Thứ Tư, 29 tháng 7, 2009

Hàng trăm ngàn tín đồ Công giáo đến nhà thờ cầu nguyện cho giáo dân Quảng Bình hiện bị bắt giữ

Nguồn : RFI
Đức Tâm
Giáo dân hạt Đồng Tháp thuộc giáo phận Vinh tập hợp để cầu nguyện cho giáo xứ Tam Tòa ngày 27/07/2009(Ảnh : vietcatholic)

Giáo dân hạt Đồng Tháp thuộc giáo phận Vinh tập hợp để cầu nguyện cho giáo xứ Tam Tòa ngày 27/07/2009
(Ảnh : vietcatholic)

Trong hai ngày 26 và 27/07/2009, hàng trăm ngàn giáo dân tại Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình đã đổ đến các nhà thờ để thắp nến, cầu nguyện cho các giáo dân xứ Tam Tòa đang bị công an bắt giữ sau vụ xô xát ngày 20/07, trên mảnh đất thuộc nhà thờ Tam Tòa cũ, ở Quảng Bình.

Linh mục Phạm Đình Phùng, thư ký tòa Giám mục giáo phận Vinh cho biết là ngay tối qua, 27/07, tại Sài Gòn, khoảng 2000 giáo dân cũng thắp nến cầu nguyện, ủng hộ.

Trong thông cáo số ba, phát đi ngày 27/07/2009, tòa Giám mục giáo phận Vinh còn tố cáo là ngày hôm qua, xin trích, « một lực lượng khoảng 3000 người trong đó gồm có công an, cảnh sát, dân quân và dân địa phương, đã dùng vũ lực ngăn cản, đánh đập một số giáo dân không cho tới nền nhà thờ Tam Tòa ». Có ba người bị đánh, trong đó có hai mẹ con một giáo dân. Thông cáo còn cho biết là ngày 26/07, lại có thêm ba người bị bắt.

Nghiêm trọng hơn cả là việc ngày hôm qua, cha Phao lồ Nguyễn Đình Phú và ba giáo dân thuộc giáo hạt Kỳ Anh đã bị những một nhóm « côn đồ », từ trong nguyên văn, đánh bị thương. Ngay sau đó, cha Phêro Nguyễn Thế Bình, quản xứ Hà Lời, khi đến thăm cha Phú, lại cũng bị hành hung.

Trả lời phỏng vấn của RFI, linh mục Phạm Đình Phùng cho biết thêm thông tin cụ thể về việc này :

Linh Mục Phạm Đình Phùng_Giáo phận Vinh_20090728


Share/Save/Bookmark

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2009

Tọa đàm “Biển Đông và hải đảo Việt Nam” đã… diễn ra!

Nguồn : Bauxite Việt Nam

"Chúng ta đang ở trong giai đoạn rất khó khăn và nguy hiểm của lịch sử. Chính vì vậy, để vượt qua giai đoạn sinh tử này, cần sự đồng thuận của cả dân tộc để đối phó với nguy cơ đến từ nơi khác. Đặc biệt, cần nâng cao nội lực khi mà chúng ta đang quá thiếu những chuyên viên, luật sư chuyên ngành về luật pháp quốc tế và làm sao để vận dụng được lớp trí thức hải ngoại. Đồng thời, xây dựng lực lượng trẻ kế thừa trong công cuộc đấu tranh mà chúng ta biết có thể sẽ còn kéo dài hàng chục năm, hàng trăm năm nữa”

LM Nguyễn Thái Hợp

Tọa đàm “Biển Đông và hải đảo Việt Nam” đã… diễn ra!


Quả đúng như vậy, khi đặt tít cho bài tường thuật… muộn này, chúng tôi muốn chuyển đến bạn đọc một “hiện thực khách quan”: cuối cùng, thì Tọa đàm khoa học “Biển Đông và hải đảo Việt Nam” do CLB trí thức Công giáo Phaolô Nguyễn Văn Bình (P.NVB) và NXB Tri Thức phối hợp thực hiện cũng đã được (phép) diễn ra và tạo ra những tác động tích cực đến nhiều phía, giới, “các bên liên quan”. Chúng ta hẳn biết rằng bản thân việc “diễn ra được” cũng đã là một thành công!?

Trước giờ khai mạc

Các công tác gọi là “chuẩn bị” đeo đẳng và ám ảnh ban tổ chức (BTC) cho đến những phút cuối trước giờ “bóng lăn”. Hơn 1 tuần trước đó, tất cả các tham luận trình bày trong chương trình được yêu cầu phải gửi ngay đến các cơ quan chức năng… Cùng lúc đó, 1 trong 3 đơn vị dự kiến đồng tổ chức lúc ban đầu “bỏ cuộc” bằng cách ứng khẩu “không liên quan”. Chỉ 2 ngày trước khi tọa đàm diễn ra, những người tổ chức lại phải nhận thông báo từ Tòa Tổng giám mục TP.HCM, vì lý do “mục vụ đột xuất”, Đức Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn không thể khai mạc cũng như bế mạc tọa đàm. Địa điểm tổ chức phiên thứ ba và cuộc triển lãm hơn 70 bản đồ cổ liên quan đến Biển Đông, thềm lục địa Việt Nam của Nhà nghiên cứu (NNC) Nguyễn Đình Đầu cũng phải gấp rút dời khỏi số 180 Nguyễn Đình Chiểu (Q.3, TP.HCM). Bên ngoài, râm ran nhiều nguồi tin cho rằng tọa đàm sẽ bị hủy. Từ đây, không khí căng thẳng đè nặng lên “các bên”. Tình hình không mấy khả quan, hết đột xuất này đến đột xuất nọ, cứ bám lấy BTC cho đến khi kết thúc 2 ngày tọa đàm…

Khai cuộc

14 giờ 30 phút, 24/7/2009, phòng họp Phạm Long Tiên của Trung tâm Phaolô Nguyễn Văn Bình (số 43 Nguyễn Thông, Q.3, TP.HCM) vốn có sức chứa chỉ non 100 chỗ đã chật cứng. Khá đông người còn phải đứng bên ngoài. BTC phải yêu cầu mọi người di chuyển sát lên bàn chủ tọa để tận dụng chỗ trống ở phía sau, kê thêm ghế… thế nhưng nhiều người vẫn phải tham dự phiên tọa đàm đầu tiên trong tư thế đứng.

Không khí háo hức được xoa dịu khi mãi gần 15 giờ, tiếng micro mới sột soạt lời mở đầu của người dẫn chương trình – nhà báo Vương Đình Chữ. Lời cáo lỗi về hai sự vắng mặt đầu tiên. Đức Hồng y Mẫn như chúng ta đã biết và TS Chu Hảo – Giám đốc NXB Tri Thức – điện thoại xin lỗi không thể tham dự vì mới từ Paris về đến Hà Nội vào buổi trưa cùng ngày.

Phát biểu khai mạc, chủ nhiệm CLB P.NVB Linh mục (LM) Nguyễn Thái Hợp khởi đầu bằng nhận định: “Biển Đông đang nổi sóng và nằm trong tầm ngắm của tất cả các nước trong khu vực. Một số nước đã chuẩn bị kỹ lưỡng cho việc tranh chấp chủ quyền này từ khoảng nửa thế kỷ nay và Việt Nam là nước ít nghiên cứu về chủ quyền của mình nhất”. Ông dẫn lại lời khẳng định của Chủ tịch Nguyễn Minh Triết trong cuộc gặp Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, ngày 09/4/2009, như sau: “Đảng, Nhà nước đánh giá rất cao vai trò của các nhà khoa học (đối với vấn đề tranh chấp ở Biển Đông). Đây không phải là vấn đề mang tính lý luận, mà đây là nhận thức, là quan điểm”. LM Hợp khai triển: “Trong tinh thần và ý hướng đóng góp đó, CLB P.NVB cùng NXB Tri Thức tổ chức tọa đàm khoa học này với mong muốn vừa thể hiện mối quan tâm lớn của dư luận xã hội và của tất cả người Việt Nam trong cũng như ngoài nước, vừa góp phần cung cấp một số chứng cứ lịch sử và khoa học. Ước nguyện góp phần nhỏ của mình để làm sáng tỏ chủ quyền Việt Nam ở Biển Đông. Chúng tôi hy vọng Biển Đông & hải đảo Việt Nam sẽ là một cơ hội tốt để đoàn kết tất cả người Việt trong cũng như ngoài nước, vì tiền đồ dân tộc”.

Phiên 1 – Không khí nóng

Sau lời khai mạc của LM chủ nhiệm, cử tọa sốt ruột chờ đợi các tham luận trong phiên đầu tiên do Luật sư (LS) Nguyễn Ngọc Bích làm chủ tọa.

1. Khai pháo là đề tài nghe rất ca dao Từ Trường Sơn Đông đến Song Tử Tây của LM Thiện Cẩm. Từ bỏ phong cách “oanh kích tự do” quen thuộc, ông kể về hoàn cảnh và tình cảm của quân dân ta tại Trường Sa trong chuyến thăm vừa qua với từng câu chữ bám sát bản tham luận. Ông liên tưởng dãy Hoàng Liên Sơn với quần đảo Hoàng Sa, dãy Trường Sơn với quần đảo Trường Sa như một sự ấn định tuyệt vời của Tạo hóa để đưa ra cái nhìn về đất nước trải dài từ núi trên đất liền tới đảo ở trên biển.

Nhiều “ca” cáo lỗi bất ngờ!?

Ngoài sự vắng mặt của Đức Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, TS Chu Hảo và LS Phan Đăng Thanh vào phút chót như đã nêu trong bài, còn có sự rút lui từ sớm của Nhà sử học Dương Trung Quốc. Muộn hơn, trước khai mạc chừng 5 ngày, NNC Phạm Hoàng Quân cũng thông báo không thể tham dự. Và theo sắp xếp, phiên 2 sẽ do ThS Nguyễn Thu Vân chủ tọa. Giờ chót, LS Phương phải thay thế bà Vân. Bà cho biết không thể tham dự được vì lý do sức khỏe yếu.

2. Máy lạnh của khán phòng hoạt động hết công suất không ngăn nổi “sức nóng” từ cử tọa và sức nóng ấy có dịp lan tỏa mạnh hơn khi tọa đàm bước vào phần trình bày thẳng thắn của nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc về Chủ quyền Biển Đông và Hải đảo. Qua phân tích các cứ liệu lịch sử, ông Phúc cho thấy chủ quyền hợp pháp, không chối cãi của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các nước khác trong khu vực hoàn toàn không có bằng chứng thuyết phục nào cho chủ quyền của họ trên các quần đảo này. Ông Phúc khẳng khái: “Những luận cứ, luận chứng mà chính phủ Trung Quốc đưa ra trong hai vấn đề quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam chỉ có thể lừa dối một số người, chứ không thể phủ nhận được các văn kiện của Bản tuyên cáo Cairo, Thỏa ước Yalta, Bản tuyên ngôn Potsdam và sự thật lịch sử”. Tiếng vỗ tay vang lên. Nhiều điểm “nhạy cảm” khác cũng được ông Phúc khéo léo đề cập và những tràng pháo tay lại có dịp vang lên. Không khí càng nóng hơn… Điều ông Phúc đặc biệt tâm huyết là làm sao Việt Nam học được cách giải quyết thuận cả đôi đàng của Malaysia và Singapore trong vụ tranh chấp các đảo Pedra Blanca (còn gọi là Pulau Batu Puteh), Middle Rocks và South Ledge kéo dài suốt gần 30 năm. Ông đề nghị nên cử chuyên gia đi học hỏi kinh nghiệm về vụ kiện này.

3. ThS Hoàng Việt với Đường lưỡi bò” trên Biển Đông và Luật Quốc tế, đã cho thấy tương quan lực lượng giữa ta và người láng giềng phương Bắc, chỉ mới xét ở góc độ nghiên cứu khoa học thôi, là rất chênh lệch: “Trung Quốc hơn ta là họ có giáo sư ở hầu hết các đại học lớn trên thế giới”. Ông cảnh giác: “Hiện họ cũng đã có chân thẩm phán tại cả hai Tòa Công lý quốc tế và Tòa Quốc tế về luật biển”; và bùi ngùi cho biết số người nghiên cứu về “đường lưỡi bò” của Việt Nam đếm chưa hết năm đầu ngón tay.

Trước giờ giải lao, chủ tọa đoàn “vấp” phải câu hỏi mà ai cũng thấy nó thuộc loại “câu hỏi tu từ” kinh điển đề cập đến Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng (1958). Ông Phúc trả lời bằng cách “khuyên” mọi người nên xem lại các hiệp định Geneve 1954 và Paris 1973. Ông Việt thì nói thêm rằng trong công hàm đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng không hề khẳng định điều gì liên quan đến Hoàng Sa – Trường Sa cả…

Phiên 2 – Ấm lại

Khán phòng sau giờ giải lao vẫn thiếu chỗ, điều hiếm thấy ở hầu hết các tọa đàm, hội thảo hiện nay. Lực lượng chìm nổi, “quay phim tư liệu” dường như được tăng cường thêm sau khi có sự cố xuất hiện 3 thanh niên mặc áo trắng (ảnh) mang dòng chữ “Paracel and Spratlys belong to Vietnam forever!” Trong lúc LS Nguyễn Văn Phương – chủ tọa phiên thứ hai – đang chuẩn bị cho tọa đàm tiếp tục thì các thanh niên này bị mời ra ngoài theo lệnh của cơ quan chức năng. Một người thuộc bậc niên trưởng trong BTC đã ôm những người trẻ này vào lòng với thái độ kính trọng, xin các em thông cảm cho BTC, cho công cuộc chung. Các em đã khóc và nhượng bộ cởi áo. Lập tức các chiếc áo trắng bị tịch thu bởi những người trước đó có bộ dạng bình thường chỉ là những tham dự viên.

4. Nước mắt của người trẻ cùng với chủ đề Vai trò của Nhà Nguyễn đối với Biển Đông của nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng, dường như làm cho không khí ấm lại. Đây là đề tài trích từ cuốn Hoàng Sa – Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam nhìn từ Công pháp Quốc tế của ông vừa nối bản gần đây. Ông gây cho cử tọa những tràng cười sảng khoái trong cách pha trò đặc sệt Quảng Nam khi “đá” đến các vấn đề khó hiểu từ phía nhà nước xung quanh chuyện phát hành cuốn sách. Ông Thắng kết luận và giúp mọi người điềm tĩnh hơn: “Chúng ta phải dựa trên cơ sở pháp lý, luật pháp quốc tế chứ không thể lập luận trên ý thức hệ được…”

5. Đồng ý với các diễn giả trước về tình trạng học thuật, TS Nguyễn Nhã nghẹn ngào: “Trong khi Trung Quốc gửi hàng trăm người đi khắp nơi để nghiên cứu về vấn đề Nam Hải của họ thì Việt Nam hầu như không có hành động nào mang tính chiến lược về Biển Đông”.

Tham luận mang tên Quan điểm của Việt Nam về Hoàng Sa và Trường Sa của ông tỏ rõ ưu tư làm cách nào để phổ biến rộng rãi tài liệu của chúng ta ra nhiều ngôn ngữ cho toàn thế giới biết?

Đồng thời, bằng tất cả thái độ chân thành, ông Nhã khiến nhiều người bật dậy khỏi ghế tán thưởng: “Vấn đề đối phó với Hoàng Sa – Trường Sa theo tôi là thử thách vô cùng to lớn trong thiên niên kỷ này. Bất cứ một hành động nào, làm cho thế nước ta suy là có tội. Vậy chúng ta phải làm thế nào để có sự đồng thuận, nối kết trong cũng như ngoài, nhà nước cũng như nhân dân… Nếu không thì hình ảnh của Tân Cương, Tây Tạng không phải là hình ảnh quá xa vời!”

Cử tọa, diễn giả và cả BTC hoàn toàn làm ngơ trước quỹ thời gian hạn hẹp, tất cả vẫn muốn kéo dài thêm. Đồng hồ chỉ gần 18 giờ 30 phút, LS Phương mới có thể kết thúc phiên 2 cũng như ngày làm việc đầu tiên của tọa đàm bằng kết luận rút trong tham luận của TS Nhã: “Quan điểm chủ yếu của những nhà nghiên cứu Việt Nam về vấn đề chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa là Việt Nam đã chiếm hữu thật sự, hoà bình và liên tục. Chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo ấy là không có gì để tranh cãi”.

Phiên 3 – Nỗi niềm

Sau một đêm, sáng 25/7/2009, LM Nguyễn Thái Hợp – chủ tọa phiên 3 – tiếp tục xin lỗi vì có sự cáo lui ngay trước giờ bắt đầu của LS TS Phan Đăng Thanh. Theo chương trình, ông Thanh sẽ trình bày tham luận Luật pháp Quốc tế về Biển Đông và hải đảo. Không đắn đo trước đề nghị của LM Hợp, TS Nguyễn Nhã sẵn sàng lấp vào khoảng trống đó…

6. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu rất bức xúc trước tình thế khó khăn của BTC: “Tôi không hiểu vấn đề mà chúng ta đang bàn ở đây tại sao lại trở thành ‘tế nhị’’, ‘’nhạy cảm’’…? Theo tôi nó hoàn toàn là vấn đề khoa học, là lịch sử!”

Phiên 3 được tổ chức ở hội trường Đỗ Minh Vọng có sức chứa lớn hơn, khoảng 200 người, cũng thuộc Trung tâm P.NVB. Phòng họp Phạm Long Tiên và tiền sảnh trở thành khu triển lãm hơn 70 bản đồ cổ về Biển Đông, thềm lục địa và hải đảo Việt Nam của ông Đầu. Phần giới thiệu của ông về bộ sưu tập này cũng mở đầu phiên làm việc cuối cùng của tọa đàm.

Theo ông, bản đồ quan trọng thể hiện rõ đường biên giới nước ta với thềm lục địa là các bản đồ Hồng Đức (có từ năm 1490), bản đồ Đắc Lộ (năm 1650, chủ yếu dựa trên các nét vẽ của bản đồ Hồng Đức và thêm được những đường kinh và vĩ tuyến).

7. Được mời thay người vắng mặt đột xuất, TS Nguyễn Nhã tiếp tục kêu gọi: “Chúng ta mới chỉ có tình cảm yêu nước thôi chưa đủ. Cần cụ thể hóa lòng yêu nước ấy bằng cách đi sâu vào nghiên cứu pháp lý quốc tế. Tôi muốn giới luật gia, luật sư của Việt Nam phải đi sâu vào vấn đề và lên tiếng.”

Ông cũng lập lại nỗi lòng: “Đây là thời điểm tốt để chúng ta giương cao ngọn cờ đồng thuận!” và “mỗi người Việt Nam phải có một kế hoạch nhỏ cho riêng mình trong vấn đề này thì mới mong giữ được Biển Đông và hải đảo”.

8. Cuối cùng, Nhà văn Nguyên Ngọc “nã phát pháo” cuối cùng của tọa đàm lần này bằng tham luận nghe rất êm ái Nỗi niềm Biển Đông. Ông lấy ngay tên một cuốn sách xuất bản ở Pháp, nhan đề “Trung Hoa có thể trở thành cơn ác mộng của nhân loại không?”, đề làm tư tưởng xuyên suốt cho phát biểu đầy nỗi niềm của mình.

Sự bành trướng quyết liệt của Trung Quốc hòng trở thành siêu cường số 1 mới là một thực tế đang diễn ra trên khắp các châu lục. Đặc biệt, tại châu Phi và Á. Riêng tại châu Á, Việt Nam là cửa ngõ của sự bành trướng đó… Vì thế, vấn đề Biển Đông và bauxite phải được nhìn nhận và trở thành vấn đề quốc tế. Nó không chỉ đặt ra với chúng ta thôi, mà còn có thể là vấn đề của Nhật Bản, Hàn Quốc, EU và Mỹ… Ông kết luận: “Nỗi niềm Biển Đông là cả sự tâm huyết lẫn sự thông minh của chúng ta nữa. Nhà nước và nhân dân cần phối hợp với nhau thật giỏi, vì chưa bao giờ, chúng ta lại lâm vào tình thế quá nguy hiểm như hiện nay”.

Giờ giải lao tiếp tục bị cắt bớt. Lúc này, chúng tôi kịp nhận ra những thanh niên bị tịch thu áo hôm qua (24/7/2009) vẫn can đảm đến tham dự.

Thảo luận – đúc kết

Nhà báo Đinh Phong làm cử tọa nổ tung. Ông hô lớn phải “trả đũa” Trung Quốc theo như cách họ đã hành xử với chúng ta trên phương diện truyền thông: “Cứ để cho báo địa phương và blog của chúng ta đáp trả những gì mà phía Trung Quốc đã dùng để xuyên tạc, bôi nhọ, đánh phá chúng ta. Bằng mọi con đường phải bảo vệ Tổ quốc. Các tôn giáo, đặc biệt Công giáo có quyền lên tiếng”. Ông cũng hứa sẽ chuyển tất cả những kiến nghị từ tọa đàm lần này lên Ban Tuyên giáo thành ủy và trung ương.

Nhà văn Nguyên Ngọc mong rằng những tọa đàm tương tự nên được khuyến khích vì đây là hành động khẳng định chúng ta đứng sau lưng ngư dân của chúng ta đang ở tuyến đầu Biển Đông. Ông và TS Nguyễn Nhã cùng gặp nhau khi cho rằng những cuộc đấu tranh này là cơ hội không gì tốt hơn để đoàn kết, khôi phục, hàn gắn vết thương dân tộc.

ThS Hoàng Việt đưa ra kiến nghị nên huy động thành lập 1 quỹ để xúc tiến nghiên cứu và quảng bá nghiên cứu ấy ra thế giới đồng thời khuyến khích các em sinh viên tham gia nghiên cứu.

Tọa đàm kết thúc trong sự nhất trí cao: “vũ khí khoa học” là quan trọng nhất trong cuộc đấu tranh này!

LM Nguyễn Thái Hợp đúc kết:

“Tháng 3 vừa qua, Hội thảo quốc gia đầu tiên về chủ quyền ở Biển Đông được tổ chức tại Hà Nội. Một số tham luận đã đặt vấn đề khá rõ rệt và minh bạch. Nhưng rất tiếc, hội thảo đã quá thu hẹp vào một số chuyên viên và hầu như không có sự tham gia của xã hội dân sự. Người ta vẫn băn khoăn tự hỏi bao giờ xã hội dân sự mới được tham gia suy nghĩ về vấn đề quan trọng này? Không nói chắc chắn tất cả quý vị cũng đã rõ, trong việc tổ chức và thực hiện tọa đàm này chúng tôi đã gặp rất nhiều khó khăn.

Từ các chứng cứ sử liệu do các nhà khoa học đưa ra trong tọa đàm của chúng ta, chứng minh rằng Hoàng Sa và Trường Sa hoàn toàn thuộc chủ quyền Việt Nam.

Một kết luận khác rút ra từ khá nhiều ý kiến cho rằng chúng ta đang ở trong giai đoạn rất khó khăn và nguy hiểm của lịch sử. Chính vì vậy, để vượt qua giai đoạn sinh tử này, cần sự đồng thuận của cả dân tộc để đối phó với nguy cơ đến từ nơi khác.

Đặc biệt, cần nâng cao nội lực khi mà chúng ta đang quá thiếu những chuyên viên, luật sư chuyên ngành về luật pháp quốc tế và làm sao để vận dụng được lớp trí thức hải ngoại. Đồng thời, xây dựng lực lượng trẻ kế thừa trong công cuộc đấu tranh mà chúng ta biết có thể sẽ còn kéo dài hàng chục năm, hàng trăm năm nữa”.

Q.N.

HD Bauxite Việt Nam biên tập

4614
1. Phòng họp Phạm Long Tiên chật cứng người tham dự phiên 1 và 2 ngày 24/7/2009. Báo chí được phép tham dự nhưng không được đưa tin.
4613
2. LM Nguyễn Thái Hợp khai mạc Tọa đàm khoa học Biển Đông và hải đảo Việt Nam.
4615

4616
4.TS Nguyễn Nhã trình bày tham luận
4617
5. Những bạn trẻ can đảm này sau đó đã bị cơ quan chức năng tịch thu áo và đã khóc.
4601
6. Tọa đàm khoa học Biển Đông và hải đảo Việt Nam
4602
7. NNC Nguyễn Q. Thắng tranh thủ bán sách và ký tặng độc giả
4603
8. NNC Nguyễn Đình Đầu bên triển lãm bản đồ cổ của mình
4604
9. LM Huỳnh Công Minh (giữa) trong phiên 3 ngày 25/7/2009
4605
10. Toàn cảnh phiên 3 tại hội trường Đỗ Minh Vọng
4634
11. Chủ tọa đoàn phiên 3 (từ phải qua): Nhà văn Nguyên Ngọc, LM Nguyễn Thái Hợp, NNC Nguyễn Đình Đầu và TS Nguyễn Nhã
4635
12. Nhà văn Nguyên Ngọc trao đổi với các bạn trẻ trong giờ giải lao
4633
13. Lẵng hoa của Đại học Quốc gia TP. HCM mừng học giả Nguyễn Đình Đầu và cuộc triển lãm về Biển Đông và hải đảo Việt Nam, được tổ chức như một phần của cuộc Toạ đàm
4636
14. Bên bản đồ Việt Nam
4637
15. Nhà báo Đinh Phong (trái) và LM Thiện Cẩm

Share/Save/Bookmark

Điều Lớn Nhất

Nguồn : blog Ôsin

Hôm qua, 26-7, tại Đà Nẵng, một công ty địa ốc đã cho khởi công tòa nhà “cao nhất miền Trung”. Một tuần trước đó, 19-7, ở đây cũng vừa khánh thành “cầu dây võng dài nhất Việt Nam”. Không chỉ riêng Đà Nẵng, Hà Tĩnh có “nhà máy thép to nhất”; Thái Nguyên có “dự án đầu tư nước ngoài lớn nhất”; Thủ đô Hà Nội cũng vừa “khởi công đường cao tốc dài nhất Việt Nam” và mới đây có thêm “dự án nghĩa trang lớn nhất khu vực Đông Nam Á”…

Nhà máy “lớn nhất khu kinh tế Vân Phong”, STX Vina, vừa phải xin chậm triển khai. Thái Nguyên cũng đã phải chấm dứt giấc mơ “dự án đầu tư nước ngoài lớn nhất” vì nhà đầu tư “không chứng minh được khả năng huy động tiền”. Đường “cao tốc dài nhất Việt Nam”, Nội Bài – Lào Cai, tuy đã “khởi công” vẫn chưa đủ vốn. Cho dù, Bộ Tài chính đã giảm lượng trái phiếu phát hành lần đầu, từ 1.500 tỷ xuống còn 500 tỷ, cuộc đấu thầu hôm 27-5 vừa qua vẫn “không thành công”.

Tại công trường xây dựng tòa nhà Keangnam “cao nhất Việt Nam” ở Thủ đô, liên tiếp trong hai ngày, 21 và 22-7, có 4 công nhân chết vì rơi từ tầng 13 và 15 khi đang thi công. Cũng ngày 21-7, ở Hạ Long, trong lễ hạ thủy tàu Victory Leader, con tàu “đóng mới hiện đại nhất Việt Nam”, hàng loạt quan khách đã phải “đứng bật dậy hốt hoảng”, hàng trăm công nhân phải “chạy nháo nhào” vì con tàu đã phá tung dây cáp néo, lao mình xuống nước, “tự ý hạ thủy” sớm hơn dự kiến.

Các tai nạn nói trên đều xảy ra một cách tình cờ, nhưng nó cũng cho thấy, không có cái gì cao to hiện đại mà lại không “nền móng”. Ở công trường Keangnam, chỉ tới tầng thứ 13, tính chuyên nghiệp đã bắt đầu bộc lộ. Sự cố con tàu Victory Leader cũng như một lời nhắc nhở, Việt Nam chỉ là người gia công cái vỏ. Một nền công nghiệp không thể được xây bằng “vay”, cả chuyên môn và kể cả bạc tiền.

Đầu tháng 7 vừa qua, cũng có không ít người “nôn nao” khi nghe nói mình đang sống trong một quốc gia được xếp hàng thứ 5 thế giới về hạnh phúc. Đây là bảng xếp hạng theo cách nhìn của một nhóm nghiên cứu độc lập ở Anh, NEF, theo đó chỉ số này chỉ cao khi so mức độ thỏa mãn cuộc sống của người dân với mức độ tiêu hao tài nguyên. Cùng bằng lòng với mức độ như nhau, nhưng nơi nào ở nhà lầu, đi xe hơi thì nơi đó… ít hạnh phúc hơn. Chỉ số thỏa mãn về cuộc sống của Việt Nam rất thấp, chỉ khá hơn nhóm Châu Phi, nhưng, như cách nói của một blogger, Việt Nam vào top 5 vì Việt Nam hạnh phúc theo kiểu: “ông lão chụm củi, tỏa khói lam chiều, trong khi bà lão đang tắm suối”.

Thực ra, cho dù báo chí không thông tin đầy đủ thì người dân vẫn biết rõ mình có đang hạnh phúc hay không. Những cái nhất mà một số địa phương, một số doanh nghiệp cố gắng khuếch trương và được báo chí tung hô, rất nhanh chóng bộc lộ sự thật. Hẳn, cho đến nay, không mấy ai quên câu chuyện hai chiếc chiếc bánh chưng, bánh dày đem dâng lễ Vua Hùng hôm 10-3-2008. Hai chiếc bánh được làm to kỷ lục, nhưng bánh chưng thì bị “lên men”, bánh giầy thì, bên trong, được làm bằng… mút xốp.

Những: tô cháo lớn nhất, chiếc bánh to nhất, cho đến nồi nước phở kỷ lục… không mang lại cho cuộc sống thêm bao nhiêu giá trị nhưng đem lại nhiều cảm giác kệch cỡm. Những dự án lớn nhất, những tòa nhà cao nhất… chỉ có ý nghĩa khi nó hiện thực và bắt nhịp được với trình độ phát triển. Cho dù những cây cầu dài, những tháp nhà cao có thể tạo ra những hình ảnh sừng sững trên bìa báo, vấn đề là người dân có bao nhiêu cơ hội để thực sự ngước lên, để quên lụt lội, khói bụi, lô cốt…

Huy Đức


Share/Save/Bookmark

Chủ Nhật, 26 tháng 7, 2009

Xã luận số 5: Bàn tay che mặt trời!

Nguồn : Bauxite Việt Nam

Mười giờ mười chín phút đêm thứ Năm 23 tháng Bảy năm 2009, trang mạng Vietnamnet vẫn còn thức, và nhờ nó đang thức mà bạn đọc cả nước vốn lo lắng cho vận mệnh nước nhà được đọc một bản tin có tiêu đề “Tiếp tục cấp phép thăm dò các mỏ khai thác bô-xít“. Cầu mong cho bản tin này không bị bóc vào sáng sớm hôm sau! Cầu mong ân đức tổ tiên phù hộ để các tờ báo đang buộc đi trên lề bên phải sẽ cùng đưa tin này, đưa tin khách quan như một cách bày tỏ thái độ của báo mình trước một vấn đề vô cùng nóng bỏng của đất nước.

Riêng Bauxite Việt Nam thì không thể không bày tỏ thái độ – hàng nghìn chữ ký của các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước cùng ba triệu rưỡi lượt truy cập trang mạng sau ba tháng hoạt động chắc chắn đang chờ một tiếng nói chung gửi trong bản xã luận số 5 này.

Hãy nhớ lại cách đây đúng 11 ngày, ngày 12-7-2009, ông Quyền Cục trưởng Cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam Nguyễn Văn Thuấn đã tuyên bố với báo chí một cách ngon lành, rằng chưa có chuyện cấp phép các dự án khai thác bauxite tại Tây Nguyên, bởi lẽ các dự án này còn thiếu đánh giá tác động môi trường bổ sung, hoàn nguyên môi trường (phapluattp.vn), đến nỗi trang mạng BBC thấy chuyện lạ, phải trực tiếp phỏng vấn ông ta rồi mới đưa tin chứ không vội tin vào báo chí trong nước (bbc.co.uk). Nhưng dư luận công chúng thì đâu có dễ tin đến thế. Trên mạng Bauxite Việt Nam, khi đưa lại nguồn tin BBC, chúng tôi đã đặt một giả thuyết: “Đã cho phép xây nhà máy tốn hàng trăm triệu đô la rồi lại không cấp phép khai thác? Nghe mà tưởng cái Chính phủ này vốn thích chơi ngông như Công tử Bạc Liêu! Còn nói “chưa” để rồi “sẽ cấp” thì nói làm gì cho thêm rắc rối. Bạn đọc cứ so sánh cách nói lập lờ đoạn trên và đoạn dưới của ông Nguyễn Văn Thuấn thì đoán ra ngay đây chỉ là một cú đánh lừa dư luận… không được ngoạn mục cho lắm. Ông Thuấn nói việc dư luận đông đảo phản đối dự án khai thác bauxite mấy tháng qua là “làm ầm ỹ lên”. Thì chính vì nghĩ quẩn/xuẩn thế nên những kẻ có trách nhiệm mới phải cho một người cỡ ông ra “chữa cháy” (bauxitevietnam.info)

Quả nhiên, đến hôm nay mọi sự đã quá rõ ràng. Chỉ trong vẻn vẹn 11 ngày mà các dự án bauxite đã làm xong đâu đấy việc “đánh giá tác động môi trường bổ sung” cũng như “hoàn nguyên môi trường” (khi đưa ra lời tuyên bố trong ngày 12 hẳn ông Thuấn phải biết rõ những việc ấy chưa được tiến hành, chứ lẽ đâu đang làm sắp xong mà cấp trên lại lệnh cho ông “phát loa” để mọi người chắc mẩm?!)? Thì ra là Nhà nước chúng ta, với các tập đoàn lợi ích châu xung quanh nó, vốn nổi tiếng là trì trệ, tắc trách bậc nhất, nay phút chốc bỗng mang đôi cánh thiên thần!

Nội dung bản tin “Tiếp tục cấp phép thăm dò các mỏ khai thác bô-xít” cho ta thấy lần này ông Hoàng Trung Hải tỏ ra rất dũng cảm, một mình đứng ra làm hết – dĩ nhiên là nấp sau cái mộc che chắn gồm có Kết luận của Thủ tướng (được Vietnamnet cập nhật lúc 23 giờ 12 phút, cũng vào ngày thứ Năm 30/04/2009, trong bản tin có tiêu đề là một lời hứa của Thủ tướng “Sẽ báo cáo Hội nghị Trung ương và Quốc hội về bô-xít“) và Kết luận của Bộ Chính trị về khai thác bô-xít (vietnamnet.vntoquoc.gov.vn)

Bên cạnh đó, qua cái gọi là những việc đã làm do ông Hoàng Trung Hải kể ra, chúng ta còn thấy những đầu việc được ông Hải nêu lên như những việc đã rồi này dẫu sao cũng giải đáp cho dư luận chân chính hiểu rằng những điều đáng ngờ trong các dự án bauxite Tây Nguyên là có thực.

Dư luận ngờ vực rằng các dự án đó chuẩn bị không kỹ về thăm dò, về giải pháp kỹ thuật khai thác và chế biến, về những bất cập trong bảo vệ môi trường thậm chí là những phá hoại môi trường, về khả năng sinh lợi của các dự án… thì nay, qua các đầu việc chúng ta được thấy bây giờ các ngài mới vội vã nào lập đề cương này, nào điều chỉnh kế hoạch kia. Những đề cương và những kế hoạch điều chỉnh đó xứng đáng được xếp vào hạng mục những chứng cứ của hiện tượng “lạy ông tôi ở bụi này”. Chưa kể là vẫn còn chuyện này phải xét tiếp: các đề cương đó có khả thi không và những kế hoạch điều chỉnh đó có hiện thực không, thì vấn đề vẫn còn bị gác lại đó.

Dư luận ngờ vực rằng trong việc xây dựng các dự án bauxite Tây Nguyên có chuyện lách luật. Thì lần này, qua các “đầu việc” được ông Hoàng Trung Hải báo cáo, ta lại tóm được đủ chứng cứ của hiện tượng đang bị ngờ vực đó. Cái đuôi con cáo già đã thò ra, và phải là người thiếu trung thực lắm, phải là người không còn có chút ý niệm gì nữa về đạo làm người (không nói là người lãnh đạo) thì mới nghĩ rằng các “dự án con” dưới 600 triệu đô-la Hoa Kỳ ở đây không có chút liên hệ gì giữa những bộ phận với một tổng thể.

Dư luận hoàn toàn có lý khi ngờ vực năng lực của Tổng Công ty Than Khoáng sản Việt Nam (TKV). Trong thời gian qua, báo chí đã chỉ rõ cái năng lực làm liều của TKV trong toàn cảnh môi trường miền than Đông Bắc đất nước bị tàn phá đến cùng cực như thế nào (xin xem: tuoitre.com.vn 1, 2, 3, 4). Tiếc rằng, biết bao nhiêu món hời trong “báo cáo đầu việc” của ông Hoàng Trung Hải lại vẫn tiếp tục được giúi vào tay TKV – hơn thế nữa, lại còn tạo thuận lợi cho TKV móc nối với các nhà thầu nước ngoài – đó là những nhà thầu nào thì dư luận ngay từ khuya đã đoán được: nhà thầu nào mà đến giờ phút này vẫn được TKV giao cho đôn đốc hoàn thiện hồ sơ kỹ thuật đấu thầu cách xử lý bùn đỏ?

Nhưng qua chuyện “Tiếp tục cấp phép thăm dò các mỏ khai thác bô-xít” lần này, điều đau khổ kéo dài cho những ai còn có ý thức mình là người Việt Nam là ở hai hiện tượng sau:

1) Dư luận dân sự chân chính tiếp tục bị coi khinh;

2) Quốc hội đánh trống bỏ dùi, từ bỏ chức năng làm luật và giám sát thi hành luật của mình.

Dư luận dân sự bị coi thường, thậm chí khinh rẻ, thể hiện ở chỗ không hề có một phản hồi nào của nhà cầm quyền, dù chỉ là để giải thích, giảng giải về công việc của các dự án bauxite Tây Nguyên, chưa nói gì đến những cuộc đối thoại thẳng thắn để đi tìm giải pháp chung gỡ mối lo bauxite cho nhân dân. Mối lo bauxite đâu có nằm một mình? Nó được đặt ra trong bối cảnh “phía đối tác” vẫn tiếp tục cho “tàu lạ” đâm vỡ tàu thuyền của ngư dân Việt Nam; trong bối cảnh ở ngay sát lưng miền Tây Nguyên nước Việt họ đã thuê được cả một vùng đất mênh mông của nước bạn trong chín mươi chín năm!

Ấy thế nhưng Quốc hội Việt Nam, cơ quan quyền lực tối cao của quốc gia, vẫn bình chân như vại, chẳng thèm nói có và cũng chẳng thèm nói không, chưa ra ngô ra khoai gì đã tạo dư luận “đồng thuận rồi”, mặc dù cái “đồng thuận” ấy mới chỉ là mấy lời bàn luận qua quít rồi bỏ đó, thử hỏi kỷ cương phép nước như vậy thì còn ra sao nữa?

Vì kỷ cương không ra gì, nên cuộc sống mới nhiễu nhương, mới có tình trạng các dự án quyết định vận mệnh cả dân tộc, lại được ra đời theo lối sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông.

Chắc chắn đằng sau vụ việc này phải có một thế lực nào đó đang thao túng tất cả và bảo lãnh cho tất cả. Nếu không, một bàn tay ngắn củn sao dám che cả mặt trời?

24-7-2009

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng


Share/Save/Bookmark

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2009

Cập nhật phóng sự ảnh: Tọa đàm khoa học Biển Đông và Hải Đảo Việt Nam

Nguồn : X-cafe

Vào lúc14g30 ngày 24/7/2009, tại 43 Nguyễn Thông, Q.3, TP.HCM, Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình và Nhà xuất bản Tri Thức đã tổ chức buổi tọa đàm khoa học với chủ đề "Biển Đông và hải đảo Việt Nam". Cuộc Tọa đàm khoa học này mong muốn vừa thể hiện mối quan tâm lớn của dư luận xã hội và của tất cả người Việt Nam trong cũng như ngoài nước, vừa góp phần cung cấp một số chứng cứ lịch sử và khoa học, góp phần làm sáng tỏ chủ quyền về Biển Đông.

Đến tham dự buổi tọa đàm có sự tham gia thảo luận của các chuyên gia, nhà nghiên cứu (NNC): LS. Nguyễn Ngọc Bích, Lm. Thiện Cẩm, NNC Đinh Kim Phúc, ThS. Hoàng Việt, TS. Nguyễn Nhã, NNC. Nguyễn Quang Thắng, nhà sử học Nguyễn Đình Đầu, LS Phan Đăng Thanh, nhà văn Nguyên Ngọc, PGS-TS Hoàng Dũng, NNC. Trần Khuê (Tổng thư ký Đảng Dân Chủ XXI), Lm. Nguyễn Thái Hợp...

Các tham luận tại buổi tọa đàm chiều 24/7 bao gồm:

- Từ Trường Sơn Đông đến Song Tử Tây
- Chủ quyền biển Đông và hải đảo
- Đường lưỡi bò trên biển Đông và luật quốc tế
- Vai trò của nhà Nguyễn với biển Đông
- Quan điểm của Việt Nam về Hoàng sa và Trường Sa

Tại cuộc tạo đàm này còn trưng bày khoảng 40 bản đồ về biển Đông và hải đảo Việt Nam được vẽ từ năm 1529 (thế kỷ XVI).

Phiên III diễn ra vào lúc 8g, ngày 25/7/2009 tại 43 Nguyễn Thông, Q.3, TP.HCM (thay đổi địa điểm).

Chủ trì: Lm. Nguyễn Thái Hợp, O.P, CLB P. Nguyễn Văn Bình

- Nhà Sử học Nguyễn Đình Đầu: Sưu tập bản đồ về Biển Đông và Hải Đảo Việt Nam
- LS-TS. Phan Đăng Thanh: Luật pháp Quốc tế về Biển Đông và Hải Đảo
- Nhà văn Nguyên Ngọc: Nỗi niềm Biển Ðông
- Đức Hồng y GB. Phạm Minh Mẫn: Bế mạc

Đến phút chót, đã có ba sự vắng mặt đáng chú ý. Trước tiên là tiến sĩ Chu Hảo, Giám đốc NXB Tri Thức. Theo thông báo của Ban tổ chức, do tiến sĩ Chu Hảo mới từ Paris về Hà Nội trưa nay, nên không có mặt kịp thời. Đức Hồng Y J.B Phạm Minh Mẫn cũng không thể hiện diện vì có “mục vụ đột xuất”. Sự vắng mặt của nhà sử học Dương Trung Quốc không được đề cập, không thấy Ban tổ chức nhắc tới.



Mở đầu buổi Tọa đàm, Linh mục Nguyễn Thái Hợp, Dòng Đa Minh Việt Nam (hiện là Giáo sư – Tiến sĩ, đang hợp tác với ĐH KHXH – VN TP.HCM để thành lập khoa Tôn Giáo học) sơ qua về mục đích của buổi tọa đàm. Ngài nói rằng: buổi tọa đàm chỉ mong cung cấp thông tin cho thính giả để hiểu hơn về tình trạng Biển Đông và Hải đảo Việt Nam, đặc biệt là Trường Sa và Hoàng Sa, cũng như để chúng ta tin tưởng rằng, Việt Nam có cơ sở vững chắc về chủ quyền đối với hai quần đảo này.

Cử tọa chăm chú lắng nghe phần khai mạc. Trên 4 bức tường của phòng họp, treo hầu hết các bản đồ dự định sẽ được trưng bày tại Tòa Tổng giám mục TP.HCM trong ngày 25-7-2009. Tuy nhiên, đến giờ phút chót, địa điểm này đã không được lựa chọn như dự kiến, cùng với sự vắng mặt như là tất yếu của Đức Hồng Y J.B Phạm Minh Mẫn.



Mở đầu phiên thảo luận thứ nhất, Linh mục, Tiến sĩ Triết học Trần Minh Cẩm (tức linh mục Thiện Cẩm, Dòng Đa Minh Việt Nam), với cương vị là thành viên Mặt trận tổ quốc TP.HCM, là đại diện tôn giáo duy nhất tham gia cuộc thăm viếng quần đảo Trường Sa mới đây được TP.HCM tổ chức, đã đọc tham luận nói về chuyến viếng thăm này. Ngài cũng không quên nói về những khó khăn do việc Ngài tham gia tọa đàm lần này. Chẳng hạn như, Ngài đã nhận được nhiều cuộc điện thoại, thậm chí là giữa đêm 23-7, để hỏi xem Ngài sẽ nói gì vào buổi tọa đàm ngày mai.
Click the image to open in full size.
Sau đó, nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc đã đọc tham luận, nêu lên những bằng cứ lịch sử cho thấy sự vô lý của Trung Quốc, Phillippin, Malaysia trong vấn đề tuyên bố chủ quyền đối với Trường Sa và Hoàng Sa. Trước khi đọc tham luận, ông Phúc nói rằng: ông không mong được thính giả hỏi, và cũng không sẵn lòng trả lời. Bởi như ông công nhận trong giờ nghỉ giải lao, ai cũng biết vấn đề này là nhạy cảm, và ông cũng được cảnh báo rằng: đừng nói gì thêm ngoài nội dung tham luận.



Thạc sĩ Luật Hoàng Việt đã làm phòng họp nóng lên, hướng cả về màn hình, khi ngay phần mở đầu của tham luận về “lưỡi bò” của Trung Quốc trên Biển Đông bằng những hình ảnh về việc tàu quân sự của Trung Quốc gây hấn với tàu thăm dò của Mỹ tại Biển Đông, và hình ảnh tàu Ngư Chính của Trung Quốc chặn bắt tàu đánh cá của Việt Nam. Thạc sĩ Việt đã chỉ ra những vô lý của “lưỡi bò” cũng như sự biến đổi của nó theo thời gian, và sự “linh hoạt” của Trung Quốc trong vấn đề này.

Kết thúc phiên thảo luận thứ nhất, một số câu hỏi đã được nêu ra… và dù đã khẳng định không mong được hỏi, và không sẵn lòng trả lời, nhưng nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc vẫn phải đăng đàn trả lời những câu hỏi của thính giả bên dưới. Nhưng, người gây ấn tượng nhất trong phần giao lưu với thính giả, có lẽ là Tiến sĩ Nguyễn Nhã…



Rất nhiều lần, tiến sĩ Nguyễn Nhã đã phải uất nghẹn, không nói thành lời, và những giọt nước mắt đã lăn dài trên má người đã dành cả đời nghiên cứu, đấu tranh cho Hoàng Sa, Trường Sa. Những luận điểm của tiến sĩ đưa ra, đều nhận được những tràng pháo tay nồng nhiệt của thính giả, trong đó, đáng chú ý, tiến sĩ đã nói: nếu chúng ta không đồng thuận, thì Tân Cương sẽ không phải là hình ảnh xa vời đối với dân tộc Việt Nam.

Kết thúc phần trả lời của Tiến sĩ Nguyễn Nhã, diễn giả và thính giả nghỉ giải lao. Lúc này, tôi mới quan sát xung quanh và nhận thấy sự hiện diện của nhiều bạn trẻ, trong đó có cả các thành viên của diễn đàn Hoàng Sa.org. Ngoài ra, có rất nhiều người cầm máy chụp hình, quay phim, mà tôi đoán là phóng viên của các báo lớn tại TP.HCM. Hỏi thăm vài phóng viên thì được biết, các báo đã nhận được chỉ thị không được đưa tin về sự kiện này, nên hầu hết các phóng viên đến tọa đàm theo tư cách cá nhân, và ghi nhận sự kiện, chứ không đi theo sự phân công của tòa soạn.

Sau khi giải lao, phiên thảo luận thứ 2 bắt đầu với tham luận của nhà nghiên cứu Nguyễn Quyết Thắng, rồi tiến sĩ Nguyễn Nhã… Những tham luận này đã từng được đưa lên mạng Internet nên tôi không tường thuật ở đây. Nhưng phải nói thật rằng: chưa bao giờ tôi cảm thấy xúc động như hôm nay, khi chứng kiến những tấm lòng đối với Hoàng Sa, Trường Sa của người con đất Việt. Và tôi tin rằng, những anh em Công an, dù ở trong phòng họp, hay phải vì nhiệm vụ mà đứng bên ngoài lề đường Nguyễn Thông, dù ít dù nhiều, cũng được lay động bởi những gì đất mẹ đang phải trải qua…



Trong buổi tọa đàm, người ta còn nhận thấy có sự hiện diện của LM Nguyễn Thể Hiện, Dòng Chúa Cứu Thế, người được công luận biết đến nhiều trong vụ Thái Hà



Giáo sư Trần Khuê, hiện là Tổng thư ký Đảng DC XXI cũng tới dự. Trong giờ giải lao, GS có gặp gỡ, trao đổi với LM Thiện Cẩm, PGS - TS Hoàng Dũng



GS cũng gặp gỡ và trao đổi với TS Nguyễn Nhã, Nhà nghiên cứu Nguyễn Quyết Thắng... những người dành cả đời nghiên cứu tìm ra những chứng cứ lịch sử và khoa học, để đấu tranh giành lại Hoàng Sa, Trường Sa



Một số vị thức giả trong buổi tọa đàm, họ là những người luôn quan tâm đến vận nước, đến tương lai của dân tộc. Trong giờ giải lao, tôi nhận thấy nhiều người trẻ đến vây quanh họ, ôm chầm lấy họ, rồi rưng rưng nước mắt, nghẹn ngào. Cá nhân tôi không dám đến ôm họ, bởi có thể tôi sẽ giống như trẻ con, khi đụng phải tâm huyết của họ!

Dù đứng xa họ, nhưng lòng tôi vẫn thổn thức. Nỗi đau ùa về! Như cảm nhận được nỗi xót xa của đất mẹ khi bị chia cắt, khi tâm huyết và những nỗ lực của con dân đất Việt đang bị ly tán!



15g- 16g30 Phiên I, từ trái sang: ThS. Hoàng Việt, NNC Đinh Kim Phúc, Chủ tọa - LS. Nguyễn Ngọc Bích, Lm. Thiện Cẩm.













ThS. Hoàng Việt đang đọc tham luận: “Đường lưỡi bò” trên biển Đông và luật quốc tế





BTC rất chu đáo về việc lo thêm phần lót dạ & nước uống cho khán thính giả trong giờ giải lao

Share/Save/Bookmark

Báo chí và dân trí

Nguồn : Talawas
Tác giả: Bảo Trung

Dân trí từng là khái niệm được đề cao hàng đầu trên con đường tìm kiếm tự do cho đất nước của cụ Phan Châu Trinh vào thế kỷ trước. Với cụ Phan, dân trí không chỉ là trình độ học vấn mà còn là khả năng tư duy độc lập như tinh thần của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục mà ông và các đồng chí của mình chủ trương. “Khai dân trí”, không chỉ cần cải tiến giáo dục mà tự do báo chí cũng đóng một phần chủ chốt.

Cùng thời với ông Phan Châu Trinh, nhà báo Huỳnh Thúc Kháng từng nói: “Nếu không được quyền nói thì ít ra cũng giữ cái quyền không nói ra những điều người ta buộc nói”. Câu nói này có thể được xem như một tuyên ngôn sớm sủa về nghề báo ở Việt Nam và vẫn được nhiều nhà báo hôm nay thuộc nằm lòng. Tuy nhiên, không phải nhà báo nào cũng làm theo lời dạy này của cụ Huỳnh.

Diễn biến trên báo sau những vụ bắt bớ gần đây tại Việt Nam cho thấy nghề báo hôm nay và thời của cụ Huỳnh có vẻ không có cùng một lối tư duy hành nghề. Ít ra, báo Tiếng Dân của nhà báo Huỳnh Thúc Kháng đã dám “giữ cái quyền không nói ra những điều người ta buộc nói”. Còn trên hàng trăm tờ báo lớn nhỏ hôm nay, người đọc hầu như không tìm ra sự khác biệt giữa các bản tin về những vụ bắt người. Tại buổi họp báo sau khi bắt luật sư Lê Công Định, thiếu tướng an ninh Hoàng Công Tư đã “đề xuất” giới báo chí phải nêu lên được những “vi phạm” của luật sư này để “quần chúng nhân dân đề cao cảnh giác và thấy được các hoạt động của cơ quan điều tra”.

Báo giới Việt Nam vốn không lạ với những buổi họp giao ban, chỉ thị, tin nhắn từ Ban Tuyên giáo, Vụ Báo chí (Bộ Thông tin & Truyền thông) với những người người chịu trách nhiệm nội dung về những vấn đề nào được đăng hoặc không. Thế nhưng, một tướng an ninh “đề xuất” công khai với báo chí về vấn đề nội dung không phải là điều thường xuyên diễn ra. Chịu áp lực từ quá nhiều cơ quan, làm báo thời nay có lẽ khó hơn thời cụ Huỳnh Thúc Kháng chủ trì báo Tiếng Dân.

Những ai từng đọc các bài báo trong vụ Nhân Văn - Giai Phẩm với những từ ngữ kết tội đanh thép đối với những văn nghệ sĩ hồi giữa thế kỷ trước sẽ nhận ra sự quen thuộc trong những bài viết hôm nay sau những vụ bắt bớ vừa qua. Tính phản biện và sự trung dung trong việc đưa tin hầu như không hiện diện trên mặt báo trong những vấn đề nóng hổi nói trên. Mất đi những điều này, chưa bao giờ báo chí Việt Nam làm tốt vai trò công cụ đến như vậy.

Báo chí là phương tiện khai sáng dân trí nhanh nhất nhưng cũng là công cụ ngu dân đắc lực nhất. Người ta dễ dàng tìm ra hình ảnh các bạn trẻ ở Hà Nội ôm mặt nức nở khóc trước di ảnh của danh ca Michael Jackson trên các tờ báo tại Việt Nam. Vậy mà, cũng tại Việt Nam, một hội thảo lớn về vấn đề Biển Đông và Hải đảo Việt Nam sắp diễn ra (ngày 24.7) tại Toà Tổng Giám mục TP.HCM (180 Nguyễn Đình Chiểu, Q.3, TP.HCM) người ta chưa thấy có tờ báo lớn nào đưa tin. Báo chí Việt Nam vẫn mơ hồ dùng từ “tàu lạ” khi nhiều lần ngư thuyền Việt Nam bị đâm chìm, ngư dân Việt Nam bị bắt đòi tiền chuộc… thế nhưng, cũng thật nhanh nhạy, báo Công An TP.HCM sẵn sàng đưa tin về một luật sư đi nhà nghỉ với tình nhân.

Vẫn biết sự tự do nói chung và tự do báo chí nói riêng là khái niệm đặc thù của mỗi quốc gia và không thể áp đặt để chung cho mọi nền báo chí. Tuy nhiên, nguyên tắc tôn trọng sự thật, công bằng với mọi sự kiện, bảo vệ quyền công dân… thì bất kỳ nền báo chí nào cũng phải có.

Vẫn biết “Dân chủ” là khái niệm mà mọi quốc gia, kể cả quốc gia vẫn tự hào về nền dân chủ cả mình là Hoa Kỳ, luôn tâm niệm vươn tới, hoàn thiện. Thế nhưng làm sao có được dân chủ khi dân trí chưa khai phóng? Và làm sao khai phóng dân trí khi nền báo chí của một quốc gia vẫn cứ mãi yên phận “công cụ”?

Đến đây lại nhớ đến lời của học giả Lương Khải Siêu với cụ Phan Bội Châu: “Quý quốc đừng lo không có ngày độc lập, chỉ sợ quốc dân không có tư cách độc lập”. Ngót một trăm năm sau, nếu cụ Phan sống lại, hẳn cụ cũng sẽ lại băn khoăn truớc “tư cách độc lập” của mỗi người dân Việt Nam hôm nay thể hiện qua nền báo chí nước nhà.

© 2009 Bảo Trung

© 2009 talawas blog


Share/Save/Bookmark

Tân Việt ngữ: “Tàu lạ”

Nguồn : Talawas
Tác giả: Phạm Thị Hoài

“Tàu lạ”, khái niệm vừa xuất hiện trong vài tuần trở lại đây và nhanh chóng hiện diện đến 145.000 lần trên Google, chỉ là một trong những từ khoá quan trọng của một thứ tiếng Việt mới. Viễn cảnh mà George Orwell đưa ra tròn 60 năm trước về một Newspeak vẫn chưa bao giờ hết tính thời sự.

Các hàng tin viết bằng Tân Việt ngữ trên báo chí Việt Nam sẽ chạy như sau:

Sữa lạ vẫn đang bán ở Việt Nam

Phong trào lấy chồng lạ của phụ nữ xã Tiền Phong

Phái đoàn trung ương Đảng và chính phủ lạ sang thăm và làm việc với Đảng và chính phủ ta

Gói du lịch nước lạ của Vietnam Airlines dịp 30 tháng Tư

Phim lạ thay đổi thị hiếu của khán giả Việt Nam

3000 công nhân lạ đến Lâm Đồng

Siết chặt hàng rào với hàng lạ chất lượng kém

Vì sao văn học lạ ăn khách?

Công ti lạ trúng gói thầu xây dựng nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh

Thêm một đập thuỷ điện lạ tại thượng nguồn sông Mekong

Người Việt gốc lạ trong khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam

Kí kết Hiệp ước Việt - Nước lạ về Vịnh Bắc Bộ

Chủ nghĩa bành trướng lạ trong thế kỉ 21

Truyện Kiều sẽ được định nghĩa là 3254 câu thơ lục bát viết bằng chữ Nôm dựa theo tiểu thuyết lạ Kim Vân Kiều truyện.

Tác phẩm Bến lạ của Đặng Đình Hưng cần phải đổi tên, nếu không thì những câu kết ám ảnh của nó có nguy cơ bị dịch ngược về tiếng Việt cổ và dẫn chúng ta về một chốn lạ lùng:

Ồ gặp nhau rồi, sao vẫn cứ li

Một nắm hột khuya rắc vào Bến Trung Quốc

Đời jì

Sao cứ đi đi, những cái vali cứ về Bến Trung Quốc.

Đoạn văn nổi tiếng trong truyện ngắn “Vàng lửa” của Nguyễn Huy Thiệp cần viết lại trong Tân Việt ngữ như sau: “Đặc điểm lớn nhất của xứ sở này là nhược tiểu. Đây là một cô gái đồng trinh bị nền văn minh lạ cưỡng hiếp. Cô gái ấy vừa thích thú, vừa nhục nhã, vừa căm thù nó.”

Nhưng thao tác tránh tên huý chỉ có tác dụng nhất thời. Khi cái tên gọi trại đời thứ nhất đã lĩnh trọn nội dung của cái tên nguyên thuỷ, còn nội dung ấy vẫn tiếp tục là huý kị thì một tên gọi trại đời thứ hai phải xuất hiện thay thế. Chuỗi chạy tên[1] này có thể kéo rất dài.

Khả năng chạy xa nhất của “lạ” là gì?

Là chạy vọt sang “quen”.

Sự tránh né lẩm cẩm của sợ hãi và bất lực này không có chút gì đáng thương hay đáng thông cảm, vì quá lố bịch:

Sữa quen vẫn đang bán tại Việt Nam

Phong trào lấy chồng quen của phụ nữ xã Tiền Phong

Phái đoàn trung ương Đảng và chính phủ quen sang thăm và làm việc với Đảng và chính phủ ta

© 2009 Phạm Thị Hoài

© 2009 talawas blog


[1] “Chạy” khác “đi” như thế nào, tôi không giải thích được cho một người ngoại quốc học tiếng Việt. Tất nhiên “chạy chợ” khác “đi chợ”, “chạy ăn” khác “đi ăn”…, nhưng cái khác không nằm ở chỗ vốn khác, ở tốc độ của hành động di chuyển bằng chân. Càng ngày người Việt càng chạy phong phú hơn: chạy án, chạy dự án, chạy bằng, chạy ghế, chạy thuế, chạy Trung ương… Người Việt ở Đức còn có thêm những sáng tạo khác: chạy xã hội, chạy con Tây, chạy bảng lương, chạy ăn theo, chạy un, chạy bát…


Share/Save/Bookmark

Sao bỗng dưng họ lại hèn vậy?

Nguồn : Dân Luận

Nguyễn Hưng Quốc

Trong lịch sử Việt Nam có nhiều nhà lãnh đạo hèn.

Mạc Đăng Dung bị xem là hèn khi phủ phục cắt đất dâng cho nhà Minh. Các vua nhà hậu Lê bị xem là hèn khi để cho các chúa Trịnh uy hiếp từ đời này qua đời khác; trong đó người hèn nhất là Lê Chiêu Thống, chạy sang quỳ luỵ nhà Thanh để chống lại Tây Sơn, cuối cùng bị thảm bại, v.v…

Tuy nhiên, cho đến gần đây, hầu như chưa ai cho các nhà lãnh đạo cộng sản là hèn cả.

Mà thật, ngay cả những người chống cộng cực đoan và thô thiển nhất cũng không thể nói cộng sản là hèn.

Hơn nữa, trong một thời gian dài, nói họ là anh hùng cũng không quá đáng. Không anh hùng sao được khi, trước năm 1945, họ sẵn sàng hy sinh cuộc sống an toàn và êm ấm của họ và gia đình họ để tham gia vào các cuộc tranh đấu dành độc lập, bất chấp bao nhiêu nguy hiểm, kể cả chết chóc và tù đày? Không anh hùng sao được khi họ tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp cực kỳ gian khổ để cuối cùng, năm 1954, trở thành thuộc địa đầu tiên đánh bại đế quốc Pháp? Tính chất anh hùng trong cuộc chiến tranh 1954-75 phức tạp và tế nhị hơn: trong khi không thể nói là họ anh hùng khi tìm cách bắn giết dân chúng ở miền Nam, chúng ta không thể không thừa nhận là họ anh hùng khi họ chịu đựng những trận mưa bom của Mỹ đổ xối xả xuống miền Bắc và theo đuổi cuộc chiến đấu đến cùng. Rồi trong cuộc chiến tranh với Pol Pot và nhất là cuộc chiến tranh với Trung Quốc vào năm 1979: Phải nói là họ anh hùng.

Tôi biết có thể sẽ có nhiều người phản đối những ý kiến tôi vừa nêu. Tuy nhiên, tôi cũng biết: Phản đối thì phản đối, nhưng họ cũng không thể nói là các nhà lãnh đạo cộng sản, trong các trường hợp trên, là hèn. Cho đến nay, trong các tài liệu tôi đọc được, chưa ai nói thế bao giờ.

Chỉ nghe các trí thức sống dưới chế độ cộng sản tự nhận là mình hèn. Trước, người ta chỉ thừa nhận một cách tương đối…hèn: Lén lút. Sau, từ thời đổi mới, nhiều người tự nhận một cách công khai. Người thú nhận một cách thẳng thắn và cảm động nhất là Nguyễn Minh Châu trong bài “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ” đăng trên báo Văn Nghệ ở Hà Nội vào ngày 5 tháng 12, 1987: “Văn chương gì mà muốn viết một câu trung thì phải viết một câu nịnh? Hèn, hèn chứ? Nhà văn nước mình tận trong tâm can ai mà chẳng thấy mình hèn? Cái sợ nó làm mình hèn.” Hèn để tồn tại. Cũng Nguyễn Minh Châu: “Có một nhà văn đàn anh nâng chén rượu lên giữa đám đàn em: “Tao còn sống, còn cầm bút được đến bây giờ là nhờ biết sợ!”” (Xem cả bài). Nhạc sĩ Tô Hải khái quát hoá toàn bộ con người và sự nghiệp của mình vào một chữ, chữ “hèn” khi đặt nhan đề cho cuốn hồi ký của mình: Hồi ký của một thằng hèn. Phạm Xuân Nguyên, trong bài “Cái hèn của người cầm bút” đăng trên tạp chí Sông Hương tháng 5 năm 1988, cũng thừa nhận cái hèn như một hiện tượng phổ biến. (Bài này có thể đọc ở đây).

Các trí thức và văn nghệ sĩ bị trị thì hèn. Còn những kẻ thống trị thì dĩ nhiên được miễn nhiễm loại vi khuẩn ấy. Họ ác hay ngu nhưng họ không hèn.

Nhưng đó là chuyện ngày trước.

Gần đây, cụ thể là từ một hai năm nay thì khác. Đọc trên các trang mạng hay blog từ trong đến ngoài nước, chúng ta gặp nhan nhản những chữ “hèn”.

Trung Quốc ngang nhiên xâm chiếm Trường Sa và Hoàng Sa, chính quyền vẫn cúi đầu và im lặng: Hèn.

Trong khi khiếp nhược trước Trung Quốc, nhà cầm quyền lại mạnh tay đàn áp các thanh niên sinh viên yêu nước xuống đường phản đối chính sách bành trướng của Bắc Kinh: Hèn.

Tàu hải quân của Trung Quốc giết và bắt ngư dân Việt Nam đang đánh cá ngay trong lãnh hải Việt Nam mà nhà cầm quyền cũng không dám lên tiếng phản đối, thậm chí, không dám gọi tên là tàu Trung Quốc, chỉ gọi một cách bâng quơ là “tàu lạ”: Hèn.

Nhà báo Ngô Nhân Dụng, trên nhật báo Người Việt ở California, sau khi so sánh với cách hành xử của các nước trong khu vực trong những trường hợp tương tự, đã đi đến kết luận: thái độ của nhà cầm quyền Việt Nam là hèn yếu. Nhà báo Huy Đức, hiện sống trong nước, trên Osin blog của anh, bày tỏ quan điểm của mình ngay trên nhan đề bài viết “Tàu thì lạ sự hèn hạ thì quen”. Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, sống tại Úc nhưng có nhiều quan hệ gần gũi với Việt Nam, nhận định thẳng thừng: “Chưa thấy trong lịch sử Việt Nam, có thời nào mà Việt Nam khiếp nhược như thế.

Từ ba vị thế khác nhau với những lập trường chính trị có khi khác hẳn nhau, cả Ngô Nhân Dụng, Huy Đức và Nguyễn Văn Tuấn đều có nhận định giống nhau về giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay: Hèn!

Hình như chưa bao giờ trí thức Việt Nam, trong và ngoài nước, lại đồng ý với nhau như thế!

Hình như mọi người đều đồng thanh: Giới lãnh đạo Việt Nam hèn!

Riêng tôi, tôi không ngớt ngạc nhiên: Sao tự dưng họ lại đâm hèn đến vậy?

N.H.Q


Share/Save/Bookmark

Thứ Sáu, 24 tháng 7, 2009

Trăng góa

Nguồn : Việt Nam Thư Quán

Lê Minh Hà
...Cô đơn sấu rụng ngoài ngõ vắng
Con sóng nào vẫn vỗ về vào đam mê...

Hà Nội đêm trở gió (Lời Chu Lai - Nhạc Trọng Đài)


Tôi muốn ngồi dậy. Vầng trăng còn bị vướng đâu đó đằng sau một đám mây ở khoảng mênh mông bị chắn bởi khung cửa sổ và tôi muốn nhìn thấy nó. Nhưng tôi vẫn nằm im. Trong căn phòng mười sáu mét vuông dội lên tiếng thở của chồng con tôi. Đã có một đêm mất ngủ, tôi nằm nghe những tiếng thở đó và nhận thấy chúng bao giờ cũng lệch nhịp. Tôi đã gắng thở theo nhịp thở hoặc của chồng, hoặc của con. Nhưng không thể. Đêm ấy cũng là một đêm có trăng. Tôi đã nhìn trăng như thế nhiều năm.
Tôi đã thôi không chống chọi lại sự mất ngủ sau khi người chồng đầu của tôi mất một năm. Căn phòng nhỏ tôi đưa con về ở theo sự thu xếp của ông bà ngoại sau những dằn vặt không ngơi của nhà chồng tôi nằm ở tầng năm giữa một khu tập thể lớn. Đêm đêm vầng trăng đi qua đó, lúc đỏ quạch, lúc sáng xanh, lúc lạnh lung linh, lúc ảo não trong mưa, lúc lại bị chìm lấp đằng sau những tảng mây nặng trĩu hơi nước. Không phải lúc nào tôi cũng nhìn thấy nó. Nhưng tôi biết rất rõ rằng nó đang lang thang đâu đó trên cao và có lẽ chỉ mình nó biết rằng tôi thức
Mất chồng tuổi nào thì sự góa bụa mới trở thành một nông nỗi? Tôi goá chồng. Sớm không ngờ. Hai tư tuổi. Tôi chưa kịp làm gì, chưa kịp biết gì, hình như cũng chưa kịp mê say gì. Kể cả tình yêu.
Dù rằng tôi lấy chồng không do một sự ép buộc nào. Chúng tôi biết nhau từ lúc tôi mười bảy tuổi. Anh hơn tôi bốn tuổi, vừa rời đại học lên đường. Năm đó, tôi hăm hở bước chân vào đó. Đúng ngôi trường anh vừa đành lòng rời bỏ. Phải! Đành lòng! Tôi biết điều đó mãi sau này. Tôi biết anh nhập ngũ chẳng phải vì tiếng gọi thiêng liêng nào mà chỉ vì muốn đi thay người anh cả, muốn đáp lại một mong mỏi không thể nói ra của bố mẹ. Bao giờ anh cũng có một trách nhiệm nào đấy cần phải gánh vác ở thời tương lai. Thế nhưng cái trách nhiệm lớn nhất, lâu dài nhất, lằng nhằng nhất là trách nhiệm với mẹ con tôi thì anh đã không làm.Tôi làm sao trách anh được điều đó. Nghĩ về điều đó với một niềm cay đắng tôi cũng không dám. Điều ấy cũng từa tựa việc một người mẹ tiếc là đã sinh con chỉ vì quá cơ cực.

Vậy là anh đi đã mười một năm. Con tôi nay mười hai tuổi. Nó không biết mặt bố và lúc nào cũng thèm có bố. Cũng vì vậy mà khi có ai đó đùa nhả xui nó gọi bằng bố là nó gọi liền. Nhưng đấy là lúc nó còn bé, rất bé.
Lúc biết rằng anh không thể sống, gia đình đã nói xa nói gần về việc mang nó vào thăm anh. Anh từ chối, bảo bệnh viện bẩn thỉu không tốt cho trẻ, bảo vài ba hôm nữa ra viện anh sẽ về bế con... Tôi không hiểu vì sao. Nhưng chính tôi cũng không muốn điều ấy. Thằng bé còn nhỏ quá. Mới chín tháng. Nó sẽ không thể nhớ được mặt bố. Còn anh. Anh sẽ phải rời bỏ nó, rời bỏ tôi, ngày mai, ngày kia... Anh biết điều đó. Bởi anh tỉnh táo cho đến ngày cuối cùng trong đời. Một cuộc đời rất ngắn. Có hai tám năm. Mang thằng bé vào để anh nhìn mặt như vậy tôi cảm như là bất nhẫn.
Tôi không biết anh nghĩ gì trong mấy ngày cuối cùng. Anh ngủ chập chờn. Tôi cũng chập chờn bên giường anh, trong bệnh viện. Có một lần, cảm giác như chiếc ghế chao nghiêng, tôi choàng tỉnh. Anh không ngủ. Anh nhìn tôi. Cái nhìn đó tôi không quên mười một năm qua. Có lẽ sẽ không quên suốt đời. Nỗi khổ của tôi chính là thế. Chính là không biết quên.
Lúc nào tôi cũng có cảm giác anh ở đâu đó quanh tôi và gia đình nhỏ của tôi. Bây giờ là ba người. Tôi. Con tôi. Chồng tôi. Cũng đã từng là lính như anh. Không bao giờ tôi nói với người đang sống cùng tôi cảm giác về anh - người chồng đầu đã khuất của tôi. Tôi cũng không khóc, cả vào ngày giỗ anh.
Nếu đó là tình yêu sống mãi dễ tôi còn có thể nói ra. Nhưng đó không phải là tình yêu. Đúng! Không phải! Tôi hiểu điều đó ngay từ khi lấy anh. Tự nguyện lấy. Chồng sĩ quan, trẻ, có học. Vợ giáo viên nội thành. Bạn bè đồng thanh: Vợ chồng giáo khoa. Anh cười. Rất vui. Rất yên tâm về hạnh phúc của mình.
Chỉ riêng tôi là không. Anh biệt phái ở quân khu tả ngạn, nhưng theo xe đơn vị về Hà Nội luôn luôn. Những ngày thiếu nhau nung đốt chúng tôi làm cho những đêm của chúng tôi hừng hực, hừng hực. Nhưng dù thế, tôi vẫn không sao quên được ý nghĩ rằng mình chưa yêu, rằng mình sẽ suốt đời không biết thế nào là tình yêu.
Cái cớ để tôi gật đầu khi anh ngỏ lời thật đơn giản và thực ra là vô cớ. Anh từ quân khu về, đến thăm tôi tất cả các buổi tối còn được ở nhà. Như thế, suốt mấy năm tôi học đại học. Tôi và một đứa bạn gái một hôm hứng chí ra ga tiễn anh. Buổi trưa. Nắng gắt. Ga Hàng Cỏ sặc sụa mùi nước giải. Có cảm giác cái mùi ấy bốc lên từ mọi ngóc ngách. Từ phòng bán vé. Từ phòng chờ. Từ đường ray. Từ các toa tàu. Tôi, con gái Hà Nội bốn đời, chưa bao giờ phải đi đâu xa một mình bằng tàu bằng xe. Chưa bao giờ ra ga. Buổi trưa đó tôi sững sờ. Anh khác hẳn những tối đến nhà tôi. Cái ba lô con cóc trĩu sau vai. Một chiếc khăn mặt buộc bên quai ba lô đã được dấp nước cẩn thận. Mồ hôi lan từ sau lưng ra, ướt sũng một khoảng vai áo phía trước. Chúng tôi nhìn nhau, lặng ngắt. Tôi có cảm giác bị một người vô hình lôi tuột khỏi thế giới của tôi. Cảm giác ấy tăng mãi khi một đám lính trẻ, có lẽ trẻ hơn tôi và anh ào tới:
Thủ trưởng, thủ trưởng mua dùm em một vé. Em nằm ở ga hai ngày nay rồi. Quá phép mất rồi...
Nó quá phép từ ở nhà chứ không phải vì chậm vé đâu. Nó ở nhà cày cho ông bà cụ đấy mà. Có em đây này. Em trả phép đúng hạn mà bị tắc ở đây. Thủ trưởng hỗ trợ em một vé.
Mỗi người một lời. Những lời giống nhau và khác giọng. Những khuôn mặt giống nhau, phờ phạc. Những cái nhìn giống nhau, nhẫn nhục, mà vẫn tinh quái khi họ liếc qua tôi và đứa bạn. Những bộ quần áo vải thô lùng thùng, nhàu nát, xệch xạc. Ba lô con cóc lộn trái thành một cái túi xách lếch thếch. Nắng như đổ lửa. Gió ào qua từng cơn phả cái nóng sặc sụa mùi nước giải...
Lần anh về Hà Nội sau đó tôi nhận lời anh. Chỉ vài hôm sau ngày cưới tôi biết rằng tôi chưa yêu, rằng tôi sẽ không yêu. Nhưng tôi cũng biết tôi sẽ gắn bó với anh mãi mãi.
Thế mà cái chết đã tới, rất chóng vánh tách chúng tôi ra. Vậy là bao giờ chúng tôi cũng ở hai thế giới khác nhau.
Những ngày anh nằm viện vì chứng bệnh lạ lùng, tôi hầu như không ngủ. Trông anh ở viện. Đạp về trường. Đảo qua nhà nhìn con. Bầu vú tôi căng nhức. Nhưng tôi không thể về nhà theo cữ cho con bú. Thằng bé cai sữa vào độ ấy, lúc mới được chín tháng. Những ngày ấy tôi quên ý nghĩ vẫn luẩn quẩn trong đầu bấy lâu. Nhưng rồi nó trở lại một cách quái gở. Đúng lúc tôi đứng trong nhà lạnh chuẩn bị liệm xác anh. Da anh lúc đó xám xanh, mắt nhắm, không còn ám ảnh tôi bằng cái nhìn trôi lạc, đau đáu, những ngày cuối cùng. Có hai người giữ hai cánh tay tôi. Vô ích. Tôi đứng, không gào thét, không giãy dụa, không than thở. Nước mắt ứa ra. Người bềnh bồng như chênh vênh trên ban công không có chấn song chắn. Không hiểu sao lúc ấy tôi lại nghĩ về cái hiệu giặt là tôi vừa thấy trên con đường từ nhà tới viện. Mười mấy năm rồi Hà Nội mới thấy có lại một cái hiệu như thế.
Tôi cũng không gào thét, than thở vào buổi chiều đưa anh. Nghĩa trang sau mấy ngày mưa, nắng chói chang trở lại. Mặt trời tựa hồ phình ra qua sự khúc xạ của hơi nước. Không khí như bị nung đốt. Tôi đứng bên mộ anh, chợt run, nghiến răng lại mà vẫn run. Hai đứa em gái anh, đứa hơn đứa kém tôi một tuổi lăn lộn. Tôi nhìn ra xa. Phía đằng kia nghĩa trang cũng có một đám ma. Lèo tèo vài người. Bóng đàn bà mặc áo xô. Sau này nhớ lại, tôi ngạc nhiên vì không hiểu sao lúc đó tôi lại đoan chắc người chết là cán bộ thoát ly, cỡ cán sự ba bốn gì đó và vợ con mới ở quê ra. Mà lúc ấy là lúc đắp mộ anh. Lúc ấy, tôi không dám nhìn vẻ chăm chỉ hào hứng của mấy người phu mộ. Mắt tôi chạm dáng đứng đứa em gái. Mặt nó bơ phờ. Lúc còn ở nhà xác bệnh viện tôi thấy nó mặt nhòe nước mà vẫn không tháo kính đi rất nhanh ra sau bức tường ngăn khu nhà xác với khu điều trị. Bao giờ nó cũng có kiểu ấy. Bao giờ nó cũng tách ra khỏi đám đông.
Tôi chỉ có nó làm chị em. Mẹ tôi mất khi chúng tôi còn rất bé. Nó và tôi không hợp nhau. Nó tính rất lỳ. Như một thằng con trai, dù cực ốm yếu. Thế nhưng không hiểu vì sao hôm tôi cưới, lúc đưa dâu, tới nhà anh, nó lại khóc. Rất thảm. Mắt cứ nhìn trừng trừng, nước từ đó dào ra. Nó khóc làm tôi khóc. Có một bà đã gắt cả hai chị em tôi đừng làm điều gở. Phải đó là điềm gở? Vì chồng tôi đi chỉ sau đó có dăm năm.
Tôi không biết có phải tôi lấy anh vì thương anh? Chắc không phải. Có thể điều đó chỉ đơn giản là cảm giác mặc cảm ở tôi, một đứa con gái chưa bao giờ sung sướng mà lại biết có người lận đận hơn mình. Nhưng khi anh mất đi, lòng thương anh gậm nhấm từng ngày của tôi. Đúng là vậy. Thương anh hơn tất cả. Hơn thương đứa con mồ côi cha sớm đến thế. Hơn thương thân. Những đứa em anh lấy chồng, anh trai anh lấy vợ, bố mẹ chồng tôi dần bớt vẻ rầu rĩ. Nhạt dần những lời nhắc anh. Rồi những lời ấy chỉ trở lại vào ngày giỗ anh. Mà ngay cả những ngày giỗ cũng dần bớt vẻ thảm não. Em anh cùng chồng con trở về tíu tít cỗ bàn. Những câu chuyện râm ran xung quanh bọn trẻ con đang lẫm chẫm tập đi đang bi bô tập nói. Tôi có cảm giác vẻ sầu muộn của mình như lạc điệu, như làm phiền cả gia đình. Tôi có cảm giác tôi và con tôi, và cả anh bị đẩy bật ra trong ngày đó.
Mà không hẳn chỉ là những ngày đó. Cả trong ngày thương binh liệt sỹ. Công đoàn nhà trường, phường phố, cán bộ phòng thương binh xã hội tới thăm mẹ con tôi. Trịnh trọng. Hoan hỷ. Ngồi tiếp mọi người mà đầu óc tôi lang thang tận đâu đâu. Có lần ý nghĩ tôi trở về nơi quàn xác anh. Nhà xác viện 108 trông thẳng ra vườn hoa Pasteur và buổi chiều đưa anh là một buổi chiều rất đẹp. Lúc xe tang từ từ đi ra, tôi thấy gần cổng đám bệnh binh đã cùng nằm với chồng tôi trong một khoa. Những người lính rất trẻ, được đưa về từ mặt trận phía bắc, có chung một chứng bệnh như anh. Da họ mỗi ngày một trong đi, trong tái, như bị rút mất máu. Mà đúng là mất máu. Chỉ cần một vết xước nhỏ là máu rỉ ra không làm sao đông lại được. Xe tang đi qua họ và tôi nhớ lúc đó tôi đã nghĩ rằng chỉ có họ là thương anh, thương tôi, thương con tôi. Chỉ có họ. Dù rằng họ không hề đến bên tôi nói một lời chia buồn. Giữa họ và tôi có một mối cảm thông, được kết bởi cái chết vừa tới và cả bởi những cái chết chưa tới. Khi hồi tưởng lại điều đó bao giờ tôi cũng đau đớn. Nỗi đau người ta chỉ có khi chứng nghiệm cái chết và hoàn toàn bất lực. Như tôi trong những ngày cuối chăm chồng.
Mà điều làm tôi thương anh nhất chính là vì tôi, vì tôi biết rằng tôi không yêu anh khi anh còn sống. Sau cái chết còn có gì? Tôi nghĩ người chết chỉ khác người sống ở mỗi một điều là không thể nói. Người chết bay lượn quanh chúng ta, hiển hiện ở mọi nơi, mọi lúc, nhưng không sao hòa được vào thế giới của người sống, và chẳng ai biết thế. Người chết đơn giản là bị quên. Chồng tôi đã bị quên, khi anh chưa đầy ba mươi tuổi.
Tôi bắt đầu mất ngủ từ khi anh qua đời. Những đêm, những đêm đi qua tôi, dằng dặc, hỗn độn bao ý nghĩ. Vầng trăng cũng từng đêm đi qua tôi. Tròn. Khuyết. Vô hình. Mất ngủ mãi, tôi đâm mong những đêm bơm nước. Ba ngày một lần tầng năm của tôi có nước, vào khoảng giờ oái oăm: đêm, mười một giờ. Phải hứng nước đổ vào phuy, giặt chăn chiếu, quần áo... Cả tầng xôn xao tới hai ba giờ sáng. Khổ nỗi nếu tôi loay hoay chuyện nước non thì thằng con tôi cũng thức. Nó bước những bước ngắn chủn, thập thững quanh phòng trong cơn buồn ngủ, nhưng nhất định không chịu lên giường trước mẹ. Nó chỉ có tôi để mà gắn bó và tôi sợ rằng nó sẽ yếu mềm về sau.
Những đêm khác, tôi nằm nghe thằng con thở. Thức qua đêm nhiều, tôi quen dần với tiếng chim lợn kêu cữ hai giờ sáng. Tiếng chim quái gở, eng éc giữa trời thành phố hồi đầu làm tôi thấp thỏm suốt cả ngày hôm sau. Người ta bảo chim lợn không mang điều lành. Điều dữ nhất đối với đời đàn bà của tôi đã xảy ra rồi. Tôi hết sợ. Chắc chim lợn cũng là loài chim mất ngủ. Tôi thường có cảm giác ấy vào những đêm mùa đông trăng suông và hoa sữa. Ban ngày nắng hanh, mùi hoa sữa về đêm nồng nàn đến khó thở. Bên kia đường, dưới khung cửa sổ phòng tôi là sông Kim Ngưu - cái cống lộ thiên của thành phố - thường bốc mùi vào những chiều hè oi ả trước khi dông đến. Mùa đông. Hoa sữa thơm bứt dứt. Dòng sông đen lặng lẽ chở trăng mờ. Tiếng chim lợn kêu đêm phập phồng một niềm tiên cảm. Có vẻ cũng lãng mạn. ý nghĩ ấy có lần đã làm tôi phì cười.
Nhưng thường thì tôi nín hơi rồi thở dài, thật dài. Không bao giờ tôi khóc. Thiên hạ thường hay tưởng tượng cảnh một người đàn bà cô đơn khóc lặng lẽ một mình trong đêm. Không đúng. Người ta chỉ khóc khi có người biết mình khóc, khi hy vọng sẽ được dỗ dành. Còn tôi? Chồng chết rồi, phận sự của tôi là dỗ con chứ không phải để con dỗ. Tôi dỗ dành nó suốt bao năm qua. Khi nó còn bé, tôi phải dỗ nó rằng bố đi xa và không được gọi chú... bác... là bố. Hồi sang cát cho chồng tôi, nó gần bốn tuổi, hý hửng suốt mấy ngày rằng sắp được đón bố về. Khi sắp xương vào tiểu sành và đưa tới nghĩa trang liệt sỹ Hà Nội dưới Ngọc Hồi nó vẫn còn hý hửng. Lúc chôn tiểu xuống, nó gào lên, nhảy bổ vào người phu mộ: Mẹ mày! Giả bố tao đây! Tôi không hiểu nó học ở đâu và từ lúc nào câu chửi đó. Và cái lúc mọi người đứng khóc, bố mẹ chồng tôi, bố tôi, đại diện đơn vị cũ của chồng tôi... thì tôi phải cắn răng làm mặt tỉnh, rẽ rọt bảo con rằng bố sẽ về nhà, bố sẽ ở trên bàn thờ. Tám năm đã qua, nhiều lúc tôi thấy mình choáng váng vì cảm giác tiếng gào của nó buổi sáng tinh sương đó vẫn cứ chói lói trong đầu, và cả vì cái nhìn của đứa em gái tôi lúc đó. Chỉ riêng nó không khóc. Nó đứng nhìn hai mẹ con tôi dỗ nhau và tôi thấy rất rõ gọng kính của nó lóe sáng bởi một tia mặt trời.
Đứa em gái lỳ lợm của tôi... Bao giờ tôi cũng có cảm giác rằng mình không hiểu nó. Nó học giỏi. Thích thành nhà báo. Nhưng rút cục thì nó thành nhà giáo. Vì ốm yếu. Vì cảnh nhà. Vì đủ thứ buộc phải tính toán. Nó đích thực bị nghề chọn. Thế nhưng nó lại làm việc dễ dàng. Học trò nó lớn hơn học trò tôi, thích nó và sợ nó. Có lần nó than rằng nó rất dễ với học trò, cũng không già hơn học trò là bao, thế nhưng giữa nó với học trò vẫn không có sự chan hòa như giữa tôi và bọn trẻ của tôi. Tôi thì tôi biết. Cả trong quan hệ đó nó vẫn tách mình ra để nhìn. Nhưng chính vì thế mà học trò của nó thích. Nó giảng rất lạ. Theo tôi nó nên làm một nghề gì đó tự do. Lối lên lớp của nó vào độ mười năm trước và ở một trường huyện nào đó thì chắc ăn đủ. Sẽ không ngóc đầu lên được vì bị chỉ trích. Chẳng kiểm tra sĩ số, chẳng gọi học sinh lên bảng lấy điểm kiểm tra miệng, chẳng đọc cho học sinh chép, chẳng nêu câu hỏi phát vấn, cũng không tổng kết, củng cố và vân vân. Buông lửng như tiểu thuyết Tàu ngày xưa. Tôi có lần đến tìm nó ở trường. Đầu hè. Nắng ong ong làm buồn ngủ. Nó đang lên lớp. Tôi đứng ngoài nhìn. Những đứa học trò mười bảy mười tám đờ ra nghe, rồi đột ngột vớ bút ghi lia lịa như bị ma ám. Còn nó thì cũng chẳng khác gì bị ma ám, hay tay thọc vào túi quần, lang thang trong lớp. Có một lúc nó cầm mẩu phấn ném đánh toách lên bảng khiến lũ học trò giật mình, tôi cũng giật mình. Và tôi lạ lùng không thấy tiếng cười của bọn học trò.
Tôi biết tôi không thể tìm đâu ra hứng để giảng bài như nó. Thế nhưng theo tôi thì lối lên lớp của nó thiếu hẳn vẻ mô phạm cần có trong nghề. Điều ấy chẳng ích gì cho nó và cho cả lũ học trò. Hình như học trò của nó nhiễm dáng dấp kỳ kỳ của nó, lối sống của nó. Hay là chúng nó đã sẵn tính đó rồi? Bằng chứng là mười bảy mười tám đứa học trò mà tôi biết độ ấy đều lấy lấy vợ lấy chồng muộn. Con gái hai sáu hai bảy rồi mà cứ sống tưng tửng. Những cô gái ấy hàng năm lại cùng người yêu rồng rắn đến nhà ngoại tôi vào 20 -1. Tôi có lúc đã băn khoăn không hiểu chúng nó có liều như cô chúng nó? Có liều từ chối vào Đảng? Có liều bỏ việc? Có liều bỏ tất cả ra đi? Em tôi viết cho nhà khá đều, giọng thường rất lãnh đạm. Châu Âu tuyết dày. Châu Âu âm 10 độ. Châu Âu làng nào thành phố nào cũng có nhà thờ. Và công việc của nó. Bán hàng. Dọn dẹp. Đón con. Cơm nước chờ chồng. Có một lần nó ra khỏi sự lãnh đạm, hài hước: Toalette nhà người tìm đến cọ - Lâu rồi cưỡi chổi nổi chai tay. Từ ngày nó đi, những đêm mất ngủ, ý nghĩ của tôi lại thêm một lần hỗn độn.
Tôi biết sau tôi nó là người thương người chồng đã khuất của tôi nhất. Dù rằng lúc anh còn sống nó vẫn thẳng thừng tuyên bố rằng không sao hợp được với những người thích nghi được với đời sống quân ngũ. ấy là lúc anh định làm mối cho nó một cậu chàng bác sỹ quân y hết sức điển trai. Đến lúc nó yêu thì kỳ quặc, đúng là kiểu ma đưa lối quỷ dẫn đường. Lấy tiêu chuẩn thời chiến để xét thì không thể hiểu nổi. Lấy tiêu chuẩn thời bình cũng thế. Nó cứ lừng lững yêu. Cả nhà chẳng ai dám hỏi một câu có ẩn ý nào trước khi nó thừa nhận rằng cái thằng vẫn đi thư viện cùng nó, vẫn hay mang cho nó đủ thứ hoa dại, cả hoa rau cải cúc, là người nó yêu. Cả nhà lặng phắc nhìn bố tôi khi nó thông báo hết sức lạnh lẽo việc bố mẹ người yêu nó muốn đến thưa chuyện. Cuộc sống của nó toàn thua thiệt, cũng y như tôi. Nhưng đấy là tự nó.
Tôi không hiểu sao tính khí nó vậy mà chồng tôi lúc còn sống lại thích. Những lúc chị em lục đục, bao giờ anh cũng bênh nó. Có lần tôi cáu: Sao anh cứ bênh nó chằm chặp thế? Anh cười: Không bênh em gái người yêu thì lấy ai ủng hộ mình làm một trận tổng tấn công! Lúc anh mất, nó không gào thét như mấy cô em chồng tôi, cứ mím môi lặng lẽ, khóc. Còn lúc ở nghĩa trang mặt nó khô khốc, cái kính bắt nắng lóe sáng. Tôi biết là nó thương anh xót xa. Đã có lần nó bảo bạn nó - một cô bé tính hay nhõng nhẽo và đáng yêu: Khổ à? Không thiết sống thì thử chết một cái xem nào! Sau đó lại vỗ về: Khổ nhất là phải chết. Còn sống là còn sướng. Bây giờ buồn khổ thì cứ khóc. Tao nghe. Nói giọng ấy mà cô bé kia nín được mới kỳ.
Khi thằng con tôi tròn bảy tuổi, một chiều muộn nó lên nhà tôi, bảo mệt bỏ buổi dạy thêm, dẫn hai mẹ con tôi đi ăn phở trừ bữa. Lúc về, thằng con tôi xin sang hàng xóm xem tivi, nó bảo tôi: Cu Chũn lớn rồi. Ngoan thì có. Nhưng hơi mềm tính. Lớn lên con trai con đứa thế là khổ. Với lại một mẹ một con, dồn hết cho con, đến lúc nó lớn, nó sống đời nó, thế nào mình cũng hẫng. Lúc ấy có muốn sống cho mình thì cũng muộn. Rồi thế nào cũng xoay ra đay đả con rằng nó ích kỷ, bất hiếu bất mục. Chẳng ích gì. Khổ con. Khổ mẹ. Lấy chồng bây giờ là vừa.
Rồi nó lại nói:
- Lấy chồng lần này là để tìm bố cho con. Đừng có ngõi mấy gã trai tân. Trai tân bằng lứa thì trăm ông có chín chín ông ngẫn ngẫn. Tìm ai đồng cảnh...
Tôi không biết phải trả lời nó thế nào. Im lặng. Căn phòng cuối chiều rực màu nắng quái kỳ dị, rồi chìm rất nhanh vào bóng tối. Em gái tôi đứng dậy, thắp một nén hương trên bàn thờ chồng tôi, lặng lẽ bước ra ngoài. Tiếng chân nó xuống cầu thang, bặt hẳn, sau đó là tiếng rồ xe máy. Nó đi. Tôi ngồi nguyên thế cho tới lúc bầu trời sáng dần một màu trắng sữa. Trăng. Non tái. Dịu dàng. Xa cách. Chấp chới hiện trên bầu trời. Giống như một nét mày con gái có thể ngạc nhiên trước biết bao điều. Tôi xòe tay, nhìn, những ngón nhợt nhạt. Mơ hồ nào run mãi. Mà cũng có thể là ánh trăng. Hương trên bàn thờ đã tàn. Phảng phất mùi hoa sen tôi mua lúc chiều. Mùi hương. Mùi hoa. Tôi rùng mình. Mùi chùa. Hôm đưa chồng tôi lên chùa. Gần bảy năm đã qua từ hôm ấy.
Em gái tôi đi sau đó. Chồng nó đi công tác. Trong nhà nó bảo: May. Đi được lần này chắc rửa được lý lịch cho con. Ra ngoài nó cười: Ông ấy đi vùng kinh tế mới. Thế nào, không phải à, không phải nước Đức bây giờ là vùng kinh tế mới của dân mình à?
Rồi nó bán nhà mang con theo chồng. Cả nhà không dám gàn. Nó bảo: Đời phải có lúc liều. Bố nó đã liều đi không về. May ra tính đúng thì thằng bé không phải mất công học những điều sớm muộn gì rồi cũng phải quên.
Nó đi sau khi tôi tái giá ít ngày. Không biết nó làm công tác tư tưởng thế nào mà cu Chũn của tôi người lớn hẳn. Thằng bé gọi người chồng thứ hai của tôi là ba, dù rằng anh không phải người Nam. Mấy cô dạy cùng trường tôi tò mò, nó bảo: Tại cháu có bố rồi. Mới lại ba cũng là bố. Hai cha con hòa hợp với nhau. Anh thương nó. Anh thương người đã khuất, người đồng đội mà anh chỉ tường mặt qua tấm ảnh trên bàn thờ. Tôi biết rằng tôi không thể mong đợi gì hơn khi đi bước nữa. Thế nhưng tôi vẫn mất ngủ. Đêm đêm tôi nằm nghe tiếng thở của chồng, của con, dội lên, chìm đi, bao giờ cũng lệch nhịp. Đêm đêm tôi nhìn ánh sáng bên ngoài cửa sổ để đoán độ tròn trăng và khoảng mênh mông nào trăng đi qua. Đêm đêm vầng trăng đi qua tôi. Đêm của tôi vẫn không đổi, vẫn như đêm của những ngày góa bụa. Hỗn độn bao ý nghĩ. Tôi biết mình may mắn khi tìm được người đàn ông hiền hậu biết thương con mình. Tôi nhớ lời em gái tôi. Tìm bố cho con. Vậy là ngay cả cuộc hôn nhân này của tôi cũng không bắt đầu từ tình yêu. Không, có bắt đầu từ tình yêu, nhưng đó là một tình yêu rất khác, không phải là tình yêu đàn bà.
Tôi nhớ em tôi. Nó đang ở rất xa. Khi vầng trăng đang rơi dần đâu đó phía chân trời thì nơi nó còn là buổi chiều. Nó đang làm gì? Bán đồ ăn ở một góc phố lạnh nào? Lau toalet, nhà tắm? Nó nghĩ gì? Tốt nhất là đừng nghĩ gì. Nó khác tôi. Nó có một tình yêu riêng để mà cố. Nhưng dù có dù không, nó cũng đâu sung sướng gì hơn tôi. Nó gửi tiền cho cả nhà. Nhận tiền nó gửi về, tôi thấy chua xót. Tôi hình dung cái dáng gầy ốm của nó nhoài bên một cái bồn tắm nào đó ở cái xứ xa xôi mà nó đã mang con tìm tới theo chồng. Chưa bao giờ nó than khổ với ai. Cứ lặng lẽ, lì lợm sống, sống cho cả người đang sống lẫn người đã chết.
Và tôi, cũng chưa bao giờ tôi nói với nó với ai rằng tôi mất ngủ. Tôi có đi khám. Chẳng ích gì. Bác sĩ bảo tôi bị suy nhược. Mất ngủ nên suy nhược hay suy nhược nên mất ngủ? Không biết. Vẫn là những đêm như thế, vẫn vầng trăng khi tỏ khi mờ khi tròn khi khuyết, vẫn tiếng kêu éc éc kì quái của con chim lợn mà tôi không biết hình thù, vẫn mùi thum thủm xông lên từ con sông đen bên kia đường những đêm trở trời, vẫn mùi nắng hanh trong nồng nàn hoa sữa, nồng nàn như đàn bà... Những đêm này của tôi hình như không chấm dứt. Phía trước tôi còn có bao nhiêu đêm nữa?
Tôi sống với con tôi, với chồng tôi...
1997- 2001

Share/Save/Bookmark

Thứ Tư, 22 tháng 7, 2009

Nguyễn Huy Tưởng (1912-1960), một quan niệm về lòng yêu nước

Nguồn : Sóng từ trường 2

Thụy Khuê

Sóng từ trường II


Nguyễn Huy Tưởng (1912-1960),
một quan niệm về lòng yêu nước



Trong số những nhà văn nổi tiếng, theo cách mạng từ đầu và trung thành đến cuối(1), dường như chỉ có một mình Nguyễn Huy Tưởng bạt ngã những đòi hỏi chính trị nhất thời, để tạo một sự nghiệp văn học xa lánh tuyên truyền, đặt nhân cách người trí thức và giá trị nghệ thuật, tư tưởng lên trên tất cả, trong văn cũng như trong đời.
Phải chăng vì thế mà ngày nay, khi đọc lại mảng văn học cách mạng, chỉ toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng còn trụ vững, qua lối nhìn lịch sử chân phác, lành mạnh và quân bình: Ðối với ông, lịch sử không là một sản phẩm quảng bá chiến tranh, cũng không là bộ máy phân biệt chính tà, lịch sử chỉ là sự chuyển biến nhân sinh trong những điều kiện đặc dị mà từ đó nhà văn có thể triển khai những băn khoăn sâu sắc về thân phận con người, thân phận nghệ thuật. Ở tầm mức đó, sử quan của Nguyễn Huy Tưởng thoát khỏi lăng nhãn "bạo lực cách mạng" khắc nghiệt đã kiềm chế văn chương và phong tỏa trí thức thời đại ông.
Nguyễn Huy Tưởng đi tìm cổ điển. Ở tiểu thuyết lịch sử, văn ông âm hưởng biền ngẫu, nghiêm đài. Cố ý cổ điển hóa văn phong trong cách chỉnh lời, chuốt ý làm toát ra không khí cổ sử, đối thoại gắn bó với triều nghi, với tâm uất giai nhân trong nội cảnh vàng son, kích thế uy hùng của những chiến thắng Vân Ðồn, Vạn Kiếp, Bạch Ðằng...
Phải đó là tham vọng tái trúc không gian và tâm thức quá khứ qua ngôn ngữ xưa? Và đồng thời tân trang hóa tiểu thuyết lịch sử: Ðưa ra những chủ đề, những biện thức về bản thân con người trực diện với hoàn cảnh lịch sử, với sáng tác nghệ thuật; hoặc về ý nghĩa của lòng yêu nước, về mối tương quan giữa nghệ thuật và quần chúng, về sự đe dọa của áp lực thần quyền, áp lực thị dân trên số phận sáng tác...
Như dự báo và đề phòng một tương lai sáng cho cách mạng và tối cho văn học trong đó thơ văn chỉ là những sản phẩm tiền chế vội vàng để phục vụ những đơn đặt hàng nhất thời về lòng yêu nước, tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng (phần lớn viết trước 45 và còn được viết đi viết lại nhiều lần trong suốt thời kỳ kháng chiến) không đi cùng chiều với đảng lệnh văn hóa, mà phản ánh nỗi băn khoăn, lao lung trường kỳ của một nhà văn có tư tưởng biệt lập và biệt cách, muốn viết nên những tác phẩm cổ điển, gắn bó với lương thức con người.

Âm ỷ những trăn trở về trách nhiệm trí thức trước thời cuộc, về lòng ái quốc và chiến tranh, về sự giằng co giữa tinh thần phản chiến nhân bản và cường độ yêu nước cực đoan chủ chiến, chảy trong máu người dân mất nước, tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng, nếu đôi chỗ tình yêu nước có chiếm ưu thế thì nỗi kinh hoàng của con người trước cảnh chém giết cũng dữ dội không cùng.
Ở thời điểm mà sự phỉ báng và tiêu diệt đối lập là quốc sách, Nguyễn Huy Tưởng là người cộng sản đầu tiên và duy nhất, dám công khai đề cập đến vấn đề đối lập trong tác phẩm văn học. Tinh thần chủ hòa, muốn thương thuyết của "những người ở lại" trong thành, được nêu lên trong "Sống Mãi Với Thủ Ðô". Những người không theo cách mạng, đối lập với kháng chiến, được coi như những thực thể khác, những lựa chọn khác, cần được tìm hiểu và trân trọng: Tinh thần dân chủ trong ông, âm thầm mà quyết liệt, thật sự chưa bao giờ vắng mặt, cúi đầu.
Ở thời điểm mà giai cấp thợ thuyền được độc tôn ngang hàng với lãnh tụ (không biết thật tình hay giả mạo), Nguyễn Huy Tưởng xét lại ý thức lao động, mối tương quan giữa nghệ thuật và thợ thuyền, nghệ thuật và bạo lực. Nguyễn Huy Tưởng tra khảo trách nhiệm của lao động vô sản trong các phá phách đền đài, miếu mạo. Ðặt câu hỏi: Ở đâu bắt đầu và ở đâu chấm dứt trách nhiệm của bạo lực cách mạng? (Kịch Vũ Như Tô)
Chảy thầm trong nội tâm mỗi tác phẩm là lòng ái quốc mãnh liệt, chìm dưới chiều sâu của những điều không nói, tẩm trong bản chất của con người gắn bó với thân phận, tình nghĩa với người xung quanh, xót thương kẻ không cùng giới tuyến. Phế truất quan niệm tuyệt đối hóa và một chiều hóa lòng yêu nước. Yêu nước không là sở hữu của riêng ai. Nó cũng không phải là thứ ngôn ngữ tuyên truyền, đầy mặc cảm và phi nghệ thuật. Nội dung lòng yêu nước, nơi Nguyễn Huy Tưởng, thuần phác và bình đẳng với mọi người, cả những người không yêu nước. Nó thể hiện ý niệm tự do lựa chọn, hội nhập với tình yêu sự sống, và là một giá trị nhân bản, không thể dập vùi, thổi phồng hay sa thải, theo đòi hỏi chủ quan của chính trị lịch sử.




Tiểu thuyết lịch sử Ðêm Hội Long Trì

Truyền thống viết tiểu thuyết lịch sử ở nước ta kể như bắt đầu từ Hoàng Lê Nhất Thống Chí. Ngô Thì Chí trình bầy cục diện lịch sử dưới dạng chất liệu sống, với những chi tiết ngoại sử để cung cấp cho người đọc những thông tin về sinh hoạt triều đình, về xã hội, về ngôn ngữ Việt Nam thời Lê Mạt. Những người đi sau như Phan Trần Chúc, Nguyễn Triệu Luật, Lan Khai... thường dựa trên cơ sở Hoàng Lê Nhất Thống Chí để dựng tạo tác phẩm của mình.
Nguyễn Huy Tưởng không theo hướng ấy, ông sáng biến một không khí lịch sử riêng, không có tính cách phóng tác theo Hoàng Lê Nhất Thống Chí như Bà Chúa Chè, Trịnh Khải, Loạn Kiêu Binh... của Nguyễn Triệu Luật, cũng không lãng mạn hóa lịch sử như Lan Khai. Nguyễn Huy Tưởng dựa vào một dữ kiện lịch sử có thật, đôi khi chỉ được ghi lại vài dòng trong chính sử, rồi ông nghiên cứu về xã hội, phong tục, ngôn ngữ thời đại và hư cấu thêm tình tiết, để tạo nên một bối cảnh khá chính xác, có sức hấp dẫn của tiểu thuyết, với văn phong bi tráng, gọi hồn nước. Ông vừa tận dụng tích cách ngụy tín (mauvaise foi, chữ của Sartre) hay là tính cách thông đồng giữa ngườì viết và người đọc (biết rằng bịa nhưng vẫn tin) trong tiểu thuyết, lại vừa chiếm hữu lòng tin đích thực của độc giả qua những dữ kiện lịch sử có thật, để đưa ra những chủ đề suy tưởng về tâm thức và hành động của con người bị quy định trong hoàn cảnh lịch sử. Tiểu thuyết của ông vừa sát lại vừa xa lịch sử.
Tuy lấy Thăng Long - Ðông Ðô - Hà Nội làm bối cảnh cho tiểu thuyết của mình, Nguyễn Huy Tưởng có phải chỉ gắn bó với đất kinh kỳ hay không?
Không. Thăng Long chỉ là cái cớ, là phương tiện dựng truyện. Tác giả đã vượt Thăng Long, vượt thế chính trị của Thăng Long để đến với địa linh, địa hình đất nước.
Nguyễn Huy Tưởng dùng Hà Nội như một tựa điểm để thoát ly Hà Nội, để tiến về Chi Lăng, Vạn Kiếp, Vân Ðồn, tiến vào lòng người ở những ngã ba lịch sử. Kịch Vũ Như Tô và hai tiểu thuyết Ðêm Hội Long Trì An Tư, đều lấy bối cảnh Thăng Long, nhưng khi đọc xong, chúng ta không biết thêm gì thêm về Thăng Long, mà lại thấy mở ra bao nhiêu câu hỏi về đất nước, nghệ thuật và con người.


Sách Tang Thương Ngẫu Lục của Phạm Ðình Hổ và Nguyễn Án viết về đêm Hội Long Trì:

"Ðúng hôm rằm, Chúa ngự ra chơi Bắc cung. Cung này có cái ao gọi là Long Trì, rộng độ nửa dặm, giồng nhiều hoa: hoa sen, hoa súng v.v... Bên bờ ao đắp đất, chồng đá làm núi, chỗ cao chỗ thấp, dàn đặt mặt trước mặt sau, trông đường nào cũng có thế đẹp. Bên phải để riêng một chỗ ngồi dành cho việc đàn hát. Trên bờ ao có giồng mấy trăm gốc phù dung, treo đèn ở trên, ánh soi xuống nước, lấp lánh như muôn vàn ngôi sao (2).

Ðêm Hội Long Trì dựng trên bối cảnh lịch sử kể trên vào cuối thế kỷ XVIII, dưới thời Tĩnh Ðô Vương Trịnh Sâm (1739-1782). Chúa say mê Tuyên phi, dung túng Ðặng Lân (Cậu Trời), em ruột Ðặng Thị Huệ. Ðể làm vừa lòng người đẹp, chúa đem Quỳnh Hoa Quận Chúa, người con gái yêu kiều và yếu đuối của mình gả cho "Cậu Trời" vô lại.

Theo sát với bối cảnh lịch sử, Nguyễn Huy Tưởng đưa Long Trì vào tiểu thuyết bằng những hàng: "Hồ Long Trì đã thành một nơi bồng lai mộng ảo, cách biệt với phàm trần. Hồ rộng hơn nửa dặm, thả rất nhiều sen ấu. Bên hồ, có đắp những ngọn giả sơn rất to, bằng đất hoặc bằng đá. Trong hang, trong hốc, hoặc trên đỉnh, hoặc dưới chân, hoặc trước hoặc sau, ẩn ẩn, hiện hiện, có những chàng Tương Như hay những gã Tiêu lang ngồi hòa nhạc ăn mặc ra vẻ tiên phong đạo cốt. Núi vọng ra những tiếng bổng tiếng chìm, tiếng ti, tiếng trúc, nghe lả lướt du dương. Bên hồ, trên cành hàng mấy trăm gốc phù dung, dương liễu có treo muôn thứ đèn lồng bằng gấm vóc. Những đèn ấy đều do chúa Tĩnh Ðô sai cung nữ chế ra, tinh khéo tuyệt vời, mỗi chiếc đáng giá mấy lạng bạc. Xa trông như muôn vàn sao lốm đốm sáng."
(Nguyễn Huy Tưởng Tác Phẩm Chọn Lọc, NXB Hội Nhà Văn, 1994, trang 7 và 8)


Ðêm Hội Long Trì mở cửa vào phủ chúa, một Tĩnh Ðô uy nghi, bách biến, chao đảo giữa thần quyền và nữ sắc.
Ở đây, nữ quyền bị diệt, nó hiện hồn dưới dạng nữ sắc. Dưới dạng này, nó có khả năng hủy hoại những quyền lực tuyệt đối. Nữ sắc bành trướng trong môi trường xa xỉ quốc gia, dưới những lộng hành của loạn thần và bất lực của những người ngay thẳng. Nếu chủ đề thứ nhất của Ðêm Hội Long Trì hướng về sự chuyên quyền của sắc đẹp, thì chủ đề thứ hai hướng về trách nhiệm của kẻ sĩ, võ cũng như văn. Ở thời buổi nhiễu nhương, cái học từ chương, ngâm vịnh của bọn Bảo Kim, có tác dụng gì cho đất nước? So với thực lực võ tài của Nguyễn Mại? Vị trí yếu hèn của người trí thức, vấn đề nhập thế của kẻ sĩ? Nỗi hoang mang trước những câu hỏi có thể đặt ra cho một chàng trai 27 tuổi (thời Nguyễn Huy Tưởng viết Ðêm Hội Long Trì, Vũ Như TôAn Tư), những năm 39-40 khi gót giầy thực dân đã đặc chặt bốn bề?

*

Sự đối chất giữa Tuyên phi Ðặng Thị Huệ và Quận chúa Quỳnh Hoa, như hai bản diện sáng tối, thiện ác của nữ quyền, dập dình thắng bại bất phân. Nếu cái thiện sớm bị bại vong (cái chết của Quỳnh Hoa) thì cái ác cũng chỉ kéo dài thêm cuộc sống bầy nhầy, chờ lên máy chém (loạn Kiêu Binh).
Trong thời đại cực đoan của những tranh giành đảng phái, những "tiêu diệt quân thù" bên ta bên địch, thái độ ôn hòa, giọng văn nhân hậu của Nguyễn Huy Tưởng làm dịu đi những mê chấp của con người thời đại và được cảm nhận như một linh tri văn học.
Ðối với Tuyên phi, Tĩnh vương, tác giả những bất ổn trong triều, Nguyễn Huy Tưởng chỉ nhẹ nhàng: "Tĩnh vương chỉ vì say đắm Tuyên phi mà làm toàn những điều bất chính." Viết về Thoát Hoan (trong An Tư) và viết về người Pháp (trong Sống Mãi Với Thủ Ðô) sau này, Nguyễn Huy Tưởng vẫn giữ một giọng nhã hòa, đưa ra những chân dung hào hoa và nhân bản của kẻ địch. Trái ngược với thái độ xung kích của những người cùng thời, xắn váy quai cồng, mày tao chi tớ, xỉa xói bất luận "thằng Tây", "thằng Mỹ" nào, sừng sộ đắp lên "chúng" những máu mê, tình tội đôi khi nhiễm chất hoang đường: Nguyễn Huy Tưởng đã vượt lên khuynh hướng mị dân lụy đảng, bần cùng hóa ngôn ngữ và giữ lại cho tiếng Việt, trong bối cảnh bần cố và điêu ngoa, một tư cách, một tự trọng.

*




An Tư hay số phận người phụ nữ trong sử, trong đời

Nguyễn Huy Tưởng, trong nhật ký, băn khoăn đến vị trí của người phụ nữ trong kháng chiến chống Pháp. Ông tra vấn: "Sao không thấy người ta nói gì đến vai trò phụ nữ."
Nghiêng mình xuống An Tư, chẳng phải vì vô tình, bởi cái tên An Tư hầu như vô danh trong sử sách, cũng như những đóng góp của phụ nữ trong đời sống lịch sử và xã hội, thường không tên, không ghi. Phải chăng Nguyễn Huy Tưởng viết An Tư vì ông đã nhận thấy những bất công trong ngôn ngữ lịch sử, ngôn ngữ văn học, trải nhiều đời, cố tình đãng trí về những đóng góp của phụ nữ nói riêng và những thành phần thấp cổ bé miệng nói chung, trong lịch sử dân tộc?
Ở thời phong kiến, người phụ nữ, ngay cả đến những người quyền quý nhất như quận chúa Quỳnh Hoa, công chúa An Tư, cũng chỉ là vật đổi trao, quyền sinh sát trong tay huynh phụ. Quỳnh Hoa và An Tư, hai mẫu hàng nhỏ của một lịch sử toàn diện lớn lao: Từ Lý Chiêu Hoàng đến Trần Huyền Trân, thế chính trị của phụ nữ trong thời phong kiến có những nuốt phận xót xa, oan khiên nghiệt khắc.
Nếu Ðêm Hội Long Trì đưa ra khía cạnh tiêu cực, tàn phá, dẫn đến kiêu binh của nữ sắc, thì trong An Tư, sắc đẹp có thể chuyển biến cục diện chiến tranh, mang một nội lực cao sâu hữu hiệu hơn ngàn binh đạo.


Công Chúa An Tư là em gái út Thượng Hoàng Trần Thánh Tông, là cô ruột của vua Nhân Tông. Tháng hai năm Ất Dậu (1285), triều đình đem An Tư dâng cho Thoát Hoan làm kế hưu chiến, mong Thoát Hoan ham mê tửu sắc, trễ nải việc quân, để Hưng Ðạo Vương có đủ thì giờ chuẩn bị phản công.
Vào tư dinh Thoát Hoan, đem trinh tiết, sinh mạng để ngăn chặn -dù chỉ nhất thời- sức tàn phá của quân Mông Cổ. Công tác của nàng ra sao? Số phận của nàng ra sao?
Việc này Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư chỉ ghi vắn tắt hai dòng: "Sai người đưa công chúa An Tư, em gái út của Thánh Tông, đến cho Thoát Hoan là muốn làm thư giãn nạn nước vậy." An Nam Chí Lược của Lê Tắc chua thêm: "Trần Thị theo Thoát Hoan về Trung Quốc và có hai con trai với Hoan."

Nếu so sánh việc An Tư (mấy ai biết An Tư là ai?) với dũng khí "lộng trời", bóp nát trái cam của Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản ở hội nghị Bình Than, hay khẩu khí thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc của Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng từng "lưu danh muôn thuở", người ta mới thấy ngòi bút lịch sử đối với đàn bà, hà tiện và phi nhân làm sao! Công lao "phá cường địch, báo hoàng ân" của Hoài Văn Hầu, so với việc An Tư hoãn binh Mông Cổ bằng sinh mệnh mình, thế nào khinh? Thế nào trọng? Hãy chưa bàn đến. Chỉ tạm nhìn chất nghiệp dư, tài tử và ước lệ trong truyền thống viết sử và sự cảm nhận sử của người Việt: Thích nhớ những điều ngoạn mục và nông cạn (bóp cam, bóp quít) mà quên tìm hiểu những nội dung sâu xa: phận người bán mình trong trại giặc.
Tính ham ngoạn mục này đôi khi dẫn chúng ta đến những cả tin, tự hào dân tộc ngây thơ và ấu trĩ: Quá bằng lòng với huyền thoại Hai Bà Trưng trầm mình trên sông Hát, mà ít tìm hiểu về dữ kiện Hai Bà có thể đã bị chặt đầu đem về Lạc Dương (theo Hậu Hán Thư (3)). Mặc dù dữ kiện thứ hai này khốc liệt và uy hùng hơn thoại thứ nhất, và có thể là bối cảnh cho những tìm kiếm lịch sử: Thủ cấp Hai Bà chôn ở đâu? Có được người Hán lập miếu thờ không? Hai Bà không phải là Quan Công nhưng người Hán rất ngưỡng phục những anh hùng tráng khuất nghĩa liệt. Biết đâu họ chẳng đã có đền thờ Hai Bà?
Trở lại với An Tư. An Tư và Huyền Trân (con gái vua Nhân Tông), từ bà cô đến cháu, cách nhau 20 năm, cùng chung thảm mệnh: Huyền Trân bị triều đình gả bán cho vua Chiêm Chế Mân (1306) để chuộc hai châu Ô Lý. Chuyện Huyền Trân -dù nổi tiếng- nhưng cũng không lưu được "tiếng thơm", mà chỉ là đối tượng của những câu ca dao mai mỉa, thị kỳ và hạ tiện:

Tiếc thay cây quế giữa đường
Ðể cho thằng Mán, thằng Mường nó leo.

Ký ức lịch sử tàn phũ, không chút ngậm ngùi, không dành cho thân phận những người phụ nữ "bán mình cho tổ quốc" một giọt nước mắt đích thực.
Nguyễn Huy Tưởng xé lại vết thương, hướng về những ngậm ngùi ấy, trang trải cho lịch sử món nợ tinh thần đối với An Tư, đồng thời đem lại cho chiến thắng Bạch Ðằng, Vân Ðồn, Vạn Kiếp những nỗi xót xa về thân phận con người.
Ngoài An Tư, người ta còn tìm thấy một Nhân Tông khoan độ, lượng từ, một Hưng Ðạo đa nghĩa, phũ phàng mà tiết liệt, để việc nước lên trên nhân tình, chọn đổi An Tư như một thế tận của chiến trường, sẵn sàng chém đầu hàng trăm quân đào ngũ. Thoát khỏi tư thế "thần thánh", đại vương chỉ là một cá nhân giữ nghiêm lệnh bảo vệ tổ quốc, nhưng cô đơn và hoang mang ở mỗi quyết định, mỗi thế cờ.

"Thoắt ở Vạn Kiếp, thoắt ở Chí Linh, Phao Sơn, thoắt ở Huyền Ðình, ngựa của đại vương bay khắp cánh đồng, đỉnh núi. Vậy mà đến đêm, khi mọi người đã đi ngủ, đại vương vẫn còn một mình suy tính bên ngọn đèn xanh, có khi suốt sáng..."

"Vương đau thương, tâm hồn cứng cỏi ấy nhiều khi cũng có những mềm yếu của kẻ dung thường." (Sđd trang 278 và 282)

Mà không riêng gì Hưng Ðạo, từ Nhân Tông đến Thoát Hoan, kẻ thắng, người bại, đều có nỗi xa xót riêng chung về chiến tranh, về đánh hay đừng: Chiến tranh chỉ là cực điểm của ngõ cụt, của tai ương, của tham vọng và tuyệt vọng.

"Vua Thiệu Bảo 4 biết chiến tranh tai hại, khốc liệt, không lợi gì cho kẻ dự chiến, bên thắng cũng như bên bại, và ông vua giỏi không phải là một người cùng binh độc vũ, tìm những thủ đoạn oanh liệt trên chiến địa, mà là người biết mưu hạnh phúc cho dân gian." (Sđd trang 241)

Nghĩ đến "biết bao quỷ không đầu đang bơ vơ bên phần mộ tiên tổ! Những người còn sống ngẩn ngơ trước bàn thờ giá lạnh, nhớ đến kẻ thân yêu không bao giờ về nữa [...] Vua bỗng xúc động trong lòng và cảm thấy một niềm thương vô biên, bao trùm cả chúng sinh, cây cỏ." (Sđd, trang 249 và 250)
Hưng Ðạo Vương đưa ra một chân lý luận chiến khác: "Thương dân không cứ phải thương kẻ đương thời, còn phải thương đến con cháu muôn đời sau nữa." (Sđd, trang 259)

Cùng một lòng yêu nước thương dân quặn ruột, Nhân Tông cầu bình, Hưng Ðạo chủ chiến. Chiến tranh và hòa bình, thế lưỡng cực ấy day dứt tâm linh, dày vò bao nhiêu thế hệ? Vẫn còn là câu hỏi chẳng bao giờ có lời giải đáp.

*




Vũ Như Tô

Người ta bước vào kịch Vũ Như Tô (5) với những câu hỏi: Nhưng còn Cửu Trùng Ðài? Nhưng còn Cửu Trùng Ðài? Ác mộng hay Nghệ thuật? Vũ Như Tô? Vũ Như Tô là ai? Trí thức hay thị dân? Thầy hay thợ? Vũ là ai mà dám đòi vua phải "kính sĩ mới đắc sĩ"?
Khác với những tác phẩm cổ điển cùng thời, Vũ Như Tô vặn các dấu hỏi lạ lẫm, hỗn hào. Mỗi biến xoán xẩy ra đều đáng nghi, đáng ngại. Không rõ từ đâu đến? Ai là thủ phạm? Ai trách nhiệm?
Hoài nghi. Vô trách nhiệm. Ðổ vạ. Mỗi nhân vật nhìn các sự kiện xẩy ra theo chủ quan của mình.
Kịch Vũ Như Tô bầy ra loạn cảnh chính trị và tâm linh của một thời bạo quyền chuyên chế: Không biết ai làm chủ? Dân hay Quân? Thần hay Chúa? Thầy hay Thợ?

"Ai xây một kiểu nhà mới khả quan, thì lập tức kết vào tội lộng hành đem chém. Thành thể ra không ai dám vượt ra khuôn sáo nghìn xưa [...] nghề kiến trúc đọng lại một vũng ao tù."
Người có tài không được thi thố đành phải tiến về mặt tiểu xảo. (Sđd, trang 399)

Cách đối đãi như thế thì nhân tài nhiều sao được? (Sđd, trang 400)

Mà ai chịu luyện tập cho thành tài? (Sđd, trang 400)

Thậm chí người ta nói kẻ có tài đã không giúp cho gia đình, còn là một cái vạ nữa. (Sđd, trang 400)

Ấy là thời Lê Tương Dực. Nhưng cũng có thể là bất cứ thời nào mà người tài không được thi thố, nhân tài bị bạc đãi, bị kiểm tra: Có tài còn đem vạ vào thân.
Vũ Như Tô là kẻ vô tư, dám nói thẳng, nói thật, nói toác ra như vậy trong một lộng trường nặng mùi chặt chém.

*

Vũ là kẻ có tài. Vũ không muốn đem tài của mình để phục vụ hôn quân, xây Cửu Trùng Ðài cho bạo chúa dâm hoang, xa xỉ.
Vũ Như Tô chọn chết hơn là phụng sự bạo quyền. Khi ấy thì Ðan Thiềm xuất hiện. Cung nhân Ðan Thiềm khuyên Vũ Như Tô phải sống để sáng tạo tác phẩm "để đời". Bạo quyền chỉ là phương tiện cung cấp dữ liệu thực hiện kiến trúc ngàn năm, làm "rạng ngời" tổ quốc. Vũ Như Tô nghe lời Ðan Thiềm, chịu khuất phục Lê Tương Dực để xây Cửu Trùng Ðài. Kinh phí vô độ. Thợ thuyền và quần chúng ta thán. Thừa dịp nháo nhương, Trịnh Duy Sản xui thợ làm loạn, giết vua. Ðan Thiềm xui Vũ Như Tô trốn để bảo toàn sinh mệnh.
Ðan Thiềm là ai? Nàng chính là bộ óc, là quân sư, là kẻ sĩ nghĩ hộ Vũ Như Tô. Nàng đặt vấn đề ưu tiên: Sống để sáng tác.
Nhưng Ðan Thiềm chưa kịp tra vấn phương tiện thực hiện tác phẩm. Nghệ thuật có thể dựng xây trên xương máu con người hay không? Chắc chắn rằng có. Cung A Phòng, Angkor, Vạn Lý Trường Thành, Tháp Chàm và bao nhiêu kiệt tác kiến trúc trên thế giới chứng minh rằng có. Nhưng cũng chính cái phương tiện đó lại có khả năng quật ngã kẻ dụng nó: Tần diệt, Chàm suy và Chàm diệt.
Tác phẩm nghệ thuật cũng chỉ là ảo ảnh, nó có thể vững như Kim Tự Tháp Ai Cập, Vạn Lý Trường Thành, mà cũng có thể mong manh hư ảo như Cung A Phòng, như Cửu Trùng Ðài... Nghệ thuật chỉ có giá đối với những trái tim vị và vụ nghệ thuật. Ðối với những kẻ ngoại đạo, nghệ thuật là chuyện vứt đi, bởi nó chưa bao giờ thật sự nuôi sống con người. Nghệ thuật đến từ cái chết. Nghệ thuật vừa là con đẻ, vừa là tác giả của thần chết. Của những đọa đầy. Kẻ sĩ Ðan Thiềm chưa nhìn thấy vũng lầy tha ma của nghệ thuật; nghệ thuật bốc lên từ xác và hồn của nghệ sĩ sáng tạo, từ máu và nước mắt của người thợ thực hành trình đồ sáng tạo. Nhưng con người không thể sống không nghệ thuật, bởi con người chưa bao giờ vượt qua cái chết.
Kẻ sĩ Ðan Thiềm, một phế phận trong cung cấm, nàng "thức khi người ngủ, khóc khi người cười, thương khi người ghét." Nàng trọng tài, yêu nghệ thuật, muốn bảo toàn sinh mệnh nghệ sĩ và tác phẩm nghệ thuật.
Nhưng kẻ sĩ không phải là nhân dân (ở thời kỳ vô sản chuyên chế, thợ thuyền hay giai cấp vô sản có thể đồng nghĩa với nhân dân), cũng không phải là thế quyền. Kẻ sĩ và nghệ sĩ sống vật vờ giữa một quyền lực chính thống (chính quyền) và một quyền lực ngoại thống (quần chúng). Chính thống có thể là kẻ đỡ đầu cho nghệ thuật, mà cũng có thể là kẻ cưỡng hiếp nghệ thuật, còn ngoại thống thì không hiểu nghệ thuật. "Dân chúng nông nổi, dễ sinh tàn ác. Họ không hiểu công việc của ông" Ðan Thiềm nói với Vũ Như Tô.
Vật vờ giữa hai khối nguy: Chính quyền và quần chúng, hai lực đối chất, hai đao phủ của nghệ thuật, Ðan Thiềm đồng bệnh với Nguyễn Huy Tưởng, đồng bệnh với tất cả những người cầm bút trung thực muốn bảo vệ sự sống còn của nghệ thuật và tư tưởng trong một môi trường mà hai đao phủ đều ở thời điểm sung sức, đều hung hăng kịch liệt xung đột lẫn nhau: Thời điểm cách mạng. Bất cứ ở thời điểm cách mạng nào từ xưa đến nay, nghệ thuật cũng là thí điểm: Ðốt phá. Nghệ thuật bị mang ra pháp trường trước tiên, trước vua, trước kẻ phản nghịch. Ðó là nghiệp dĩ của cách mạng: Cách mạng luôn luôn mù quáng và mù chữ. Nước nào kéo dài tình trạng cách mạng càng lâu, nghệ thuật càng bị suy đồi, triệt hạ.
Ðan Thiềm muốn tránh cho nghệ sĩ ngọn giáo cách mạng. Nàng thất bại.

*

Ðối với các cuộc cách mạng vô sản, những người lao động được nâng lên hàng siêu nhân. Trong thời kỳ đảng Lao Ðộng trị vì miền Bắc, chưa ai dám chất vấn quần chúng thợ thuyền, đưa họ từ bệ thánh trở lại vị trí làm người, với tất cả tính cách bất trắc, tráo trở của một đám đông quần chúng ô hợp.
Kịch Vũ Như Tô, lật bầy tính cách "tráo trở" của quần chúng lao động. Chính Vũ Như Tô là kẻ nửa thầy nửa thợ. Khi thực hiện Cửu Trùng Ðài, Vũ Như Tô đã liên kết với cánh bạn thợ, thành lập một sức mạnh, giúp Vũ thực hiện công trình kiến trúc của mình. Vũ Như Tô xây dựng một đảng lao động, để kiến tạo Cửu Trùng Ðài, đối chất với sức mạnh của bạo quyền Lê Tương Dực. Trong khi làm việc, Vũ Như Tô cho họ hưởng đặc quyền biệt lợi: Chia sẻ những ân huệ vua ban. Nhưng khi có biến, trừ một người độc nhất (phó Cõi) trung thành với Vũ, còn tất cả quay giáo, trở cờ, theo Trịnh Duy Sản, giết vua, tham gia vào việc đốt "kiệt tác" Cửu Trùng Ðài do chính họ xây dựng. Sự "tráo trở" của thợ thuyền ở đây là tất yếu: Bạc như dân. Vấn đề không phải là bôi nhọ quần chúng lao động mà là nhận diện con người trong chiều sâu.
Sự tráo trở của thợ thuyền không ở bản chất, bởi phần đông thợ thuyền thường chất phác, mà ở trình độ: họ không biết cảm nhận tác phẩm nghệ thuật. Không có lập trường. Cả tin. Dễ a dua: Thợ thuyền tập trung dưới sự lãnh đạo của độc tài và dốt nát là một sức mạnh đáng ngại.
Nguyễn Huy Tưởng kín đáo dự báo những phá phách của dốt nát dưới thời "lao động" chuyên chế.

*

Vũ Như Tô còn là nghệ sĩ. Nghệ sĩ không vào khuôn. Không nhìn trên, nhìn dưới. Không thấy xung quanh. Không thấy xa xỉ. Không thấy xác chết. Vũ vô trách nhiệm. Vũ anarchiste. Vũ sống trong mơ. Vũ chỉ biết một điều duy nhất: Ðam mê nghệ thuật. Ðừng lầm Vũ Như Tô với Ðan Thiềm. Ðan Thiềm là kẻ sĩ. Vũ là nghệ sĩ. Ðừng kết tội nghệ sĩ. Hãy thưởng thức tác phẩm của họ. Nghệ sĩ có thể đốn mạt, có thể bị nguyền rủa. Nhưng kẻ sĩ thì không. Khi một thể chế đòi hỏi nghệ sĩ phải vào khuôn vào phép, ấy là xã hội đi trật đường rầy: Coi nghệ sĩ như chấy rận. Ðem rây ra rây rận. Rận lọt.
Như Ðan Thiềm và Như Tô: Kẻ sĩ và nghệ sĩ luôn luôn tri âm, tri kỷ. Kẻ sĩ bảo hiểm cho nghệ sĩ. Cả hai tạo nên đời sống văn hóa tư tưởng của con người.
Vắng mặt họ, cuộc đời thiếu những giấc mơ.
Nhưng có ai biết rõ sống là cầu mơ hay cầu thực?

Paris, tháng 4/1998

Chú thích:
(1) Tố Hữu, Nguyễn Ðình Thi, Nguyễn Huy Tưởng,...
(2) trích Chuyện Cũ Trong Vương Phủ của Kính Phủ tức Nguyễn Án, bản dịch của Ðạm Nguyên (Tang Thương Ngẫu Lục, NXB Institut de l'Asie du Sud Est, 1990, trang 29)
(3) xem Cuộc Khởi Nghĩa Hai Bà Trưng Dưới Mắt Sử Gia của Bùi Quang Tung (Tạp chí Tự Do số 20-21, tháng 4/1985)
(4) Thiệu Bảo là tên vua Nhân Tông lúc còn sống. Nhân Tông chỉ là miếu hiệu đặt sau khi vua mất.
(5) Theo Việt Sử Thông Giám Cương Mục: "Vũ Như Tô, một người thợ ở Cẩm Giàng, xếp cây mía làm thành kiểu mẫu cung điện lớn trăm nóc dâng lên nhà vua; nhà vua bằng lòng phong cho Như Tô làm đô đốc đứng trông nom việc dựng hơn một trăm nóc cung điện lớn có gác, lại khởi công làm Cửu Trùng Ðài. Sửa sang xây dựng hết năm này qua năm khác. Quân và dân phải đi làm việc bị bệnh dịch chết mất khá nhiều... Nguyễn Hoàng Dụ đóng quân ở Bồ Ðề, được tin Duy Sản bạo nghịch giết vua, bèn chém Vũ Như Tô ở ngoài cửa thành. Lúc Như Tô bị giết, mọi người đều chỉ trích, chê cười, có người nhổ nước bọt vào thây của hắn."

© 1995-2001 Thụy Khuê


Share/Save/Bookmark
Related Posts with Thumbnails