. Khi nhìn vào lối sống của tuổi trẻ trong nước người ta thường bắt gặp các hình ảnh ăn chơi, nhậu nhẹt, đạo đức suy đồi. Thanh thiếu niên Việt Nam ngày nay hình như am tường về tình hình các đội bóng đá bên Âu châu hay Nam Mỹ hơn là các vấn đề bức thiết của đất nước.

Thêm vào đó, sự đàn áp, khủng bố những người yêu nước, nhất là trong giới thanh niên, của nhà cầm quyền cộng sản như một tảng băng đè nặng, cố tình làm nguội đi bầu máu nóng của tuổi trẻ.

Tuy vậy, bên dưới tảng băng kia những làn sóng ngầm vẫn âm ỉ. Vẫn còn những người trẻ lớn lên trong lòng chế độ biết nhận thức được đâu là lẽ phải. Họ biết và biết rất nhiều hơn người ta tưởng nhưng họ chưa có điều kiện để nói.

Điều này được chứng minh qua bài viết của một blogger còn rất trẻ, sinh ra và lớn lên trong nước, hiện đang sống tại Na Uy. Bài viết này của tác giả đã được nhiều website đăng tải trong thời gian gần đây. Tin rằng nội dung bài viết có nhiều điểm cần được chia sẻ với các bạn trẻ trong và ngoài nước, DCVOnline xin đăng lại nhằm giới thiệu cùng bạn đọc và xin cám ơn tác giả, blogger Joyce Anne Nguyễn.

Tin và không tin trong xã hội Việt Nam


Joyce Anne Nguyễn

Khi viết bài này trong chuyến tàu đi từ Prague đến Warsaw, tôi không có hy vọng sẽ tạo nên một sự thay đổi về quan điểm của người đọc. Không hy vọng lớp trẻ Việt Nam đang sống tại Việt Nam có thể có cách nhìn khác hơn về hệ thống xã hội Việt Nam, đơn thuần là tôi viết chỉ để viết, viết quan điểm và cách nhìn của tôi. Tôi đã cố gắng để không bị xem là phiến diện nhưng quan điểm cần rõ ràng hoặc bên này hoặc bên nọ, không có thói quen đứng dạng chân cùng lúc hai quan điểm.

Không hẳn mọi điều ta cần phải tin đều là sự thật và chân lý. Cũng có khi đó chỉ là tuyên truyền. Tôi không tin vào điều tôi nghe và đọc, tôi không tin vào những lời người khác nói và ép buộc tôi phải nghe. Tôi chỉ tin vào những gì tôi đã tận mắt thấy, quan sát và trải nghiệm. Từ thực tế tôi tiếp nhận nhiều luồng và lối nghĩ khác nhau để rút ra kết luận riêng của mình. Dù là tuyên truyền hay không, đó cũng vẫn là cách nhìn và cách nói của những người khác, không phải của tôi.


Joyce Anne Nguyễn trên tháp Eiffel (Paris)
Nguồn: OntheNet

Tôi sinh ra ở Sài Gòn, và lớn lên ở Sài Gòn. Và tôi rời Sài Gòn ngày 22/04/2009 (đến Na Uy ngày 23/4). Tương đối đủ để hiểu về cuộc sống của con người tại Việt Nam, để thấy những ngóc ngách khía cạnh khác nhau của xã hội Việt Nam mà nhiều người Việt Nam sinh tại nước ngoài chỉ về một vài lần không thể thấy hết được. Trong cách nghĩ của tôi, sống trong một thời gian dài và ghé thăm vài lần, mỗi lần vài tuần là hai việc hoàn toàn khác nhau. Những người sống trong nước có thể không biết nhiều về chính trị nhưng thấy rõ những mặt xấu và hạn chế trong môi trường mình đang sống.

Ở đây, tôi nói về việc tin và không tin trong xã hội Việt Nam.


Share/Save/Bookmark
Related Posts with Thumbnails