Thứ Tư, 26 tháng 8, 2009

Phụ Nữ Việt Và Chiến Tranh

Nguồn : Hợp Lưu
TRẦN MỘNG TÚ Thứ Bảy, Ngày 1 tháng 8-2009

Ngày mồng 8 tháng 3 mỗi năm là ngày Phụ Nữ Quốc Tế. Trong ngày này người phụ nữ các nơi trên thế giới của mọi lãnh vực được ca tụng, vinh danh và cám ơn bằng những phương tiện khác nhau. Việt Nam đang trên đà tiến triển văn minh hội nhập, người phụ nữ trong một vài môi trường nào đó cũng đang được đề cao, tưởng thưởng. Nhưng đồng thời trong một góc khuất vắng mà rất gần với đời thường, một số phụ nữ Việt vẫn úp mặt vào hai bàn tay che khuất những tủi nhục của riêng mình.

"Trời ơi, đi chiến tranh đã làm tôi già nua đến thế nào!" Đó là tiếng than của một trong 500 phụ nữ ở Ninh Bình, những người đã tham gia ở trong cuộc chiến được gọi là "Chống Mỹ Cứu Nước."

"Tôi trở về sau chiến tranh, tôi tìm cho mình được một người yêu. Anh ấy muốn lấy tôi, nhưng cha mẹ anh ấy ngăn cản vì tôi là một phụ nữ bệnh hoạn yếu đuối, tôi sốt rét và suy dinh dưỡng, tôi cũng khuyên anh ấy chẳng nên lấy tôi, vì tôi nghĩ mình không có khả năng sinh đẻ nữa." (1)

Chiến tranh thực sự đã hủy diệt hết tuổi xuân của những nữ cán bộ miền Bắc (những người tải đạn, làm đường, tháo gỡ, phá mìn trong thời chiến) khi họ trở về từ mặt trận.

Khi chiến tranh kết thúc vào năm 1975, họ chỉ còn là những thiếu phụ già nua, xác xơ bệnh tật ở tuổi 28-30. Họ tìm đâu ra một tình yêu, một người chồng?

Một số phụ nữ khác sau ba mươi năm đã quá 50 tuổi, thiếu thốn và mang trên người hai căn bệnh không bao giờ chữa hết: Sốt rét và suy dinh dưỡng. Họ sống cô đơn trong những ngôi làng nhỏ bé ở Quảng Bình, cả làng chỉ có người già, phụ nữ và trẻ nhỏ, không hề một bóng đàn ông, với cái tên làng đọc lên tất cả nỗi ngậm ngùi: "Làng Không Chồng" ( 2)

Năm 1975 những người chồng miền Nam bị lùa vào những trại tù dưới danh nghĩa "Cải Tạo." Họ là những người đã từng dùng cả một đời tuổi trẻ của mình để bảo vệ lãnh thổ niềm Nam Việt nam. Bây giờ dù họ còn ở lại Việt Nam hay đã ra nước ngoài sống thì những trang sử họ đã đóng góp vẫn không thể nào phía Bắc có thể xóa trắng được. Những người vợ của họ, có người chồng chết không được chôn, có người vì chính sự sống còn của chồng con, phải phụ chồng lấy cán bộ Bắc Việt, có người may hơn ôm con thủ tiết, có người ôm con lao vào biển. (Chồng đi tù về mới hay vợ con đang nhặt tự do dưới biển sâu.)

Người phụ nữ Việt ra khỏi nước, sống thong thả hơn về phương diện vật chất nhưng có rất nhiều người đã là nạn nhân đau khổ (hơn những người khác) trong cuộc chiến này. Họ bị bầm dập tâm hồn, thể xác. Cái hậu quả của những cuộc hải trình bi thảm đi tìm tự do luôn luôn là những tiếng kêu leng keng không nghỉ trong đầu họ như những chiếc phong linh treo trong đầu gió.

"Đã mấy chục năm, tôi không thể nào quên được chồng, em trai, em chồng tôi bị giết quăng xác xuống biển Đông. Tôi không thể nào quên được em gái tôi, em gái chồng tôi, tôi và mẹ chồng tôi đều bị hải tặc hiếp ngay trên sàn tầu. Chúng tôi sống sót, và chúng tôi tiếp tục sống. Con cháu chúng tôi trưởng thành và lập gia đình ở đây. Nhưng chúng tôi vẫn có mối tủi nhục trong hồn." (Nạn nhân hải tặc Thái Lan, 1979-1980.)

Hơn ba mươi năm sau, những người đàn bà này có thể đã sống trong những viện dưỡng lão ở Mỹ, ở Pháp hay ở bất cứ nơi nào không phải quê hương họ. Họ ngồi đó nhớ lại những bất hạnh đã trải qua, chấp nhận và im lặng. Họ đợi chờ từ giã cuộc đời và niềm đau sẽ được chôn theo đất, hay đốt thành tro, nhưng nhất định không bao giờ kể lại cho con, cháu. Họ sống can đảm và chết trong tự trọng. Giọt lệ nào nhỏ xuống cho những niềm đau cao cả của những phụ nữ này.

Những người phụ nữ Việt trong nước thì ngoài sự héo úa, thất vọng tinh thần, đời sống hàng ngày thiếu thốn làm cho họ thành những người đàn bà cay đắng.

Chúng tôi là những cô gái Trường Sơn

Tóc đã bạc và hồn đầy kỷ niệm

(Trần Thị Bình)

Có người đã vào chùa gửi đời mình dưới chân Phật. Năm 1980 thể chế nhà nước đổi mới chấp nhận cho những Người Mẹ Không Chồng, hai mẹ con cũng được coi như một gia đình, được cấp cho miếng ruộng để cấy cầy kiếm gạo ăn. Đã có hàng ngàn phụ nữ được hưởng thể chế này. Họ là những cựu chiến sĩ Trường Sơn, đã tham gia vào chiến dịch "Người chồng một đêm" trong thời chiến. Phải chăng trước cái tương lai thăm thẳm của ngày về không còn tuổi trẻ để hy vọng làm vợ, làm mẹ, trước cái thiếu thốn của âu yếm, mặn nồng trao xương gửi thịt hay chỉ thuần nhất muốn có đứa con để không phải cô đơn trong tuổi già? Họ đã làm "Người vợ một đêm" giữa những chặng đường máu lửa. Có lẽ cả hai.

Cơ Quan Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc - UNICEF (3) cho biết, ở Việt Nam đổ đồng, mỗi ngày có 7 phụ nữ mang thai, hay vừa sanh con thiệt mạng. Có 82 trẻ sơ sinh chết non. Chưa kể đến những trường hợp nạo hút hay phá thai. Hậu quả của chương trình Kế Hoạch Hóa Gia Đình, để thi hành chính sách cấm sinh đứa con thứ ba của nhà nước. Những người phụ nữ vẫn là những nạn nhân cho những vụ phá thai ở một bệnh viện miễn phí hay rẻ tiền.

Ở một số phụ nữ Việt khác trong nước, sinh ra và lớn lên sau 1975, cho đến lúc này, sau hơn ba mươi năm đất nước thanh bình vẫn tìm cách chạy ra khỏi nước bằng cái sức mạnh duy nhất mình có, cái sức mạnh dán nhãn hiệu "Đàn Bà". Họ tự nguyện đi tìm những cuộc hôn nhân ngàn dặm. Huyền Trân ngày trước đem về được hai châu Ô, Lý (Hai châu Ô, Lý vuông ngàn dặm/ Một gái Huyền Trân đẹp mấy mươi.) Huyền Trân ngày nay đem về cho gia đình được mấy ngàn Mỹ kim; mà hầu hết bị lừa, thay vì làm vợ của một người chồng, họ làm nô lệ tình dục cho tất cả những người đàn ông trong gia đình đó, một số khác bị mua đi, bán lại nhiều lần.

Con số phụ nữ lấy chồng Đài Loan lên đến 60 ngàn người (4). Những dịch vụ môi giới hôn nhân đem đến một mớ (như mớ rau, mớ cá) phụ nữ Việt cho người đàn ông Đài Loan lựa mua. Ở làng quê phía nam Đài Loan những quảng cáo dán trên cột điện: "Cô dâu Việt Nam còn trinh. Nếu cô bỏ trốn được đền cô khác." (5)

Nhân phẩm của người phụ nữ bị hạ ngang hàng với hàng hóa và thú vật.

Hơn ba mươi năm sau, ở Việt Nam, những nạn nhân của thuốc khai quang Agent Orange vẫn còn kiện chính phủ Hoa Kỳ, đòi bồi thường cho những hình hài bị tàn phá và những hậu quả bởi chất độc của bột da cam gây ra: Những bà mẹ trẻ dị hình sinh ra những đứa con dị dạng, tâm thần.(6)

Ôi những người đàn bà trong chiến tranh! Những người đàn bà sinh ra và lớn lên ở Việt Nam. Đã bao nhiêu thế hệ qua đi, từ người bà, người mẹ, người dì, rồi đến chính mình, họ đã sống từng ngày vật vã với chiến tranh của cả hai phía. Tiếng khóc nhiều hơn nụ cười, chịu đựng nhiều hơn hưởng thụ. Hơn ba mươi năm rồi, người Việt của cả hai phía vẫn hô những khẩu hiệu đả đảo lẫn nhau, không ai nghĩ đến những người đàn bà này một cách cụ thể. Những người Việt hải ngoại theo chân nhau về nước chỉ chú tâm trợ giúp giáo dục, y tế cho thanh thiếu nữ. Không ai nghĩ đến việc băng bó vết thương tâm hồn của những phụ nữ lỡ thời này. Họ quá bận bịu lo cho tương lai của thế hệ trẻ mà quên bẵng mất những phụ nữ bất hạnh đang đi về phía mặt trời lặn. Ở miền Bắc hay ở miền Trung, những phụ nữ này cũng sống trong những thôn xóm nghèo nhất, xa thành phố. Hình bóng họ ngồi trước những ngôi nhà lụp xụp nhìn bâng quơ về một chốn vô định trong hoàng hôn là những bức vẽ tĩnh vật buồn, không ai muốn mua về trưng bầy trong những ngôi nhà mới.

Có phải ba mươi năm sau, hình như một điều mà chúng ta cần nhớ đến nhất thì chúng ta lại quên trước tiên: "Những người phụ nữ Việt đáng thương và đáng kính trọng của cả hai miền."

Trần Mộng Tú

Tháng Tư 2007

-----------------------

Ghi chú:

(1) LA Times/David Lamb phỏng vấn phụ nữ Việt trở về sau chiến tranh.

(2) Theo báo Thanh Niên

(3) UNICEF phổ biến ngày 7-4-05

(4) Zone-Thế Giới

(5) Zone-Thế Giới

(6) 79 triệu lít Agent Orange đã thả xuống trong thời gian 1961-1971 vào những khu rừng tình nghi là có Cộng Sản ẩn núp.


Share/Save/Bookmark

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2009

Bức Tường Berlin

Nguồn : blog Ôsin

Tuần trước, một người Đông Đức, bà Angela Merkel, vừa lên tiếng trên cương vị Thủ tướng nước Đức thống nhất cám ơn Hungary cách đây 20 năm, tháng 8-1989, đã mở cửa biên giới của mình, để cho hơn 60 nghìn người Đông Đức thoát ra, dẫn tới sự kiện bức tường Berlin sụp đổ.

Tháng 6-2004, Hoàng- một đồng đội cũ của tôi ở trường sĩ quan, cựu đại úy quân đội nhân dân Việt Nam, con trai một vị tư lệnh chiến trường nổi tiếng thời đánh Mỹ và đánh Pol Pot- lái xe chở tôi chạy từ Đông sang Tây và cuối cùng đến trước bức tường Berlin. Hoàng nằm trong số những người Việt Nam đầu tiên leo qua phía Tây, thay vì đủ kiên nhẫn để đập đổ cái mà Hoàng, cho đến ngày nay, vẫn coi là “bức tường ô nhục”.

Berlin cũng như nước Đức, sau Thế chiến thứ II, bị “xẻ làm tư” theo thỏa ước Potsdam. Cho dù Liên Xô phản đối, các nước Anh, Pháp, Mỹ sau đó vẫn trả lại quyền tự chủ cho người Đức trên phần lãnh thổ mà mình tiếp quản. “Kế hoạch Marshall” đã giúp Tây Đức phát triển rất nhanh dựa trên nền tảng tự do.

Năm 1948, Stalin ra lệnh phong tỏa, không cho vận chuyển lương thực thực phẩm từ Đông sang Tây. Nhưng vẫn không có người Tây Đức nào đi theo Stalin. Trong khi, trong suốt thập niên 50 đã có hơn 3,5 triệu người Đông Đức bỏ chạy sang Tây Đức. Ngày 1-8-1961, Tổng Bí thư Liên Xô, Krushchev, điện đàm với Ulbricht, Bí thư thứ nhất Đông Đức “đề nghị xây tường”. Ngày 12-8 năm đó, Ulbricht ký lệnh đóng cửa biên giới và “bức tường ô nhục” đã được người Đức cùng với “Hồng Quân Liên xô” nửa đêm “dựng lên lén lút”.

Bảo tàng Bức tường Berlin là một trong những bảo tàng vô cùng ấn tượng. Có thể tìm thấy ở đây những sự kiện bi thảm; nhưng, cũng có thể tìm thấy ở đây những câu chuyện hết sức li kỳ. Chỉ có với khát khao tự do con người mới có thể bất chấp sự hiểm nguy mà vượt thoát mãnh liệt đến vậy. Lượng người dân Đông Đức bị bắn chết khi trèo qua bức tường Berlin không dừng lại ở con số 1.374; mới đây, Bảo tàng vừa cho bổ sung vào danh sách này những người không phải là dân “vượt biên” mà là lính biên phòng Đông Đức. Hàng chục lính biên phòng Đông Đức đã tự sát thay vì chấp hành lệnh chính quyền bắn vào nhân dân, những người tìm kiếm tự do.

Chỉ cần đến Bảo tàng Bức tường Berlin là có thể hiểu vì sao cả Đông Âu, tràn ngập xe tăng Liên Xô, thế mà vẫn đổ; có thể hiểu vì sao Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu lấy ngày “23 tháng Tám là ngày tưởng niệm các nạn nhân của chủ nghĩa Stalin và Phát xít”. Ngày 23-8-1939, Stalin đã bắt tay với Hitler, ký Hiệp ước phân chia Châu Âu. Chỉ một tuần sau, ngày 1-9-1939, Hitler đánh chiếm một phần Ba Lan; ngày 17-9-1939, Liên Xô xâm lược phần còn lại. Người của Stalin, ngay sau đó đã giết hại hàng trăm nghìn người Ba Lan và đưa hơn một triệu người Ba Lan khác lưu đày viễn xứ.

Nếu như, chủ nghĩa Hitler chỉ kịp gây tội ác trong những năm tháng chiến tranh thì chủ nghĩa Stalin lại tiếp tục hủy hoại con người ngay cả khi không còn tiếng súng. Sự hy sinh của hơn 20 triệu người Liên Xô, sự anh dũng của các tướng lĩnh, của Hồng quân là vô cùng vĩ đại. Nhưng, sự hy sinh ấy của nhân dân đã bị những người như Stalin tước đoạt. Liên Xô, quốc gia đóng vài trò quyết định trong cuộc chiến chống Phát xít, thay vì được ghi nhớ như là “giải phóng quân” đã trở thành một lực lượng chiếm đóng và đã áp đặt lên Đông Âu một chế độ tước đoạt hết của con người những quyền căn bản.

Tại Đông Đức, sau 8 năm chiếm đóng, chính quyền do người Nga lập nên liên tục có những hoạt động thanh trừng nội bộ; khủng bố những người bất đồng; kiểm soát thanh niên; trong khi, thực phẩm thì khan hiếm và đắt đỏ. Sau khi Stalin chết, hơn 1 triệu người dân Đông Đức đã xuống đường biểu tình. Chính phủ Đông Đức rút chạy vào tổng hành dinh của Hồng quân Liên Xô. Chính họ đã cầu cứu và “ngoại bang” đã dùng xe tăng thẳng tay đàn áp cuộc chống đối đâu tiên của nhân dân ấy.

Tại Hungary, sau năm 1945, cuộc bầu cử dân chủ chỉ đem lại cho đảng cộng sản Hungary 17%. Nhưng ngay sau đó, “toàn quyền Liên xô”, tướng Kliment Voroshilov đã buộc một thành viên không đảng phái trao ghế Bộ trưởng Nội vụ cho László Rajk, người của đảng cộng sản Hungary. László Rajk đã lập ra cơ quan an ninh quốc gia sử dụng cách mà Hitler đã làm trong thập niên 30: vu cáo, bắt bớ, tra tấn… tiêu diệt dần đối lập. Ngày 23-10-1956, người Hungary đứng dậy hô to “không cam chịu làm nô lệ nữa”. Nhưng, ngày 4-11-1956, xe tăng Liên Xô nghiến nát cuộc chính biến sau khi máy bay ném bom xuống Thủ đô Budapest: 2.500 người Hung bị giết; 200 nghìn người khác phải trốn khỏi quê hương.

Sự ngột ngạt về chính trị và bế tắc về kinh tế trở thành tình trạng phổ biến ở Đông Âu. Năm 1967, sau khi trở thành Bí thư thứ Nhất Tiệp Khắc, Alexander Dubcek tiến hành cải cách. Dubcek cho phát triển kinh tế tự chủ hơn; các tù nhân chính trị được tha và báo chí bắt đầu có tiếng nói. Không chủ trương đa đảng, Dubcek chỉ có ý định xây dựng “chủ nghĩa xã hội nhân bản hơn”. Tuy nhiên, những nỗ lực của Dubcek càng mang lại sự thịnh vượng cho nhân dân thì lại càng gây lo lắng cho Liên Xô. Cho dù không có “nổi dậy”, đêm 20-8-1968, xe tăng Liên Xô vẫn tiến vào Praha theo sau bởi hơn 165 nghìn quân của khối Warsava.

Tại bảo tàng Bức tường Berlin, có một đoạn video gần như được liên tục phát, đó là trích đoạn phát biểu ngày 12-6-1987 của Tổng thống Mỹ Ronald Reagan: “Mr. Gorbachev, hãy phá bỏ bức tường này”. Thật khó để xác định ai là người đóng vai trò chính để kết thúc chiến tranh lạnh. Tuy nhiên, có thể bức tường Berlin đã không sụp đổ nếu như tháng 3-1989, Thủ tướng Hungary, Miklos Nemeth, khi có ý định “tháo gỡ hàng rào kẽm gai dọc theo biên giới” không nhận được tín hiệu từ ông Gorbachev: “Vấn đề an ninh biên giới là việc của ông Nemeth”.

Không có một dân tộc nào không nuôi khát vọng tự do ngay cả dưới họng súng của xe tăng và đại bác. Câu trả lời của ông Gorbachev đơn giản chỉ là trả cho người Hungary quyền tự quyết. Cái quyền mà người dân Đông Âu lẽ ra phải được hưởng kể từ 1945.

Cũng trong tháng 6-2004, tôi có đi qua một vài nghĩa trang quân Đồng Minh chết sau sự kiện Normandy. Những tấm bia ở đây nói rõ là nghĩa trang được lập bởi dân chúng địa phương góp đất và tiền để tưởng nhớ những người lính Anh, Mỹ, New Zeland, Australia… Những “nghĩa trang dân lập” ấy vẫn được gìn giữ cho đến ngày nay với hoa tươi quanh năm. Trong khi, năm 2007, Tổng thống Nga Putin bị các quốc gia lân bang đặt trước tình huống phải ký sắc lệnh lập 7 văn phòng đại diện tại Ba Lan, Hungary và các nước vùng Baltic để bảo vệ mộ của Hồng quân. Thật không phải khi đụng đến nơi tưởng niệm những người đã hy sinh. Nhưng, cái cách mà Putin cư xử với lân bang đã khiến họ nhớ lại thời Liên Xô và nhận thấy những tượng đài Hồng quân “không còn là một biểu tượng chống phát xít mà là biểu tượng của sự chiếm đóng”.

Bên cạnh những bao cát của Checkpoint Charlie, chốt gác giữa Đông và Tây Berlin, cũng luôn có hoa tươi. Có lẽ ngay chính người Mỹ, sau những chiến tranh Việt Nam, chiến tranh Iraq, cũng thèm khát hình ảnh của chính mình trên bờ biển Normandy hay ở cái Checkpoint Charlie ấy. Từng là một người lính ở Campuchia tôi hiểu, không có người lính nào sẵn sàng hy sinh nếu không nghĩ, sứ mệnh của mình là giải phóng. Nhưng, không chỉ những người đã nằm xuống, người lính thường kết thúc sứ mệnh sau khi buông súng, mà những việc có ảnh hưởng tới “các giá trị thiêng liêng” khi ấy mới thực sự bắt đầu. Một cuộc chiến không còn được coi là “giải phóng” nếu những gì mà nhân dân cuối cùng được hưởng không phải là độc lập tự do.

Huy Đức


Share/Save/Bookmark

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2009

Chuyện tử tế

Nguồn : Bauxite Việt Nam

Xem chừng công cuộc vận động dân sự của giới trí thức và các tầng lớp nhân dân đòi dừng khai thác Bauxite vì những lý do môi trường, kinh tế, kỹ thuật và an ninh-quốc phòng chưa thể ngã ngũ trong ngày một ngày hai. Nhiều bạn đọc gợi ý với Bauxite Việt Nam rằng trang mạng của bà con ta cũng cần có ngày Chủ nhật Tươi tắn để nghỉ ngơi lấy sức. Trong kỳ mở đầu này chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bộ phim tài liệu nghệ thuật Chuyện tử tế của đạo diễn Trần Văn Thủy. Kỳ sau, chúng tôi xin giới thiệu tiếp Hà Nội trong mắt ai cũng của đạo diễn Trần Văn Thủy

Bauxite Việt Nam

Chuyện tử tế

Tử tế” là một khái niệm đạo đức. Nghệ sĩ Trần Văn Thủy làm một bộ phim về đạo đức. Nhưng anh bắt đầu như thể một lời tự nhận xét hàm chứa cả sự tự phê phán. Thế rồi khi xem xong phim, lại nhận ra rằng đó là một sự tự nhận thức. Bộ phim chứa toàn những tình tiết “có thực” trong cuộc sống; song toàn bộ tác phẩm lại mang tính ẩn dụ rất cao.

Là một khái niệm đạo đức, hai chữ “Tử tế” được gửi trong những cái vỏ chứa phải là những hành vi tử tế của con người. Vì nếu chỉ âm thầm “tử tế” trong lòng, thì cái tử tế đó chưa định hình. Ngay trong sự “tu thân” thì sự “tử tế” âm thầm kín đáo tuy cũng cần, nhưng chưa đủ để cấu thành cái tử tế đầy đủ trong cuộc đời. Nghệ sĩ Trần Văn Thủy đã nắm bắt những hành vi tử tế, những việc làm tử tế, những hành động tử tế. Nên trong một chừng mức nào đó, bộ phim có thể được gọi tên là “Chuyện những hành động tử tế”.

Vậy “Tử tế” là một khái niệm đạo đức và khái niệm đó phải bộc lộ ra ngoài. Nhưng hành động “trung thành” của con vật nuôi với con người, hành động con vật yêu thương đùm bọc nhau đã đủ để thành sự tử tế chưa? Câu trả lời là: “không” chứ không phải là “chưa”. Vì “tình cảm” của con vật nếu có cũng mới chỉ là những thói quen tập nhiễm mà thôi. Thói quen đó rất dễ mất đi, chẳng hạn, con vật không thể nhớ cái chết của “người thân”. Một con vật bị mắc bẫy chỉ cốt gỡ được cái thân, bỏ đó cái chân cái cẳng bị sập bẫy, rồi bỏ chạy và cũng sớm quên. Còn con người thì nhớ mãi đến vết thương của mình, vết thương ở người thân của mình. Vậy là ở con người chuyện tử tế phải đi kèm với ý thức (đúng hơn là tự ý thức) về sự tử tế. Và cũng nhờ cái ý thức về sự tử tế đó mà con người thoát ra khỏi phạm vi nhỏ bé của riêng mình: đó là trường hợp nó nghĩ đến vết thương màu bùn đỏ ở Tây Nguyên chẳng hạn.

Nói cách khác, con người tử tế khác hẳn con vật ở chỗ biết lo cho mình, cho dân, cho nước, chứ không chỉ biết sống chết mặc bay…

Đó ít nhất là một bài học nhỏ rút ra từ tác phẩm Chuyện tử tế của Trần Văn Thủy.

P.T.


Tải về: 3gp (23 MB) codec.

Nguồn khác: #1 | #2 (BauxiteVN không chịu trách nhiệm về thông tin trên các nguồn này)

Share/Save/Bookmark

Quân tử và Cô gái

Nguồn : Diễn đàn forum


Phạm Toàn

Việt Nam am hiểu và biết tôn trọng văn hoá lân bang, nói tới “ quân tử ” là nghĩ ngay đến một khái niệm trung tâm trong đạo làm người do nhà triết học thực dụng Khổng Khâu đưa ra.

Bài viết này không định giúp nước bạn nối dài cái “ đạo ” của người quân tử theo hướng tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ đó, để họ nghĩ mình ủng hộ thì cứ bình chân như vại mà tu thân tàm tạm, tề gia tiềm tiệm, trị quốc nhôm nhoam, cốt vươn dài cái vòi bạch tuộc ra mà bình thiên hạ là đủ !

Sở dĩ có bài kể chuyện thong thả này là nhân chuyện bà Rebiya Kadeer, một phụ nữ Tân Cương, tuy bà đã được thả ra khỏi nhà tù rồi và lưu vong ra tới nước ngoài rồi, ấy vậy mà bà vẫn còn bị chư vị quân tử của “ cố quốc ” đuổi theo doạ nạt. Họ còn doạ nạt cả chính quyền nước chủ nhà đang đón tiếp bà Kadeer, và đón tiếp thân tình hơn hẳn cái xứ sở vẫn cho mình là dân chủ hơn thiên hạ cả triệu lần (đồng chí Lenin cũng có nói về vấn đề này rồi).

Mọi tình tiết trong những chuyện kể dưới đây đều lấy từ trang mạng của đài ABC nước Úc, xin công bố để bạn đọc dễ kiểm chứng : www.abc.net.au (họ không đặt tường lửa đâu, vào đọc rất dễ).


Kadeer

Tại cuộc liên hoan phim quốc tế ở thành phố Melbourne nước Úc, mọi người được coi cuốn phim tài liệu về cuộc đời bà Kadeer. Tên bộ phim là Mười điều kiện của tình yêu. Mở đầu phim lại là hình ảnh bà Kadeer ngã vào tay bạn, và khóc nức nở : “ Tôi muốn chết… Tôi muốn chết đi thôi ! ”. Đó là hình ảnh khi bà Kadeer nhận được tin các con trai của bà bị bỏ tù ở Tân Cương, Trung Quốc vào năm 2006. Và cũng từ đó bà càng dấn thân hơn vào hoạt động đòi quyền con người cho tộc Uighur của mình.

Tộc người Uighur đang sống yên lành thì được Quân Giải phóng tới “ giải phóng ” cho ! Cùng với sự “ giải phóng ” là làn sóng di dân người Hán ở khắp nơi tới Tân Cương, dồn người Uighur vào cảnh sống dở chết dở. Tôn giáo và các truyền thống văn hoá riêng bị xoá bỏ vì bị coi là “ lạc hậu ”. Trong cuộc Cách mạng Văn hoá do Mao phát động, gia đình bà Kadeer bị xếp vào hàng “ kẻ thù giai cấp ”. Đất đai bị tịch thu, gia đình bà bị đẩy đi định cư ở nơi khác. Ông nội và cha đẻ bà Kadeer vốn là các chiến sĩ tham gia cuộc cách mạng lập ra nước Công hoà nhân dân Trung Hoa năm 1949, song cũng chẳng vì thế mà được “ chiếu cố ” tí gì. Cả hai cụ đều nhớ lại : “ Ngay từ khi mười sáu tuổi, Kadeer đã bắt đầu nhận ra rằng nguồn gốc nỗi đau khổ là sự đối xử tàn tệ của chính quyền Hán tộc ở Bắc Kinh và cuộc chiếm đóng của người Hán ở Tân Cương ”.

Con đường đấu tranh của bà Kadeer cũng lạ : nó không bạo động, nó phải tiến hành dần dần từ từ, trước hết bản thân bà phải học giỏi và phải làm kinh tế giỏi, để từ đó tìm đường giải phóng tộc Uighur của mình. Bà sớm trở thành người giàu thứ bảy của Trung Quốc thời hiện đại : và chính vì lẽ đó, năm 1992, giữa cao trào “ đổi mới ” khi “ mèo trắng hay mèo đen đều quý, miễn là bắt được chuột ”… Tuy nhiên, công việc kinh doanh của bà Kadeer cũng không như của mọi loại “ mèo ” khác ! Bà đấu tranh và sống khác hẳn những vị anh hùng khắc khổ trong lịch sử. Bà dùng tiền để nâng cao đời sống người Uighur theo cách riêng : bà chi lót tay hối lộ cho các quan chức để cứu những người tù chính trị, bà xây Cửa hàng Bách hoá chuyên bán quần áo cho phụ nữ Uighur, bà khởi động Dự án Một ngàn Bà mẹ Gia đình, nhằm hướng dẫn chị em tộc Uighur đi vào con đường kinh doanh.[1]

Bà được “ cơ cấu ” vào Quốc Hội nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa… Giá mà bà cứ ngồi yên vị ở đó ngậm miệng ăn tiền thì chẳng sao ! Năm 1997, bà chứng kiến cảnh quân lính Trung Hoa đàn áp tàn sát dân chúng Tân Cương ở thành phố Gulja. Và bà đã có bài diễn văn nảy lửa tại Quốc Hội. Các cán bộ cao cấp Tân Cương biết bà có ý định phát biểu, đã khuyên bà từ bỏ ý định đó, vì việc làm này có thể dẫn bà vào nhà tù. Nhưng bà nói : “ Còn gì phải nghĩ nữa ? Những con người được công chúng biết đến và kính nể như chúng tôi phải có một chọn lựa. Đó là làm cho thế giới biết rõ chuyện gì đang xảy ra, dù biết rằng làm như vậy mình sẽ đưa chân vào tù hoặc ít ra cũng là bị đẩy đi một chốn khác. Nhưng tôi đã lựa chọn lập trường tranh đấu ấy.

Con đường tranh đấu vẫn là hoà bình, không bạo động, như chính bà kể lại tại cuộc họp báo ở Úc hồi đầu tháng tám năm nay (2009). “ Tôi tìm cách hoạt động theo đúng luật pháp Trung Hoa. Tôi nghĩ rằng các nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ nhận ra mọi việc. Nhưng chính quyền Trung Hoa lại chỉ biết theo dõi tôi, ngăn cản tôi, và tìm cách giam giữ tôi. Có điều là, thật đáng tiếc, những việc họ làm đối với tôi, chỉ sau khi ngồi trong tù tôi mới nhận ra… ” [2]

Năm 1999 (hai năm sau bài diễn văn tại Quốc Hội “ dân chủ ”), bà bị xử tội “ hoạt động chính trị lật đổ ” và bị tù giam sáu năm trong đó có hai năm biệt giam khốc liệt. Năm 2005, áp lực quốc tế giúp bà được tha và qua sống tại Hoa Kỳ. Nhưng trước khi được tha, bà được cảnh báo là phải ngừng mọi hoạt động đòi nhân quyền cho tộc Uighur nếu không các con bà sẽ phải trả giá. Nhưng bà không thể nghe theo họ. Bà tiếp tục lên tiếng vạch trần mọi tội ác của chính quyền Bắc Kinh với tộc người Uighur ở Tân Cương. Kết quả là các con bà bị đánh đập và hai trong số đó bị bỏ tù. Nhưng bà nhìn nhận sự việc như sau : “ Vào thời điểm nguy kịch trong lịch sử một dân tộc, có khi sự hy sinh phải đổ lên đầu một gia đình… đó là một sự hy sinh khủng khiếp, nhưng tôi phải đặt dân tộc lên trên gia đình thôi ”.


Chuyến đi Úc


Các nhà điện ảnh có thiện cảm với bà Kadeer vì nhờ vai trò của bà mà họ biết đến cuộc sống của tộc người Uighur ở Tân Cương. Họ còn thấy cả sự đúng đắn trong cuộc đấu tranh ở đây.

Chính quyền Bắc Kinh đưa người Hán ồ ạt vào Tân Cương, bỏ mặc việc giải quyết những bất đồng về văn hoá, bỏ mặc việc xử lý những bất bình đẳng về kinh tế, nhắm mắt trước những bất công về chính trị và xã hội. Do đó, kết quả có thể được báo trước : sự hằn thù giữa hai dân tộc lớn - nhỏ. Chuyện đó đã xảy ra ở Tây Tạng và đã làm bùng phát những cuộc nổi dậy kéo theo là những cuộc đàn áp. Ngay giữa Bắc Kinh mà Đặng Tiểu Bình và Lý Bằng còn ra lệnh cho lính bắn như vãi đạn và cho xe tăng nghiền nát sinh viên biểu tình hoà bình và tuyệt thực để đòi dân chủ, thì hèm gì mà họ không “ mạnh tay ” hơn khi ở xa trung tâm ? (Xin coi video dài 1 giờ 18 phút về cuộc đàn áp Thiên An Môn [3]). Còn ở Nội Mông thì sao ? Bạn hãy tìm đọc cuốn tiểu thuyết Tôtem sói của nhà văn Trung Hoa ký dưới một tên giả Khương Nhung để tránh bị đàn áp : trong tác phẩm dài 800 trang (tiếng Việt do Trần Đình Hiến dịch), tác giả mô tả không cách gì khéo hơn và rành mạch hơn về sự thống trị ngu muội của người Hán với dân tộc Mông [4].

Các nhà điện ảnh đã làm một bộ phim tài liệu về bà Kadeer, và họ mời bà qua Úc, đến tận thành phố Melbourne dự liên hoan.

Chính quyền của các bậc “ quân tử ” đã hành xử thế nào ? Có năm việc điển hình cho hành vi của các bậc quân tử có thể kể ra ở đây :

* một, gọi bà Kadeer là “ kẻ khủng bố ” đã, và quy cho bà ngồi ở nước ngoài để chỉ đạo cuộc nổi dậy của dân Tân Cương hồi tháng 7-2009 vừa rồi ;

* hai, gây ra một vụ xì-căng-đan có tên gọi là gián điệp thương mại và kinh tế và cho tóm luôn người đại diện của hãng Nhôm Rio Tinto của Úc đang thương thảo buôn bán với Trung Quốc;

* ba, yêu cầu chính phủ Úc không cho bà Kadeer vào Úc tham gia liên hoan phim mà bà là một nhân vật quan trọng của cuộc vui đó;

* bốn, yêu cầu chính phủ Úc không cho bà Kadeer phát biểu tại Câu lạc bộ Báo chí; và

* năm, huy động các đồng chí Hoa Kiều (yêu nước) đang sống ở Úc tiến hành chống phá các hoạt động của bà Kadeer ngay trên đất nước đang cho họ tá túc.

Việc gọi bà Kadeer là kẻ khủng bố là một hành vi rẻ tiền, nhưng các ông quân tử vẫn cứ sử dụng, họ chẳng thấy chuyện đó có gì đáng hổ thẹn cả. Cái điều từng được Nam Cao ở Việt Nam mô tả và đặt tên là “ tư cách mõ ” thì cũng đã từng được Lỗ Tấn mô tả vô cùng sinh động trong “ tư cách Khổng Ất Kỷ ” ; đó là một kiểu nhân vật Khổng Nho bị đánh đến què chân vì tội ăn cắp, đi không nổi, đến nỗi phải lết đi trên đường bùn lầy bằng tay, tư cách ấy nên mới có nổi lớp con cháu xứng đáng, biết giấy rách giữ lấy lề, có là Tư Bản thì cũng cứ phải là Tư bản Đỏ cho chính danh quân tử ! Nếu bà Kadeer cứ tiếp tục bán mình cho cái Quốc Hội “ chính danh và đồng thuận ” của họ, thì bà còn tiếp tục là “ bậc nữ lưu anh hùng ”, bà còn tha hồ tới đó mà ngủ gật ; nhưng khi bà đã lên tiếng đấu tranh và đấu tranh quyết liệt cho lẽ phải, khi đó bà sẽ thành tên khủng bố ; hoá ra cái khoảng cách từ Đại Lễ đường Nhân dân Bắc Kinh tới trại giam Bắc Kinh cũng không xa mấy, cách nhau chừng một trang Nhân dân nhật báo là cùng !

Về việc các bậc quân tử yêu cầu chính phủ Úc không cấp visa nhập cảnh, và sau đó, khi ông bộ trưởng ngoại giao Stephen Smith vẫn cứ cho cấp visa nhập cảnh, rồi khi visa đã có trong tay, bà Kadeer vẫn bị con cháu Khổng (Ất Kỷ) đuổi theo yêu cầu không cho bà phát biểu tại Câu lạc bộ Báo chí. Họ hành xử như thể đang ở Bắc Kinh khi báo chí nem nép đi theo lề bên phải. Tội nghiệp, bà Kadeer vẫn tới được và vẫn nói chuyện trước đông đảo giới báo chí. Một nhân vật cấp cao đã phát biểu như sau : “ Bây giờ thì tôi tin chắc là mình đúng ! ” Đem phiên dịch câu nói vừa rồi, có lẽ sẽ được câu như sau : “ Trước đây mình cũng còn ngờ ngợ, ồ ngộ nhỡ bà chị Kadeer là tay khủng bố thì sao nhỉ ? Nhưng bây giờ, khi thấy bà bị khủng bố như thế, thì mình tin là mình đúng. Bà ta không phải là tay khủng bố. Bọn khủng bố ngồi ở chỗ khác kia !

Chưa hết, đến cái trò mạt hạng này mới hết lời bình luận : do chỗ vé vào coi Liên hoan phim buổi có chiếu phim về bà Kadeer được bán qua mạng, nên các vị quân tử liền lên mạng và tung tiền ra mua vét bằng hết, không cho ai mua ké một tấm nào nữa, cốt sao giữ cho phòng chiếu trống trơn, cốt sao gây được một nỗi hoang mang cho công chúng, thế là họ thỏa lòng. Khi dân mạng mở máy ra để đặt mua vé, họ chỉ thấy một lá cờ, người thì nói nó phất phới bay, người thì nói đó là hình ảnh một cái gì như thể đang nhăn nhở cười…

Trong công việc phá phách này, chư vị quân tử Thiên triều trông cậy rất nhiều vào đám người Hoa sống tản mắt khắp thế giới. Trong lịch sử, thường có câu nói vui : “ ở đâu có cỏ, ở đó có các chú con Trời ”. Nước Úc có cỏ, ở nước Úc cũng có nhiều chú con Trời. Sự lạ không nằm trong cái hiện tượng nhân mãn ấy. Sự là, ấy là kể cả khi bị xua đuổi tàn tệ, các chú con Trời vẫn đầy tinh thần Đại Hán, vẫn thích lấy thịt đè người chống lại những thân phận mảnh mai như bà Kadeer. Chẳng biết họ có hiểu rằng thân phận họ cũng chịu áp bức như bà Kadeer và tộc Uighur ở Tân Cương không ? Chẳng lẽ trong số dăm chục triệu người chết oan trong Cải cách ruộng đất và Cách mạng văn hoá lại không có ai thuộc gia đình, bè bạn, ông cha, đồng bào đồng chí của họ ? Vậy thì sự xua đuổi bà Kadeer họ tiến hành là vì ai và có lợi cho ai ? Suy cho kỳ hết mọi nhẽ, chuyện tâm lý dân tộc vẫn là chuyện vô cùng đau đầu. Ờ thì con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nhà nghèo. Nhưng bọn Tư bản Đỏ liệu có đáng là cha là mẹ của người dân để đến nỗi phải hy sinh vì chúng ?


Rio Tinto và bản hợp đồng mới toanh


Như đã thủng thẳng kể ở bên trên, đồng thời với việc các ông quân tử gây áp lực chính phủ Úc không cấp visa cho bà Kadeer và ngăn chặn bà nói chuyện tại Câu lạc bộ Báo chí, các ông còn xơi phía Úc một cú : bắt ông Stern Hu, giám đốc quản trị kinh doanh của công ty Rio Tinto vì cáo buộc “ gián điệp thương mại và kinh tế5.

Điều quan trọng cần kể lại ở đây, ấy là quân tử thì bao giờ cũng vẫn là… quân tử, dù là cách sống từ thời Khổng Khâu đến cách sống thời Tư bản Đỏ, thì cũng không vượt hơn được cung cách “ quân tử ”. Song chỗ cần rút ra bài học ở đây lại là cách ứng xử của lân bang với các chú quân tử : họ đã gặp một thái độ lịch sự và cứng rắn từ phía Úc. Chính phủ Úc gồm những người có học thật, chứ không phải là những học giả. Ông thủ tướng từng tốt nghiệp Đại học Bắc Kinh, nói tiếng Hoa lưu loát, am tường văn hoá Trung hoa. Nhưng có lẽ vì vậy mà họ cứng rắn được, vì họ có học nên đủ sức để… nói tục mà không cần phiên dịch6.

Về chuyện “ gián điệp để moi bí mật ”, ông bộ trưởng ngoại giao Liên bang Úc nhận xét thế này : “ Trung Quốc xếp hạng “ bí mật nhà nước ” hơi bị rộng so với cách xếp của nước Úc, những cái gọi là “ bí mật ” này là tính cả về thương mại hoặc về kinh tế hoặc cả về thông tin nữa ”.

Ông bộ trưởng ngoại giao khi trả lời các báo, đã gắn ba việc với nhau : Trung Quốc giữ ông Stern Hu vì tội “ gián điệp ”, Trung Quốc yêu cầu không cấp visa cho bà Kadeer, và Trung Quốc yêu cầu ngăn cản không cho bà Kadeer phát biểu tại Câu lạc bộ Báo chí. Còn cần gì phải nói rõ hơn nữa ? Bộ trưởng ngoại giao Stephan Smith nói khi được các báo hỏi về cách thức “ lên tiếng ” này : “ Tôi nghĩ là có một điều tổng quát cần nêu ra ở đây. Các sứ quán, các nhà ngoại giao, các quan chức có quyền nói gì thì nói về xã hội Úc. Nhưng khi họ nói ra điều gì, thì điều đó cần phải thích hợp. Họ có thể nói ra mọi điều một cách đanh thép, nhưng cần phát ngôn ra một cách lịch thiệp và thích hợp. […] Tất cả các nhà ngoại giao cần có hành vi thích hợp. […] Và cũng cần nói rõ, khi người ta đưa ra một ý kiến, quan điểm, thì không có nghĩa chính phủi Úc thế nào cũng đồng ý với họ, hoặc nhất thiết người dân Úc phải đồng tình với họ ”.7

Đúng thế, và có lẽ hành vi quân tử đích thực, còn quân tử hơn cả quân tử, ấy là hành động của Úc vừa ký kết mới đây một hiêp định trị giá 50 tỷ đô-la giữa một công ty Úc bán khí hoá lỏng cho Trung Quốc, và hiệp định có giá trị trong hai mươi năm. Người ta đưa tin đàng hoàng : “ Hiệp định giữa hãng ExxonMobil trị giá 50 tỷ đô-la bán khí hoá lỏng cho Trung Quốc là hợp đồng lớn nhất trong lịch sử nước Úc. Đó cũng sẽ là dự án xây dựng đơn nhất nhưng lớn nhất trong lịch sử nước Úc tại đây vào lúc cao điểm sẽ tạo ra 6000 việc làm.

Hành động của Úc chỉ ra một nguyên lý việc nào đi việc đó. Các trắc trở trong quan hệ giữa các nước, vừa là giữa các quốc gia vừa là giữa các dân tộc, thì cứ còn đó. Nhân loại suy cho cùng vẫn còn chưa trưởng thành. Nhưng các chính khách nhìn xa thấy rộng thì phải trưởng thành. Họ phải ngồi lại với nhau, họ phải cùng xử lý công việc, họ không được phép làm hại đến một cái vẩy cá thuộc về các ngư dân, họ không được phép đụng vào một cục quặng thuộc về những miền đất mà một tiếng cồng chiêng cũng đủ âm vang đại diện cho cả một nền văn hoá mấy nghìn năm.


Vĩ thanh chẳng vui chẳng buồn

Bà Kadeer vừa lên tiếng, và lên tiếng rất hay tại Câu lạc bộ Báo chí nước Úc8 : “ Tôi đánh giá rất cao sự ủng hộ từ phía chính phủ Trung Quốc trong việc nâng cao hình ảnh cá nhân tôi. […] Tôi làm sao có thể chi hàng triệu đô-la để được quảng cáo như vậy, nhưng nhờ có chính phủ Trung Quốc mà tôi có thể làm cho người Úc thấy được cảnh ngộ tuyệt vọng của đồng bào Uighur chúng tôi […] ”.

Một cảnh ngộ bi thảm được bọc lại bằng những lời lẽ nghịch ngợm.

Loài người sẽ thắng bọn quân tử tạp nham ở khắp các xó xỉnh trên Trái đất, từ Biển Đông tới Tân Cương, từ Gaza tới Osetia, từ Bagdah tới đâu đâu nữa, chỉ vì cái tinh nghịch của bà Kadeer già nửa đời người vẫn còn vui được như một cô gái bé vào giờ ra chơi đang nhảy dây ngoài sân trường.

Phạm Toàn


6Vụ Trung Quốc bắt nhân viên tập đoàn Rio Tinto : Úc lên tiếng cứng rắn ” : xem đâyđây.

7 như chú thích (5)

Share/Save/Bookmark

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2009

Phỏng Vấn Sử Gia Vũ Ngự Chiêu Về Những Nghiên Cứu Lịch Sử Liên Quan Đến Hồ Chí Minh

Nguồn : Hợp Lưu
Nguyễn Vĩnh Châu Chủ Nhật, Ngày 16 tháng 8-2009

LTS: Trước năm 1975, Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu là một sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, gốc Pháo Binh, từng phục vụ trong nhiều binh chủng, kể cả Nhảy Dù. Ngoài ra, Ông còn là một nhà văn với hơn 20 tác phẩm được ký dưới bút hiệu Nguyên Vũ. Sau khi tị nạn tại Hoa Kỳ, Ông trở lại trường học và hoàn tất văn bằng Tiến Sĩ Sử Học tại Ðại Học Wisconsin-Madison năm 1984. Về sau, Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu định cư tại Thành Phố Houston, TX và điều hành cơ sở Xuất Bản và Phát Hành Văn Hóa. Trong thời gian này, Ông đã cho xuất bản nhiều tác phẩm nghiên cứu sử học dưới bút hiệu Chính Ðạo hay tên thật Vũ Ngự Chiêu. Tại Houston, Ông cũng hoàn tất văn bằng Tiến Sĩ Luật tại Ðại Học Houston năm 1999. Với học bổng Fulbright, Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu đã đến Pháp (1982-1983, 1985-1986) và về Việt Nam (2004-2005) để nghiên cứu về những đề tài liên quan đến Sử học và Luật.
Trong Hợp Lưu 106, văn hữu Nguyễn Vĩnh Châu–cựu phóng viên đài VOA–đã thực hiện riêng cho tạp chí Hợp Lưu bài phỏng vấn đặc biệt Tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu về Hồ Chí Minh (1892-1969), Chủ tịch Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa [VNDCCH] (1945-1976). Những vấn đề được đưa ra cũng tương tự như buổi phỏng vấn dành cho nhóm thực hiện CD về HCM năm 2008 (mới phát hành gần đây), nhưng được đăng toàn vẹn, và hoàn toàn dựa trên tài liệu văn khố nhiều nước, như Pháp, Nga, Mỹ, Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc và Việt Nam.
Nhân dịp cuộc đàm phán Việt-Hoa về Hoàng Sa và Trường Sa đang khởi sự - mà theo chúng tôi Việt Nam nên từ chối ký bất cứ một văn kiện tay đôi nào với Bắc Kinh,và cương quyết đòi hỏi một hội nghị quốc tế do Liên Hiệp Quốc bảo trợ, để tránh ô danh đời đời trong lịch sử dân tộc như cha con Hồ Quí Ly, Mạc Ðăng Dung... xin trân trọng giới thiệu với quí độc giả thân quí những giải đáp thuần túy chuyên nghiệp về sử học của sử gia Vũ Ngự Chiêu.

TẠP CHÍ HỢP LƯU

Nguyễn Vĩnh Châu:

Thưa ông, theo tài liệu của CSVN thì ông Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ của ông Hồ Chí Minh là một nhà ái quốc, đã từ quan vì chống đối triều đình. Sự kiện này có đúng không?

Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu:

Cha ông HCM là Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy, gốc làng Sen (Kim Liên), huyện Nam Ðàn, tỉnh Nghệ An. (Sắc chỉ là tên gọi ngoài đời) Ðậu Phó Bảng năm 1901, ông Huy không theo học trường Hậu Bổ mà từng làm việc với Bùi Quang Chiêu, rồi bổ làm Thừa Biện Bộ Lại. Sau cuộc nổi dậy mùa Xuân 1908 của dân miền Trung, thăng bổ làm tri huyện Bình Khê (Bình Ðịnh).

Theo tài liệu Pháp, tháng 1/1910, Tri huyện Huy bị ngưng chức vì "nghiện rượu và tàn ác với dân chúng" (đánh chết một nông dân trong cơn say). Ngày 19/5/1910, bị chính thức tống giam vì tội danh trên. Qua tháng 8/1910, được miễn tội, chỉ bị cách chức.

Nguyễn Vĩnh Châu:

Theo sự nghiên cứu và những sử liệu mà ông có, xin ông vui lòng trình bày sự nghi vấn về tên thật và ngày sinh của ông Hồ Chí Minh.

TS Vũ Ngự Chiêu:

Theo tài liệu Pháp và Việt (như thư xác nhận Côn được nhận vào trường Quốc Học (Huế) ngày 8/7/1908, và bản án tử hình khiếm diện năm 1929 của tỉnh Vinh, bằng Hán ngữ pha chữ Nôm), tên thực Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Côn, với những bí danh như Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Sinh Xin (?),Nguyễn Ái Quốc, v.. v....

Một số tác giả trong nước tự động sửa thành Nguyễn Sinh Cung [chỉ dựa theo lập luận rằng vì anh là Khiêm].

Năm 1911, trong hai lá thư xin vào trường Ecole Colonale (Paris) viết từ Marseille, Nguyễn Sinh Côn tự xưng là Nguyễn Tất Thành. Trong những thư từ, từ 1912 tới 1914, còn có tên "Paul Thành."

Từ năm 1919, đổi thành Nguyễn Ái Quấc hay Quốc. Theo học giả Nga Anatoli Sokolov, HCM có tất cả trên 150 bí danh khác nhau.

Ngày và năm sinh của HCM cũng có nhiều vấn đề.

Năm 1911, Nguyễn Tất Thành (HCM) tự khai sinh năm 1892.

Ngày 17/5/1945, báo chí VNDCCH công bố ngày sinh nhật 19/5/1890 của HCM và yêu cầu dân chúng treo cờ làm lễ mừng trong 3 ngày. (Cứu Quốc [Hà Nội], 17/5/1945).

Sử gia Huỳnh Kim Khánh cho rằng HCM chọn ngày này để ghi nhớ ngày thành lập Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh tức Mặt Trận Việt Minh (19/5/1941). Nếu thế, ngày 19/5 cũng có thể để kỷ niệm ngày 19/5/1910, khi cha HCM bị cầm tù, cách chức, khiến HCM phải rời trường Quốc Học ra đi, và khởi đầu sự nghiệp chính trị.

Có dư luận cho rằng HCM đã ngụy tạo ngày sinh 19/5/1890 để bắt dân chúng Hà Nội treo cờ đón tiếp Cao ủy d’Argenlieu sẽ đến thăm chính thức Hà Nội vào ngày hôm sau, 18/5/1945, để bàn thảo về chuyến đi Pháp sắp tới của Hồ. Ðồng thời, cũng để chứng tỏ sự yểm trợ của dân chúng với Hồ và chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến. Việc này có thể xảy ra, vì HCM là loại người sử dụng mọi phương tiện để đạt mục đích.

Nguyễn Vĩnh Châu:

Thưa ông, được biết, ông đã khám phá một sự kiện rất quan trọng là việc ông Hồ Chí Minh nộp đơn xin học trường thuộc địa của Pháp. Xin ông cho biết diễn tiến sự việc này ra sao và ảnh hưởng của công trình khám phá này như thế nào?

TS Vũ Ngự Chiêu:

Ðầu tháng 2/1983, khi làm việc trên kho tài liệu trường Ecole coloniale, tức học hiệu huấn luyện các viên chức thuộc địa Pháp, trên đường Oudinot, quận 7, Paris, tôi vô tình khám phá ra nhiều hồ sơ học viên người Việt tại học hiệu này, như Bùi Quang Chiêu, Ðèo Văn Long, Phan Kế Toại, Trần Trọng Kim, Lê Văn Miễn, v.. v... tổng cộng khoảng 97 người (CAOM (Aix), Ecole Coloniale, cartons 27, 33 & Registers). Mục đích của tôi là tìm hiểu về những viên chức thuộc địa Pháp cùng thế hệ Tây học Việt Nam đầu tiên (ngoài những người tốt nghiệp các lớp huấn luyện ở các tu viện như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trường Tộ, v.. v...) để dùng cho chương Biến đổi văn hóa và xã hội của luận án Tiến sĩ. Thật vô tình, tìm thấy tập hồ sơ xin nhập học nhưng không được chấp nhận của Nguyễn Tất Thành, tức HCM sau này, cùng một người bồi khác được chủ Pháp mang về Paris. Ngoài hai lá thư viết tay gửi Tổng thống Pháp và Bộ trưởng Thuộc Ðịa, đề ngày 15/9/1911 tại Marseille, còn thêm ba tài liệu của Hội đồng quản trị trường. Trong biên khảo tam ngữ Một ngôi trường khác cho Nguyễn Tất Thành (Paris: 1983) tôi đã trình bày khá rõ: Người mà chúng ta biết như HCM sau này đã rời nước không vì muốn tìm đường cứu nước, mà chỉ vì những tao ngộ bản thân (cha bị cách chức, tống giam, nên phải bỏ học nửa chừng, v.. v...). Từ cổng hậu đóng kín của trường Thuộc Ðịa, HCM sẽ tìm thấy cánh cửa mở rộng của Ðại Học Phương Ðông của Liên Sô Nga 12 năm sau.

Năm 1991, trong tập Vàng Trong Lửa, hai Giáo sư Trần Văn Giàu và Trần Bạch Ðằng đã nhắc đến tập sách nhỏ này, nhưng không nêu tên tác giả Vũ Ngự Chiêu và Nguyễn Thế Anh. Nên thêm rằng sử gia Nguyễn Thế Anh đồng ý viết chung với tôi tập sách trên, cũng như phổ biến các tài liệu trên tờ Ðường Mới, nhưng ông Anh không phải là người phát hiện những tài liệu trên. Ít tháng sau, khi tôi đang làm việc ở Aix-en Provence, Nguyễn Thế Anh cho tôi biết hai sử gia Pháp, tức Hémery và Brocheux, tuyên bố họ đã khám phá ra tài liệu này từ trước. Tôi chẳng mấy quan tâm. Vấn đề là tại sao Hémery và Brocheux không công bố các tài liệu trên trước chúng tôi (vào mùa Hè 1983)? Và những người làm phim truyền hình chiến tranh VN cũng sử dụng tài liệu trên.

Một số học giả Mỹ cho rằng khi công bố tư liệu trên, tôi đã có ý muốn discredit [hạ giá] HCM. Nhưng sự thực lịch sử chỉ là sự thực lịch sử. Ðáng trách chăng là thái độ thiếu nghiêm chỉnh và lương tâm nghề nghiệp của một số học giả (kể cả William A. Williams). Vì tư tâm hay một lý do nào đó, họ đã gạt bỏ những tư liệu đi ngược lại lập luận và diễn dịch [thiên tả] của họ. Ðiều này ảnh hưởng không ít đến công trình nghiên cứu của tôi. Tôi đã không nhận chỗ dạy học tại Ðại học Georgetown, Oat-shinh-tân, vì mất đi lòng trọng vọng một số trong những "học giả".

Thật khó tin, nhưng có thực, là một số sách dùng dạy sử cho các lớp năm thứ nhất hay thứ hai đại học Mỹ vẫn còn ghi HCM đã rời nuớc năm 1912 để tìm đường cứu nước. Có người còn tuyên bố chẳng cần tìm hiểu thêm về HCM, dù tác phẩm của họ chứa đầy những lỗi lầm sơ đẳng về Ðảng CSVN. "As far as the Americans are concerned," người ta nói, ngần ấy kiến thức về HCM đã quá đủ. "Life goes on!"

Nguyễn Vĩnh Châu:

Như ông biết, CSVN cho rằng HCM là nhà tư tưởng vĩ đại, lỗi lạc. Theo sự nghiên cứu của ông sự thật như thế nào?

TS Vũ Ngự Chiêu:

Tôi nghĩ HCM là người của hành động hơn tư tưởng. Tư tưởng chỉ đạo của HCM chỉ là "luật kẻ yếu." Một ấn bản mới của Câu Tiễn tân thời giữa thế kỷ XX. HCM rất lưu loát và rộng rãi trong việc ca tụng người có thể giúp đỡ mình, và không tiếc lời đả kích những đối thủ. Các nhà cung văn không tiếc lời ví HCM như thánh, thần, Phật, Chúa, v.. v... Nhưng đọc kỹ những gì Hồ đã viết hay tuyên bố, chỉ có 2 điểm đáng ghi nhận:

Thứ nhất, cho tới thuở trung niên, tức vào khoảng năm 1919-1920, Hồ vẫn tin tưởng ở nhân và dân quyền. Trong 8 điểm đệ trình cho Hội nghị Versailles mùa Hè 1919, HCM tỏ vẻ rất tin tưởng ở những quyền tự do cá nhân, như tự do hội họp, tư tưởng, báo chí, v.. v... Trong các thư từ gửi đi từ Hà Nội năm 1945-1946, Hồ vẫn ca ngợi nhân quyền cùng nguyên tắc cao cả của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, v... v... như ánh sáng chỉ đạo.

Thứ hai, từ năm 1922-1923, HCM bắt đầu nói về cách mạng, theo mẫu Marxist-Leninist. Hồ kêu gọi đoàn kết vô sản thế giới, lập liên minh công-nông chống lại liên minh tư bản thực dân-Ki-tô giáo. Tháng 10/1923, tại Ðại Hội Nông dân quốc tế, Hồ đã tố cáo thực dân và nhà Chung cấu kết với nhau để "câu rút giới nông dân nghèo khổ."Khoảng ba năm sau, trong những bài giảng cho đoàn viên Việt Nam Thanh Niên Kách Mệnh Ðồng Chí Hội ở Canton (Quảng Châu), HCM hô hào phải làm Kách Mệnh. [Xem Ðường Kách Mệnh, in lại trong Văn Kiện Ðảng Toàn Tập [VKDTT], I:1924-1930, 2002:13-82]; David G. Marr, [On Trail, 1981:131n, 374-376] Theo Hồ, "Văn chương và hy vọng" trong tập sách gối đầu giường của cán bộ Thanh Niên chỉ ở trong hai chữ "kách mệnh, kách mệnh, kách mệnh." [The literary value and hope of this book are confined in two words: Kach menh, Kach menh, Kach menh ["Revolution, Revolution, Revolution."] Rồi Hồ trích dẫn Lenin: "Không kó lý luận kách mệnh, thì không kó kách mệnh vận động. . . Chỉ kó theo lý luận kách mệnh tiền fong, đảng kách mệnh mới làm nổi trách nhiệm kách mệnh tiền fong."[ 25]

Trong 23 điều nói về tư cách người làm kách mệnh, 16 điều chẳng có liên hệ gì đến duy vật biện chứng. Không thấy nguyên tắc thực tập liên lũy [praxis] của Marx, tức ý muốn làm thử, rồi rút ra kinh nghiệm cho những hành động tương lai [that is the will to act in order to test belief and obtain the additional grounds for further action. (Marr, On Trail, 1981:378)]Hành động với HCM chỉ là thực hiện chủ thuyết Marxist-Leninist hơn là giải quyết những vấn đề theo công tâm "Muốn làm kách mệnh thì phải biết: Tư bản và đế quốc chủ nghĩa nó lấy văn hóa và tôn giáo làm cho dân ngu. Nó làm cho dân chúng nghe thấy cách mạng thì sợ rùng mình. Vậy kách mệnh trước hết phải làm cho dân "giác ngộ." [23] Tóm lại, tư tưởng HCM chỉ có việc sao chép tư tưởng Lenin, Stalin và Mao Trạch Ðông. HCM thiên về hoạt động hơn tư tưởng.Việc cơ quan tuyên truyền CSVN đề cao tư tưởng HCM có lý do riêng. Nhưng ít khi thực sự vì chính Hồ. Mà vì những mục tiêu giai đoạn của người cầm quyền. Hãy lấy một thí dụ. Năm 1969, Lê Duẩn đã công bố ngày chết của HCM chậm 1 ngày (từ 2/9 tới 3/9), hay sửa lại, cắt xén di chúc của HCM. Một nguyện vọng nhỏ nhoi của HCM là được hỏa táng để phát động phong tục hỏa táng trong nước bị tảng lờ. Nói theo Brocheux, HCM đang bị "cầm tù" trong Lăng Ba Ðình. Thực ra, chẳng có dấu hiệu tôn trọng tư tưởng Hồ nào thiết thực hơn là giúp mang xác ướp của Hồ ra khỏi Lăng Ba Ðình, và hỏa táng.

Nguyễn Vĩnh Châu:

Ông có thể cho biết, lý do tại sao ngày nay đảng CSVN lại tung ra chiến dịch học tập đạo đức, tư tưởng Hồ Chí Minh?

TS Vũ Ngự Chiêu:

Lãnh đạo CSVN có lý do riêng của họ, khó đoán biết. Nhưng một cách tổng quát, có thể nghĩ rằng tinh thần "hủ Marxist-Leninist" khiến cán bộ tuyên giáo đang muốn phỏng theo gương Trung Nam Hải bắt dân Trung Hoa "học tập" kinh nghiệm Hán hóa thuyết Marist-Leninism." Người ta chỉ đổi đi năm chữ "tư tưởng Mao Trạch Ðông" bằng "tư tưởng Hồ Chí Minh."

Nguyễn Vĩnh Châu:

Theo ông tại sao HCM lại có thể tự viết sách đề cao mình, tự gán cho mình là "Cha già dân tộc" vô cùng lố lăng như trong cuốn "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch" với bút danh "Trần Dân Tiên"?

TS Vũ Ngự Chiêu:

HCM là một người hành động, một cán bộ cách mạng chuyên nghiệp [agitprop]. Việc HCM tự viết sách đề cao mình hay sai người ca tụng mình là việc phụ. Mục đích chính cần thực hiện là ca ngợi một nhân vật HCM chí thiện, chí thần, chí thánh. HCM rất ít khi quan tâm đến những khuôn thước giá trị tư bản, thực dân hay phong kiến mà HCM quyết tâm hủy diệt. Cũng nên thêm là "tư cách" hay "đạo đức" của người Cộng Sản, theo HCM, không giống quan điểm "phong kiến, thực dân"

[Tệ đoan cung văn này, dĩ nhiên, không do cơ quan tuyên giáo Cộng Sản độc quyền. Tại miền Nam, từng có huyền thoại về "điều trần" Nguyễn Trường Tộ, "nhà ngôn ngữ học" Trương Vĩnh Ký, hay "đầy vua không Khả, đào mả không Bài"–Khả, tức Ngô Ðình Khả, cha ruột Tổng thống Ngô Ðình Diệm (1897-1963), xuất thân thông ngôn cho Tây, tích cực trong việc đánh dẹp phong trào Cần vương do Phan Ðình Phùng lãnh đạo, và rồi được Pháp ủy thác giám hộ vua Thành Thái, với chức vụ Ðề đốc kinh thành. Bài là Nguyễn Hữu Bài, cha đỡ đầu Diệm, từng được Pháp cử làm Tổng lý triều Nguyễn từ 1925 tới 1932, trong thời gian ấu vương Bảo Ðại du học ở Pháp. Bàn tay Bài và quan lại Việt từng đẫm máu dân chúng miền Trung trong giai đoạn 1926-1932. Sau này, vào tháng 8/1944, Giám mục Ngô Ðình Thục viết thư cho Toàn Quyền Jean Decoux khoe kể công lao hãn mã của họ Ngô với Bảo hộ Pháp. Năm 1982, tôi nhờ Linh Mục Cao Văn Luận gửi một bản sao thư trên cho cựu Tổng Giám Mục Thục, yêu cầu cho biết ý kiến. Không thấy hồi âm; ít lâu sau nghe tin ông Thục đã chết vì điên loạn ở Mỹ.

Nhưng khi tôi cho công bố tài liệu trên năm 1989, có người cho rằng đó là "tài liệu giả"–hiểu theo nghĩa sau đó có người in trộm tài liệu trên từ báo Lên Ðường (Houston) vào sách họ, nhưng đã cố ý tẩy xóa một vài chi tiết trong thư.]

Nguyễn Vĩnh Châu:

Nhiều tác giả ngoại quốc vẫn nhận xét HCM là một người có tinh thần quốc gia, chỉ dùng chủ nghĩa CS để giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ. Theo sự tìm hiểu của ông thì sự thật như thế nào?

TS Vũ Ngự Chiêu:

Tôi nghĩ cách diễn tả "tinh thần quốc gia" quá trừu tượng, chứng tỏ sự thiếu hiểu biết, đưa đến sự đánh giá sai lầm HCM. Trên cơ bản, HCM là người nuôi tham tâm giành đoạt chính quyền bằng mọi giá và giữ vững độc quyền cai trị. Cũng cần lưu ý là HCM, theo tôi, không là một cán bộ Cộng Sản thuần thành.

Liên hệ giữa Hồ và Quốc Tế Cộng Sản có nhiều vấn đề.

Từ năm 1932, Nguyễn Ái Quốc đã bị QTCS khai tử.

Từ 1933-1938: NAQ phải sống với bí danh mới "Lin" hay "Linov," không được giao công tác gì. Năm 1935, chỉ được Lê Hồng Phong và Hà Huy Tập cho 1 ghế dự khuyết trong Ban Trung Ương Chấp Ủy, lo việc phiên dịch các tài liệu của Ðảng CSVN gửi Phòng Ðông Dương của QTCS. Năm 1938, vội vã rời Mat-scơ-va sang Diên An (Trung Hoa) để tránh bị Stalin thanh trừng. Nên chẳng có gì ngạc nhiên khi từ năm 1943-1944, HCM đã tìm cách móc nối cơ quan tình báo Mỹ. Từ sau chiến dịch Meigo của Nhật–tức cuộc bắt giữ hầu như toàn bộ chính phủ bảo hộ Pháp tại Ðông Dương trong hai ngày 9-10/3/1945–HCM bắt đầu chính thức hợp tác với Phi Ðoàn Cọp Bay 14 của Chennault tại Vân Nam. Và rồi, cơ quan OSS [Tình báo chiến lược] Mỹ từ tháng 3 đến tháng 8/1945 (Frank Tan, thuộc GBT, và rồi Deer Team, OSS, ở Kim Lộng, Tuyên Quang). Sau ngày 19/8/1945, viên chức Mỹ đóng vai đường giây ngoại giao của HCM, giúp chính phủ Hồ tồn tại qua cuộc chiếm đóng của Trung Hoa, và phần nào giúp Hồ thành lập chính phủ liên hiệp với Việt Nam Quốc Dân Ðảng và Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội, tổ chức bầu cử Quốc Hội, chính thống hóa chế độ VNDCCH hầu ký Tạm ước 6/3/1946 tại Hà Nội, và rồi Modus vivendi ngày 14/9/1946 tại Paris.

Nói cách khác, yếu tố ngoại cường thống trị và ảnh hưởng sự thăng tiến của HCM. Chiêu bài "quốc gia"–HCM tự nhận nhiều lần chỉ thuộc Ðảng Quốc Gia, và từng giải tán Ðảng CSÐD ngày 11/11/1945–chỉ quan trọng trong nội địa Việt Nam.

Nguyễn Vĩnh Châu:

Theo sự nghiên cứu của ông thì ông HCM có trách nhiệm gì trong việc đảng CSVN sát hại các đảng viên những đoàn thể quốc gia trong thời gian những năm 45-46?

TS Vũ Ngự Chiêu:

Dù có trực tiếp cho lệnh hay không, HCM phải chịu hoàn toàn trách nhiệm. Mặc dù Võ Giáp cùng Bộ Nội Vụ ra tay tàn sát các đảng phái chống Cộng khi HCM đang ở Pháp, HCM được báo cáo tuờng tận chi tiết những vụ án ngụy tạo xét xử cán bộ Việt Quốc, hay cuộc tàn sát VNQDÐ tại Hà Nội với lý do "bắt tay Pháp làm đảo chính nhân dịp Quốc Khánh 14/7 của Pháp." Dĩ nhiên, nên lưu ý rằng, năm 1945-1946, HCM chưa hoàn toàn kiểm soát được guồng máy chính quyền. Trong nội bộ Ðảng, HCM cũng không hoàn toàn kiểm soát được phe cực đoan như Trường Chinh Ðặng Xuân Khu và Hạ Bá Cang (Cung?), tức Hoàng Quốc Việt, v.. v... Ðó là chưa kể tinh thần địa phương Nam-Trung-Bắc. Nhưng những lời tuyên bố của HCM tại phiên họp kỳ II của Quốc Hội, từ 28/10 tới 9/11/1946, chứng tỏ HCM phê chuẩn việc làm của Giáp cũng như công an Việt Minh.

Nguyễn Vĩnh Châu:

Là một nhà sử học, ông nghĩ gì về lập luận cho rằng dù ông HCM có nhiều lỗi lầm nhưng vẫn có công giải phóng VN khỏi ách thực dân?

TS Vũ Ngự Chiêu:

Với những tài liệu đã giải mật (tháng 11/2008), không ai phủ nhận được tài năng của HCM trong việc lãnh đạo Ðảng CSVN tới chiến thắng cuối cùng của Ðảng này. Nhưng cách diễn tả "giải phóng VN khỏi ách thực dân" cần xét lại.Sau Thế Chiến Thứ Hai, phong trào giải thực–hiểu theo nghĩa thực dân Trung Cổ–xuất hiện ngay trong tâm ý dân chúng các cường quốc thuộc địa. Thực dân Pháp bị thất bại ở Việt Nam cơ bản là do quốc dân Pháp và Việt đều muốn chấm dứt nó. Thế giới cũng chuyển biến sang một hình thức "trật tự mới"–tức vùng ảnh hưởng của các siêu cường–đặc biệt là Liên Sô Nga và Liên Bang Mỹ, hai "siêu cường" lãnh đạo hai khối vô sản và tư bản. Sự nghiệp chính trị của HCM cho tới khoảng năm 1968-1969 phải được đánh giá trong hệ thống chính trị thế giơi chiến tranh lạnh "lưỡng cực" này. Và, rồi sự chia rẽ giữa Bắc Kinh và Mat-scơ-va từ năm 1958, dẫn tới chính sách hòa hoãn đa cực (bao gồm thế tay ba Mỹ-Nga-Trung Cộng tại Ðông Nam Á).

Nên ghi nhớ là ngay đến Ngô Ðình Diệm, năm 1954-1955, cũng khua chiêng, gõ trống cho thành tích "bài phong, đả thực"–nhờ phép lạ Mỹ.

Trường hợp HCM và Ðảng CSVN, thoát khỏi "ách thực dân Trung Cổ Pháp" để bị trói buộc vào "ách thực dân mới Hán Cộng." Khó thể gọi là "giải phóng VN khỏi ách thực dân."

Nguyễn Vĩnh Châu:

Theo ông thì trong cuộc Cải Cách Ruộng Ðất, ông Hồ Chí Minh có trách nhiệm gì không ?

TS Vũ Ngự Chiêu:

Trước khi nói đến trách nhiệm của HCM hay Ðảng CSVN, cần tìm hiểu rõ ràng về vai trò cải cách ruộng đât trong các xã hội nông nghiệp, rồi đến trường hợp cá biệt Việt Nam.

A. Cải cách ruộng đất [CCRÐ]–tức làm sao có sự phân phối ruộng đất hợp lý để nông dân có đất cày cấy–là điều quan tâm hàng đầu của những nhà cai trị các xã hội nông nghiệp muốn dân giàu, nước mạnh.

Trong Ðường Kách Mệnh, HCM từng viết:2. Tây đồn điền choán ruộng cách nào?

Nhiều cách.

Phần thì Tây đồn điền cướp, phần thì các nhà thờ đạo chiếm. Các cố đạo chờ năm nào mất mùa, đem tiền cho dân cày vay. Chúng nó bắt dân đem văn khế ruộng cầm cho nó và ăn lời thật nặng. Vì lời nặng quá, đến mùa sau không trả nổi, thì các cố xiết ruộng ấy đem làm ruộng nhà thờ."[ 73]

3. Chính phủ Pháp đãi dân cày An Nam thế nào?

Tư bản Tây và nhà thờ đã choán gần hết đất ruộng, còn giữ được miếng nào thì chính phủ lại đánh thuế thật nặng, mỗi năm mỗi tăng.[ 73] 10 phần lấy mất một.[ p.73]

Mua rẻ nhân dịp dân phải đóng thuế; xuất cảng. Nó chở đi chừng nào, thì dân ta chết đói nhiều chừng ấy.

4. Bây giờ nên làm thế nào? phải tổ chức nhau để kiếm đường giải phóng.[ 74]

5. Cách tổ chức dân cày thế nào?[ 74] Bất kỳ tiểu điền chủ trở xuống đều được vào; (trừ đại địa chủ, mật thám, cố đạo, say mê rượu chè, cờ bạc và a phiến)[74]

Nông hội chống rượu chè, a-phiến khiến mất giống nòi.

Biết kách mệnh tinh thần, kách mệnh kinh tế, thì kách mệnh chính trị cũng không xa.Từ đầu thập niên 1930, cải cách ruộng đất, hay cách mạng thổ địa, là một chiêu bài của Ðảng Cộng Sản Ðông Dương. Những khẩu hiệu như "Thanh trừ trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận ngọn" được nêu ra từ cuộc nổi dạy 1930-1931 tại Nghệ-Tĩnh và Nam Kỳ, và thống trị các tài liệu tuyên truyền của Ðảng CSÐD cho tới năm 1935-1936. Lý luận Marxist-Leninist phía sau chiêu bài sắt máu này là cuộc đấu tranh giai cấp giữa liên minh nông-công chống lại và tiêu diệt giai tầng địa chủ phong kiến, nhằm thủ tiêu hệ thống sản xuất cổ truyền, tiến tới việc xây dựng một xã hội công bằng mà ai nấy đều được hưởng tương ứng với những gì mình sản xuất, trên đường tiến đến xã hội Cộng Sản, ở đó ai nấy đều làm theo khả năng, được hưởng theo nhu cầu.

Vì mục tiêu cuối cùng–tức xã hội cộng sản, nơi nhà nước bị thăng hoa, chỉ có những người lao động sản xuất tự quản lý công hữu–chưa đủ điều kiện chào đời, Ðảng Cộng Sản và liên minh công-nông tiếp tục duy trì nhà nước chuyên chính vô sản, hay "dân chủ tập trung," thẳng tay tiêu diệt giai cấp địa chủ phong kiến, lấy đất chia cho người nghèo, để họ tự làm chủ. Những nhà tiểu tư sản mới này sẽ giúp tăng gia sản xuất lương thực, tạo nên thặng dư để góp vốn vào việc công nghệ hóa nền kinh tế. Sự phát triển đồng thuận và song hành này sẽ giúp đất nước sớm hiện đại hóa, nâng cao đời sống công nông, phát triển nền văn hóa lành mạnh.

B. Ðấu tranh Giảm Tức, Giảm Tô:

Từ năm 1945, chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa [VNDCCH] đã bắt đầu phát động chính sách đòi hỏi giảm tô (tức giảm tiền thuê ruộng đất) và giảm tức (giảm tiền vay lãi), nhưng có nơi thi hành, nơi không. Một trong những lý do chính là giai đoạn 1945-1946 còn có những nhu cầu và khó khăn, phức tạp cần giải quyết, liên hệ đến chính sự sinh tồn của chế độ.

Từ đầu năm 1947 tới năm 1949, chính sách nông thôn của Hồ chưa có thay đổi đáng kể, ngoại trừ những biện pháp tận thu, giảm chi, trên nguyên tắc "chớ nên mị dân." Tuy nhiên, chiến thắng của Mao Trạch Ðông ở Hoa lục (1949) và sự thành hình của "giải pháp Bảo Ðại" (1948-1949) khiến Hồ chẳng còn lựa chọn nào khác hơn trở lại với khối tân Quốc tế Cộng Sản (Cominform), do Liên Sô Nga lãnh đạo. Bên cạnh những chuẩn bị tái lập Ðảng Cộng Sản Ðông Dương (dưới tên mới Ðảng Lao Ðộng Việt Nam từ năm 1949-1951), và do nhu cầu tăng gia thu nhập cũng như củng cố sự yểm trợ của giới nông dân (bần cố nông và bần nông), từ đầu năm 1949, BTV/TW Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mã Khắc Tư ra Chỉ thị ngày 3/1/1949 cho các Khu ủy về sách lược vận động tranh đấu bắt các địa chủ giảm tô 25% như chính phủ qui định. Mục tiêu lần này được mở rộng tới các địa chủ "công giáo, và chỉ thị trên còn qui định việc giảm tiền xin lễ, nhưng tránh không chạm đến tín ngưỡng." (VKÐTT, 10, 2001:176-177)

Ðầu tháng 6/1949, BTV/TW lại gửi điện ngày 1/6/1949 cho Liên khu [LK] IV về phong trào khuyến khích địa chủ hiến đất. (VKÐTT, 10, 2001:241) Ngày 14/7/1949, HCM ký Sắc Lệnh Giảm Tô. Ngày 14/10/1949, BTV/TW ra chỉ thị tạm cấp ruộng đất của Việt Gian cho người nghèo. (VKÐTT, 10, 2001:299-303) Ngày 22/10/1949, BTV/TW chỉ thị LK IV vận động giảm tô 25%. (VKÐTT, 10, 2001:307-308)

Ngày 18/11/1949, BTV/TW ra Thông tri về việc chấn chỉnh tổ chức nông dân: Khéo léo đưa địa chủ ra khỏi Hội Nông Dân Cứu Quốc bằng cách tổ chức vào những hội khác (Phụ lão, Liên Việt) Thành phần BCH HNDCQ phải có bần cố nông, có người trẻ. Không nên có phú nông; nếu có chỉ để làm vì. Ra sức tổ chức Hội nông dân trong vùng Công Giáo. [Lê Văn Lương]. (VKÐTT, 10, 2001:314-315)

Ngày 5/7/1950,Trường Chinh đọc báo cáo về chính sách nông thôn tại phiên họp mở rộng của Ban Kinh tế TW [5 tới 7/7/1950]. (VKÐTT, 11, 2001:591- 626) Ngày 17/7/1950: Ban Thường vụ TW chỉ thị "hoàn thành giảm tô, thực hiện giảm tức."

Tại Ðại hội tái lập Ðảng CS [Lao Ðộng] vào tháng 2/1951, Tổng Bí thư Trường Chinh nhấn mạnh là CCRÐ chỉ nhắm vào giảm tô, giảm tức. Ðịa chủ hiến đất đai. Kháng chiến thắng lợi sẽ CCRÐ. [Ngày 16/4/1951 Hồ Viết Thắng được cử làm trưởng Tiểu ban Nông vận (còn có Trương Việt Hùng, Nguyễn Hữu Thái, Trần Ðức Thịnh, Ca, Nông, Di, Ðào). (VKÐTT, 12, 2001:526- 527)]

Ngày 22/4/1952, Hội nghị TW lần thứ ba của ÐLÐVN [22 tới 28/4/1952] vẫn còn ra nghị quyết: "Trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh." (VKÐTT, 13, 2001:65- 75) Về chính sách ruộng đất sẽ tập trung vào giảm tô, giảm tức, lôi kéo địa chủ; tịch thu ruộng đất của Pháp và Việt gian cho dân cày nghèo. Chưa thủ tiêu bóc lột phong kiến. ( VKÐTT)13, 2001:118- 128).

C. Chính thức phát động CCRÐ:

Năm 1952, Mao Trạch Ðông mời Hồ Chí Minh qua Bắc Kinh, ép phải cải cách ruộng đất. Ðồng thời thực hiện chỉnh quân, chỉnh huấn. (Hoan, 1987:359-367). Ngày 15/8/1952, Ban Bí thư [BBT] Ðảng LÐVN ra chỉ thị bổ sung chỉ thị 37 về chính sách ruộng đất: Từ nay "Dựa vào bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ vơí trung nông, liên minh với phú nông, lôi kéo hoặc trung lập một số địa chủ, đánh đuổi đế quốc và đại địa chủ phong kiến phản động." (VKÐTT, 13, 2001:239) Ngày 25/11/1952, BBT ra thông tri về việc điều tra nông thôn. (VKÐTT, 13, 2001:347- 360)

Ðầu năm 1953, Trung Cộng cử Kiều Hiểu Quang, Phó Bí thư Quảng Tây, phụ trách đoàn cố vấn cải cách ruộng đất. (Theo Hoàng Tùng, La Quí Ba cũng ép Hồ phải đấu tố Nguyễn Thị Năm, tức Cát Thành [Hanh] Long. "Mấy ngàn người bị xử tử." (Tài liệu truyền tay ký tên Hoàng Tùng. Hoàng Tùng phục vụ trong Ban Tuyên huấn của Trường Chinh, nên có những thông tin đặc biệt. Theo tài liệu đã dẫn, HCM rất bất mãn về áp lực của Bắc Kinh, nhưng không dám chống đối. Xem thêm infra.)

16/4/1951: Nghị quyết ngày 16/4/1951 của BCH/TW về việc thành lập các ban và tiểu ban giúp việc:Ban Tuyên huấn: Trường Chinh, Phạm Tô, Tố Hữu, Trần Quang Huy, Hoàng Tùng, Xuân Thủy, Lê Quang Ðạo, Nguyễn Chương, Nguyễn Khánh Toàn, Minh Tranh.

Ban Mặt Trận: Hoàng Quốc Việt, Thoại Sơn, Hồ Viết Thắng, Xuân Thủy, Trần Cung, Lê Thành Lập, Dương Bạch Mai.

Ban Kinh tế-Tài chính: Phạm Tô, Cù Vân, Trần Ðăng Ninh, Hồ Viết Thắng, Lê Văn Hiến, Ðặng Việt Châu, Bùi Công Trừng, Nguyễn Văn Tạo, Trần Danh Tuyên, Nguyễn Ðức Thụ.Tiểu ban Nông vận: Hồ Viết Thắng, Trương Việt Hùng, Nguyễn Hữu Thái, Trần Ðức Thịnh, Ca, Nông, Di, Ðào. (VKÐTT, 12, 2001:526- 527)

Cũng có nhân chứng cho rằng cuối tháng 3/1950, khi từ Bắc Kinh trở lại Tuyên Quang, Hồ tuyên bố với Ban Thường vụ Trung ương Hội Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mã Khắc Tư (tức Ðảng CSÐD, đã được bí mật tái khai sinh từ năm 1948-1949) là Stalin muốn làm cách mạng thổ địa, và Hồ muốn làm cách mạng thổ địa với sự tiếp tay của TC. (Võ Nguyên Giáp, CÐTVV, 2001:349-350) Một tài liệu TC ghi ngày 5/3/1953, khi cùng HCM [dưỡng bệnh ở TH] rời Bắc Kinh về VN, Vi Quốc Thanh được HCM kể lại những chi tiết về chuyến qua Mat-scơ-va cuối năm 1952, và ý định thực hiện CMTÐ, theo lệnh Stalin. "Không thể đứng giữa một ngọn đòn sóc. (Vu Hóa Thẩm [Vương Chấn Hoa], "Vi Quốc Thanh," (Vu Hóa Thẩm, LQB, 2008:59)

D. Hội nghị kỳ 4 Ðảng LÐVN (25-30/1/1953):

Theo tài liệu chính thức của Ðảng Cộng Sản Việt Nam, Hội nghị lần thứ tư Trung ương Ðảng LÐVN (25-30/1/1953) đã quyết định tiến hành cải cách ruộng đất, tức phong trào đấu tố (rập khuôn Trung Cộng).

Ngày 25/1/1953, HCM đọc báo cáo về tình hình trước mắt và nhiệm vụ CCRÐ. Triệt để giảm tô, tiến tới CCRÐ. Theo Hồ, từ 1945, đã thực hiện giảm tô, nhưng tới nay chưa đúng mức: có nơi giảm, nơi chưa giảm. Nay phải triệt để thực hiện giảm tô. Phải phát động quần chúng nông dân tự giác tự nguyện đứng ra đấu tranh triệt để giảm tô giảm tức và giành lấy ưu thế chính trị ở nông thôn. Ðảng và chính phủ phải lãnh đạo, tổ chức, giúp đỡ, kiểm tra. Sau đó sẽ cải cách ruộng đất. Nông dân là nền tảng của vấn đề dân tộc, và cũng là nền tảng của cách mạng dân chủ chống phong kiến, chống đế quốc. Muốn kháng chiến thắng lợi phải nâng cao quyền lợi kinh tế và chính trị của nông dân, chia ruộng đất cho nông dân. CCRÐ sẽ giúp Ðảng LÐ Việt Nam giải quyết nhiều vấn đề:

Về quân sự: Nông dân hăng hái tham gia bộ đội; đồng thời làm tan rã ngụy quân.

Về kinh tế-tài chính: nông dân đủ ăn đủ mặc, sẽ giúp phát triển công thương nghiệp, hăng hái đóng thuế nông nghiệp.

Về chính trị: Nông dân nắm ưu thế trong làng xã, "nhân dân dân chủ chuyên chính sẽ được thực hiện rộng khắp và chắc chắn."

Về văn hóa: "có thực mới vực được đạo." Nông dân no đủ sẽ phát triển văn hóa.

Những vấn đề như thương binh, công an nhân dân dễ giải quyết.

Về Mặt Trận Liên Việt: Nông dân sẽ chiếm đa số, cơ sở công nông liên minh vững chắc hơn.

Ðấu tranh triệt để giảm tô giảm tức làm đà cho CCRÐ.

E. Hồ nêu lên kinh nghiệm CCRÐ ở Trung Hoa:

Tới cuối năm 1952, đã hoàn thành CCRÐ, chia đất cho nông dân. Hơn 500,000,000 nông dân được chia hơn 700 triệu mẫu ruộng. Nông dân giữ lại được hơn 30 triệu tấn thóc địa tô. Hăng hái tăng gia sản xuất: Năm 1950 lương thực tăng 20% so với năm 1949; năm 1952 tăng 40%. Thành phần xã hội thay đổi rất nhiều: trung nông tăng từ 20% tới 80%; bần nông giảm từ 70% xuống còn 10-20%. Về chính trị, chỉ tại bốn khu Hoa Trung, Trung Nam, Tây Nam và Tây Bắc nông hội đã có hơn 88 triệu hội viên, trong đó hơn 30% là phụ nữ; 60% đến 80% nông dân tổ chức thành những đội đổi công, hợp tác xã. Nông dân trở thành trụ cột của chính quyền ở nông thôn; nhân dân dân chủ chuyên chính và công nông liên minh trở nên vững chắc. Công nghệ và thương nghiệp mau phát triển; văn hóa cũng lên vùn vụt. Hơn 49 triệu trẻ em nông dân được đi học. Vì trình độ giác ngộ lên cao, phong trào chống tham ô lãng phí, quan liêu và chống Mỹ, giúp Triều nông dân hăng hái tham gia. (HCMTT, 7:1953-1955, 1996:8-9.

Thực ra HCM không hoặc không muốn nói đến thực trạng sắt máu của bài học CCRÐ Trung Hoa. Từ ngày 1/10/1949 tới cuối tháng 8/1951, có tới 28,000 bị hành quyết tại Quảng Ðông. Trong nửa năm đầu 1951, khoảng 800,000 phiên tòa xét xử phản cách mạng, và 135,000 người bị tử hình. Từ 1949 tới 1952, khoảng 2 triệu người bị hành quyết. Hơn 2 triệu người khác bị gửi vào các trại cải tạo. ( Maurice Meisner, Mao’s China, 1977:81).

Năm 1952, Mao và Ðảng CSTH đã khiến giai cấp đại địa chủ ngừng hiện hữu, nhưng cả Mao lẫn Hồ, đều hiểu rằng CCRÐ chưa phải là cách mạng XHCN. Theo lý luận Marxist-Leninism, đây mới chỉ là giai đoạn "tư sản" [bourgeoisie] của cách mạng, hay cái gọi là "Tân Dân Chủ" của Mao. Nói theo Marx, "chế độ Bonaparte [Pháp] là triều đại của nông dân."

Mục tiêu chính của Mao chỉ là: mở rộng cơ sở ủng hộ; kiểm soát hành chính xuống các xã thôn; làm gia tăng mức sản xuất nông phẩm. Bài diễn văn ngày 14/6/1950 của Liu Shaoqi [Lưu Thiếu Kỳ] hầu như đã được phỏng dịch lại trong bản báo cáo của HCM: thực hiện CCRÐ từng bước với sự thận trọng và biệt phân, trong khi lượng sản xuất nông phẩm gia tăng; phải dựa vào bần và cố nông, liên minh với trung nông, và vô hiệu hóa phú nôngHồ cũng không nhắc gì đến những con sóng bạo lực và sự phẫn nộ của 20 triệu người Hoa bị "vạch thành phần" là địa chủ, sự chống đối của họ [107- 108]. Bi thảm hơn nữa là dù CCRÐ đã hoàn tất, tình trạng nghèo khổ của nông dân TH không thay đổi. Chỉ có Ðảng CSTH đại thắng khi thay thế những kỳ hào cũ của các thôn xã bằng những người trẻ trung hơn, giúp đẩy mạnh việc trung ương tập quyền cho Ðảng và Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc. Ðồng thời chuẩn bị cho bước tái tổ chức kế tiếp, tức tập trung sản xuất [collectivation].Trường Chinh báo cáo về mục đích, ý nghĩa, phương châm, phương pháp và kế hoạch thực hiện CCRÐ. (VKÐTT, 14:30- 83.

Ngày 30/1/1953, ra Nghị Quyết "Thẳng tay phát động triệt để giảm tô." (VKÐTT, 14:128- 132)

F. Ngày 5/2/1953, Trường Chinh ra chỉ thị về cách phổ biến Nghị Quyết của Hội nghị lần thứ tư BCHTW (khóa II): chỉ phổ biến CCRÐ tới cấp khu ủy và đại đoàn ủy, nhưng tạm thời giữ bí mật thời điểm thực hiện. Cấp tỉnh ủy và trung đoàn ủy chỉ nói giảm tô, tiến tới CCRÐ. Cấp dưới, không nói đến CCRÐ, chỉ nói đến 5 công tác trong năm 1953. (VKÐTT, 14:136-137).

Trong khi đó, Hồ liên tục xuất hiện phát động các kế hoạch rập khuôn Trung Cộng khác: Ngày 5/2/1953, HCM nói chuyện trước Hội nghị nông vận và dân vận toàn quốc. Hôm sau, 6/2/1953, HCM nói chuyện trước lớp chỉnh huấn cán bộ Ðảng, Dân, Chính ở cơ quan TW. Hồ nhắc nhủ các cán bộ: "Ngồi giữa hai ghế thì nhất định sẽ ngã."

Ngày 22/4/1953, Ban Bí thư ra chỉ thị v/v 10 điều kỷ luật của cán bộ khi thi hành CCRÐ. Ngày 24/4/1953, Ban CHTW ra Chỉ thị v/v phát động quần chúng trong năm 1953.

Chỉ thị của BCT ngày 4/5/1953 v/v Mấy vấn đề đặc biệt trong phát động quần chúng trong năm 1953 phản ảnh khía cạnh sắt máu của kế hoạch CCRÐ:

Trừng trị địa chủ phản động và gian ác

Mức thoái tô, dây dưa tiền công

Tước vũ khí của địa chủ [vụ đồn điền Vũ Ngọc Hoành]

Yêu cầu về trình độ tổ chức trong cuộc phát động quần chúng

Chỉ thị số 43/CT/TW của BCT ngày 10/6/1953 v/v Hướng dẫn công tác phát động quần chúng. (VKÐTT, 14:223- 234. Theo tin quân sự Pháp, thời gian này tại miền Bắc, Pháp chỉ kiểm soát được 1,129 làng (trên tổng số 7,000 làng). (10H 282).

Phản ứng của dân chúng, và nhất là cán bộ cực kỳ xúc động. Ngày 29/6/1953, Thông Tri của Ban Bí thư về vấn đề tuyên truyền phát động quần chúng. ghi nhận "Ngay đến một số cán bộ lãnh đạo chưa thấm nhuần đường lối của CP. Nhiều nơi, địa chủ và ngay cả phú nông, trung nông tự tử."( VKÐTT, 14: [tr. 246])

Ngày 3/7/1953, để trả lời những thắc mắc như "có CCRÐ trong kháng chiến hay không?," BCT khẳng định Hội nghị TW lần thứ 4 (1/1953) đã quyết định CCRÐ trong kháng chiến.

G. Luật CCRÐ 19/12/1953:

Trung tuần tháng 11/1953, tại Hội nghị lần thứ 5 BCH/TW Ðảng LÐVN và Hội nghị Toàn quốc lần thứ nhất Ðảng LÐVN (14-23/11/1953), kế hoạch CCRÐ được chính thức công bố. Bước kế tiếp chỉ còn là việc của Quốc Hội. Ngày Thứ Ba, 1/12/1953, Quốc Hội VNDCCH họp khóa thứ ba [tới 4/12/1953]. HCM tham dự. Ðọc báo cáo về tình hình thế giới, kháng chiến và CCRÐ.

Trên mặt trận tuyên truyền, người ta chỉ được giải thích là lấy ruộng đất của "địa chủ phong kiến, Việt Gian ác ôn" chia cho người nghèo, với khẩu hiệu người cày có ruộng. Trên thực tế, để tiêu diệt cái gọi là chế độ sản xuất phong kiến, chính phủ Hồ áp dụng "công lý bần nông," tức các phiên tòa đấu tố, bắt ép những người bị qui [vạch] vào thành phần địa chủ, cường hào, ác ôn hay Việt Gian phải nhận cả những tội lỗi họ chưa bao giờ vi phạm; rồi sau đó xử tử hình, hạ tầng công tác hay tập trung cải tạo.

Ðợt thí nghiệm ở Thái Nguyên (dân số 10,781 người) từ tháng 12/1953 tới tháng 3/1954. Tịch thu, trưng thu, trưng mua 2,609 mẫu cho 6,089 nông dân. (VKÐTT, 15:1954, p. 201).

Số nạn nhân của kế sách CCRÐ được ước lượng từ 15,000 tới 50,000 người. (Catton, 2002; Brocheux, 2003:225).

Cần nhấn mạnh, mục tiêu chiến lược của CCRÐ vào thời gian này: bên cạnh quyết tâm "tiêu hủy giai cấp địa chủ phong kiến," nhắm mở rộng sự kiểm soát các làng xã, tiêu diệt khả năng chống đối của địa chủ, gia tăng thu nhập lương thực và thuế, gia tăng số người nhập ngũ và "dân công" phục vụ nhu cầu chiến trường (lên tới hơn 100,000 trong chiến dịch Ðiện Biên Phủ). Mãi tới sau đợt cải cách ruộng đất thứ 5 vào mùa Xuân-Hè 1956–trong không khí chống đối, bất mãn khắp nơi, kể cả biến cố nông dân Quỳnh Lưu nổi dạy, Võ Giáp phải mang quân lính đến đánh dẹp–Hồ mới họp Hội nghị TWÐ lần thứ 10 (khóa II, 8-10/1956), nhìn nhận khuyết điểm, tự chỉ trích và phê bình; rồi tự mình thay Trường Chinh làm Tổng Bí thư, và trừng phạt chiếu lệ những cán bộ điều khiển chính sách cải cách ruộng đất. (TTLTQG 3 (Hà Nội) có một số tư liệu của Kho Quốc Hội đã giải mật. Bộ Văn Kiện Ðảng Toàn Tập cũng in lại khá đầy đủ những nghị quyết và chỉ thị cơ bản về chính sách CCRÐ của Ðảng Cộng Sản từ năm 1949 tới 1957. Xem, Chính Ðạo, "Mặt Trận Nông Thôn: Từ Cải Cách Ruộng Ðất tới Ấp Chiến Lược;" Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, tập II (Houston: Văn Hóa, đang in).

HCM đã chịu áp lực của Bắc Kinh để thực hiện việc cướp đoạt tập thể tài sản dân chúng này. nhưng qui trách cho sai lầm của Trường Chinh, không phải do các cố vấn TQ. (Hoan, 1987:366-367)

Kết luận sơ khởi của chúng tôi là cuộc cách mạng thổ địa vừa từ trên xuống (theo nghĩa do đảng LÐVN lãnh đạo, phát động, tổ chức và kiểm soát) vừa từ dưới lên (bạo lực tự phát của giới nông dân nghèo khổ, ao ước được chia đều phương tiện sản xuất, kể cả đất đai) chỉ mới thành công về chính trị và quân sự hơn kinh tế và xã hội hay văn hóa.

Nguyễn Vĩnh Châu:

Trong vụ án "Nhân Văn-Giai Phẩm", ông Hồ Chí Minh có trách nhiệm gì không?

TS Vũ Ngự Chiêu:

Vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm là hậu quả đương nhiên của quyết định độc quyền cai trị bằng họng súng của Ðảng CSVN. Là Chủ tịch Ðảng và Nhà Nước, HCM chịu trách nhiệm. Riêng với HCM, đó còn là sự phản bội chính những đòi hỏi thuở trung niên của Hồ.

Nguyễn Vĩnh Châu:

Còn về vụ thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế, ông Hồ Chí Minh có chịu trách nhiệm gì không ?

TS Vũ Ngự Chiêu:

Thời điểm này, HCM hầu như không còn thực quyền. Lê Duẩn-Lê Ðức Thọ đã nắm hết quyền lực. Vấn đề đặt ra là liệu những viên chức địa phương đã vượt qua chỉ thị vào tháng 1/1968 của Lê Duẩn? (Phá cho tan hậu cứ VNCH, tức các đô thị).

Nguyễn Vĩnh Châu:

Hiện tại, nhiều đồng bào trong nước cũng như hải ngoại rất quan tâm và bất bình về vấn đề mất đất, mất các quần đảo do Trung Cộng chiếm đoạt. Vậy, theo ông thì ông Hồ Chí Minh có trách nhiệm gì không?

TS Vũ Ngự Chiêu:

Dĩ nhiên là có. HCM là người cầm đầu Ðảng và Nhà Nuớc. Thư ngày 14/9/1958 của Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai–tự nguyện nhìn nhận biên giới do Trung Cộng tự vẽ, với những dấu chấm ở vùng lãnh hải phía Nam–phải được sự phê chuẩn của HCM và Bộ Chính Trị Ðảng Lao Ðộng Việt Nam như Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn Hoan, Lê Ðức Thọ, v.. v...

Bắc Kinh và Hà Nội thường nói về tình "môi hở, răng lạnh," hay "viện trợ không kèm móc câu hay thòng lọng." Thực tế, việc cắt đất cắt biển là những lưỡi câu và thòng lọng mà dân tộc Việt đang và sẽ chịu đựng.

Nguyễn Vĩnh Châu:

Qua những điều đã trình bày thì theo ông, Hồ Chí Minh đã để lại di sản gì cho Dân Tộc Việt Nam?

TS Vũ Ngự Chiêu:

Một di sản buồn.

Ba mươi năm chiến tranh, hàng triệu người chết và thương tật, sự tàn phá của làng mạc, ruộng vườn, đất đai. Và mối hận thù khó nguôi của các giai tầng xã hội.

Một tương lai, mù sương, trong cuộc hành trình vô định, đầy thử thách từ một xã hội nông nghiệp, nửa thực dân nửa phong kiến đã chết, tới một thể chế chưa đủ khả năng chào đời.

Từ năm 1991 bắt đầu nhập cảng thứ lý thuyết Marxist bị Hán hóa từ phương Bắc, và thay thế bảng hiệu "tư tưởng Mao Trạch Ðông, lý luận Ðặng Tiểu Bình" bằng "tư tưởng Hồ Chí Minh."

Nguyễn Vĩnh Châu:

Nói tóm lại, theo ông thì Hồ Chí Minh có công hay có tội đối với dân tộc Việt Nam?

TS Vũ Ngự Chiêu:

Có lẽ còn quá sớm để đánh giá HCM.

Vấn đề tùy thuộc ở những gì những người kế vị HCM sẽ thực hiện trong tương lai.

Houston, 1/2009

Nguyễn Vĩnh Châu


Share/Save/Bookmark

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2009

Đêm giã từ Hà Nội

Nguồn : Mai Thảo

Đêm giã từ Hà Nội

Phượng nhìn xuống vực thẳm.
Hà Nội ở dưới ấy.

Từ chỗ anh đứng, Phượng nhìn sang bờ đường bên kia. Những tảng bóng tối đã đặc lại thành khối hình. Từng chiếc một, những hàng mái Hà Nội nhoà dần. Phượng nhìn lên những hàng mái cũ kỹ, đau yếu ấy, giữa một phút giây nhoè nhạt, anh cảm thấy chúng chứa đựng rất nhiều tâm sự, rất nhiều nỗi niềm. Những tâm sự câm lặng. Những nỗi niềm nghẹn uất. Của Hà Nội. Của anh nữa.

Dưới những hàng mái cong trũng, ngập đầy lá mùa kia, đang xảy ra những tâm trạng, những biến đổi gì mà ở bên này đường Phượng không đoán hiểu được. Hà Nội đang đổi màu. Đứng bên này bờ đường nhìn sang, Phượng bắt đầu tiếp nhận với một thứ cảm giác ớn lạnh, cách biệt, anh đã đứng trên một bờ vĩ tuyến mà nhìn về một vĩ tuyến bên kia. Bên ấy, có những hình ảnh chia cắt, đứt đoạn. Bên ấy, có những hình chiến luỹ, những hàng rào dây thép gai, những đoạn đường cấm, những vùng không người.

Phượng cũng không hiểu tại sao nữa. Giờ này anh còn là người của Hà Nội, thở nhịp thở của Hà Nội, đau niềm đau của Hà Nội, mà Hà Nội hình như đã ở bên kia.

Phượng nhìn xuống lòng đường. Trong bóng tối, mặt nhựa lầm lì không nói gì. Những hình cây đổ nghiêng trên những tấc đất đá câm nín. Bí mật dàn ra những bề phẳng, những đường dài như một dòng sông ngăn chia hai bờ, và Phượng đã đứng ở bên này mà nhìn sang một bờ bến bên kia. Bên kia có Hà Nội. Bên này có anh. Có tập thể. Có những bạn đường. Có một chuyến đi về Hà Nội.

Chung quanh chỗ Phượng đứng, những tảng bóng tối đã đọng lại trên bờ đường như những bờ hầm hố. Nhìn xuống, Phượng có cảm giác chơi vơi như đứng trên một tầng cao. Anh nhìn xuống vực thẳm. Hà Nội ở dưới ấy.

Anh nhớ đến Thu. Thu cũng còn ở dưới ấy, trong Hà Nội. Cái mái nhà cũ kỹ bên kia, chính là mái nhà Thu, lại cũng chính là ở bên ấy, Thu sẽ đến với anh, ở bên này. Từ một mái nhà của Hà Nội đêm nay, đến bờ đường anh đứng, chỉ có một đoạn ngắn, nhưng Phượng biết rằng đêm nay, nó chứa đựng tất cả ý nghĩa của một đoạn đời. Và Thu, Thu phải đặt cả đời Thu vào một chuyến đi, thì Thu mới vượt được đoạn đường ngắn ngủi ấy, và Thu mới sang được với anh. Như anh, như hàng nghìn hàng vạn con người Hà Nội đêm nay, Thu sẽ ở lại hay sẽ vượt lòng biên giới cũ. Giữa những phút giây Hà Nội đang rắn lạnh lại trong chuyển đổi chính thể đã bắt nguồn, đứng bên này đường, Phượng mới cảm thấy rằng ở bên kia Hà Nội, Thu đã ở thật xa anh. Cái cảm giác ớn lạnh mỗi khi anh đứng trước một dòng sông lại nổi lên. Con sông biên giới đêm nay lại hình như con sông Hồng chảy qua một bờ Hà Nội. Trong Phượng, sóng lòng của chuyển dịch chưa kịp nổi lên mà những ngọn sóng của dòng sông cũ đã nổi dậy. Âm thanh oà oà. Lòng đêm Hà Nội chứa đựng những tiếng đổ vỡ đang xô chen trong bóng tối đặc quánh.

Qua bóng tối, Phượng nhìn thấy những hình khối của Hà Nội bên kia: một cửa ô đoạ đầy. Một hàng mái cũ. Những lớp phố phường sa đoạ. Những ánh đèn nhạt tái trên những bờ tường câm đen. Bóng tối chính thể đổ xuống làm nghiêng ngả những sự kiện này.

Bên kia, Hà Nội vẫn đang lặng lẽ đổi màu. Người Hà Nội dựng cửa tắt đèn để mà đổi thay trong bóng tối. Phượng thấy thương Hà Nội. Thương những người Hà Nội. Những người còn ở lại dưới những hàng mái cũ kỹ kia vì những vướng bận đau khổ.

Đêm khuya dần. Từ một cửa ô, Hà Nội bắt đầu ngây ngất dấy lên những ngọn gió núi rừng thổi về. Gió rừng hoang về qua cửa ô, đi thẳng vào tâm can của người Hà Nội. Ngọn gió tiền phong này đến trước chính thể, đang lọt dần qua cửa ô Yên Phụ, Kim Liên như một điển hình của hoang lạnh rộng lớn. Cả Hà Nội run lên, tê đi. Trước phút bỏ đi mà Phượng cũng như giá buốt cả cơ thể. Hà Nội đã bắt đầu đón nhận ấn tượng. Ngày mai, Phượng ở miền Nam rồi, Hà Nội sẽ phải còn đón nhận những sự kiện, những con người bên ngoài. Sau ấn tượng hoang vắng đêm nay, sẽ là sự thật tàn nhẫn ngày mai. Nhưng chỉ đón nhận ấn tượng, Phượng cũng đủ thấy Hà Nội không còn gì. Hà Nội chỉ còn là một thứ thuộc về bên kia. Hà Nội chỉ còn là một thứ thuộc về bên kia. Bên kia như Đêm. Như Bóng tối. Như Sa đoạ. Như Tù đày.

Trên đầu Phượng, những ngọn lửa nhìn xuống. Ấy là những con mắt đau yếu của một Hà Nội không ngủ. Những ánh lửa tròn, nhợt nhạt, bé nhỏ, bị giam chặt giữa bóng tối. Phượng nghĩ đến những vì sao xa xôi đứng chết ở một góc trời cũ. Hệ thống ánh sáng Hà Nội đã hết bay múa. Bóng tối dềnh lên những đường lung linh. Từng điểm lửa gục đổ. Đêm nay, Phượng chỉ còn mong chúng có đủ ánh sáng để soi đường cho Thu đến được với anh. Phượng chỉ còn mong có thế thôi. Vì anh biết ngày mai những điểm lửa ấy sẽ không sáng nữa. Hà Nội sẽ không sáng nữa.

Buổi chiều, hồi năm giờ, gặp Thu ở cuối nhà Thuỷ Tạ, anh đã nhắc Thu đến một ngả đường. Đúng hơn đến một chuyến đi. Anh lại nhắc cả Thu đến một hạn định: Hôm nay là ngày cuối cùng người ta được tự do rời khởi Hà Nội.

Phượng bảo người yêu: “Hôm nay đã là ngày chót rồi, Thu ạ! Mười hai giờ đêm nay, chuyến xe cuối cùng sẽ đi qua cầu Long Biên. Anh sẽ đi chuyến ấy. Việc lớn việc nhỏ, anh đã thu xếp tạm yên cả rồi. Chưa yên hẳn, nhưng cũng đành vất bỏ hết. Việc đi khỏi Hà Nội trước hạn định cần hơn. Anh sẽ đến đợi em ở đầu phố tối hôm nay. Chúng mình sẽ cùng vào trong Nam”.

Phượng nói vắn gọn có thế. Bao nhiêu lần gặp trước, kể từ ngày có hiệp định chia đôi, anh và Thu đã bàn với nhau nhiều. Bàn đi bàn lại, nhưng vẫn chưa ngã ngũ ra sao cả. Vấn đề chỉ mới giải quyết xong về phần anh thôi. Trước sự lựa chọn một thái độ và trước những mưu toan xây dựng một cuộc sống tay đôi ở bên kia vĩ tuyến của hai con người cùng gắn bó đến những cái cao đẹp của đời sống, những gió bão của chiến thời ở đây lại có thêm những thảm trạng của đất nước bị chia rẽ. Sự ngăn chia đến cả từng cuộc đời. Đất nước ngăn cách làm hai miền, thì những cuộc đời cũng chia về hai phía. Như đêm và ngày. Bên này, bên kia. Biên giới oán thù dựng lên ở giữa.

Cho đến nay, Thu vẫn chưa quyết định. Thời hạn được ấn định cho di chuyển trong khu vực Hà Nội cứ vợi mãi trong phân vân lưỡng lự của người thiếu nữ. Phượng cũng hiểu cho người yêu. Anh khác, Thu khác. Cuộc sống mấy năm gần đây của anh trong Hà Nội cứ an định một chỗ, chỉ một ngụm gió nổi lên là cũng đủ đưa anh ra ngoài cửa ô. Di chuyển là một cần thiết cho đời sống của Phượng trong ngày cũ, bây giờ lại là một hành động của tự do. Cứu cánh của người Hà Nội hôm nay nằm trong sự thoát khỏi phố phường cũ.

Nhưng Thu, Thu chỉ là một người đàn bà. Vây quanh lấy đời Thu, Phượng cũng đoán thấy không biết cơ man nào là những sợi dây nối kết cuộc đời của Thu với Hà Nội. Như lúa với đất. Đi khỏi được, ít ra Thu cũng phải cắt đứt được bằng hết những sợi dây ấy. Chúng là những rễ lớn rễ con đã bám chặt lấy đời Thu từ tuổi thơ. Trên mái tóc suối chảy của người thiếu nữ, bóng dáng một mái nhà cổ kính đổ xuống. Những nếp nhăn trên trán người mẹ. Những sợi tóc bạc trắng của người cha. Đi thoát được mái nhà cũ, hành động của Thu sẽ là một hành động quyết liệt. Nó đòi hỏi nhiều đau khổ, nhiều mất mát. Lòng người vẫn phải rách nát vì những đau khổ, những mất mát ấy.

Phượng biết thế, nên người anh hùng cũng không giục giã người yêu. Mặt khác, anh muốn rằng trước thử thách này, Thu sẽ hành động, sẽ quyết định một mình. Như một con người tự do hành động và quyết định. Phượng vẫn thường có quan niệm rằng chính kiến của con người như một thứ hướng đi, tuỳ theo sự lựa chọn chân trời riêng. Đối với Phượng trái đất này có hàng triệu ngả đường thì con người cũng có hàng triệu hướng đi, trên đó đua nở những hoa cỏ cùng là rung động những tình cảm của người trước cuộc sống. Thảy đều mênh mộng, không bến bờ. Nhẹ thoáng như không khí. Bay múa như nắng.

Nếu không, thì trái đất không còn là trái đất nữa. Con người không còn là con người nữa.

Mấy ngày gần đây, Hà Nội của Phượng đã hết nắng. Hà Nội đã thiếu không khí, thiếu hơi thở. Bên kia tả ngạn Hồng Hà, bên này năm cửa ô, ngay trong nội tâm Hà Nội, những sự kiện mới mai đây sẽ về ngự trị trên Hà Nội đã như những tảng bóng tối mịt mùng dâng lên. Bóng núi bóng rừng chấp chới. Tim phổi người choáng váng, rức buốt. Những mạch đời ngừng nghỉ. Những màu sắc lộng lẫy nhất cũng nhạt tái lần lần.

Trên những sân ga, bến tàu, từ những trạm hẹn, những con người có sẵn thái độ như Phượng đã hướng vào chuyến đi. Những cuộc đời như đời Thu, rách nát vì mâu thuẫn, giờ phút này đang trải qua một cuộc tranh đấu quyết liệt với bản thân. Chúng là những miền còn tranh tối tranh sáng. Sau hết, là những người ở lại. Ở lại với Hà Nội. Vì hoàn cảnh vướng bận.

Chưa bao giờ Phượng lại cảm thấy Hà Nội chứa đựng nhiều khía cạnh, nhiều thời gian tính đến thế. Đứng trước cuộc đổi đời, Phượng va chạm với những con người đang lựa chọn để nắm lại trong dĩ vãng hay đi vào tương lai. Từ một bản hiệp định chia đôi, chói lên những phút giấy thử lửa. Thái độ của từng người phân định dần mãi. Như thế cũng hay. Lại hơn. Đằng nào cũng một lần.

Từ ngày Hà Nội thay đổi sắc thái, Phượng thấy cái việc giã từ Hà Nội của anh không đến nỗi sầu thảm như anh tưởng. Nhìn sang một lớp sự kiện còn nằm lại bên kia, đêm nay, Phượng, trong một cảm thông cụ thể, như đã sờ mó thấy trên đầu ngón tay cái lành khoẻ rộng lớn của một khối đời anh sẽ dựng lên sau chuyến đi. Dựng lên bằng niềm tin. Trong tập thể. Niềm tin này, riêng đêm nay, đã đốt cháy được hộ Phượng những sợi dây gắn bó với đời cũ. Với bên kia. Với Hà Nội. Theo anh, Hà Nội cũng không còn gì. Những người như anh lên đường đã mang theo Hà Nội vào chuyến đi.

Thanh toán cho xong được những chua xót lúc đầu, lòng người đi vậy là đã ổn định.

Duy có một vấn đề là Thu. Đối với Phượng, Thu đi hay Thu ở lại, việc ấy đã ra ngoài cái lãnh vực thường rất bé mọn của tình cảm. Anh yêu Thu, qua những rung cảm của tình yêu, còn có những nỗi niềm hết sức bao la, hết sức sâu nặng của con người anh gửi đến một người bạn cùng đường. Thêm Thu tập thể thêm đông, và đời Phượng cũng vui thêm trong xây dựng.

Chiều xuống dần. Hai người yên lặng bước đi. Buổi chiều cuối cùng ở lại Hà Nội, Phượng chỉ còn tìm thấy ở Thu một sự kiện lành mạnh gần gụi, khi mà tất cả những sự kiện khác đã sa đoạ, đã đổi màu.

Anh nhìn Thu: Mái tóc dài chảy xuống một bờ vai gầy. Hàng mi nghiêng nghiêng. Và con mắt sâu đen của Thu thì nhíu lại trong suy nghĩ. Phượng nhìn lâu lâu vào đôi mắt ấy, tận trong, đôi mắt u uẩn hình như đang thăm dò một ngả đường, trong đêm tối. Anh không biết Thu đang nghĩ ngợi gì. Nhưng anh đoán Thu đang đau khổ nhiều. Trong nội tâm người thiếu nữ cũng đang có những sự kiện vừa nằm xuống, vừa chìm lặn, cùng một lúc với những sự kiện đang đi lên, đang sinh thành. Bóng tối và ánh sáng chấp chới trên những mâu thuẫn chưa ổn định. Trong Thu đã có một ngả đường? Cháy một niềm tin? Đường mũi dài, đôi môi trang nghiêm của Thu in lên một nền nhờ xanh của sương mù, của buổi chiều. Bên kia, thấp thoáng những hàng cây, những mái nhà Hà Nội.

Một lát yên lặng. Phượng châm một điếu thuốc.

Thu nói với anh: “Em thì em cũng định đi rồi. Một phần vì Hà Nội. Cơ sự đã xảy ra thế này, cũng chẳng ở được nữa. Một phần vì em không muốn xa anh. Xa nhau, biết đến bao giờ mới gặp lại? Em sợ thay đổi lắm. Nhưng anh cũng biết, còn gia đình em đấy! Thầy me em già rồi. Me em đang đau nặng. Thầy em thì chỉ biết có lũ chậu hoa cây cảnh. Hồi này ông cụ chán đời cứ thở dài suốt ngày”.

Phượng hỏi Thu:

“Thầy me không bằng lòng cho Thu đi ư?”

“Không, thầy me em bằng lòng. Chính vì thế mà em phân vân. Anh hiểu cho em chứ?”

Phượng cúi đầu không nói gì. Hai người lại yên lặng bước đi. Phượng nhìn đồng hồ. 7 giờ 35.

Anh bảo bạn:

“Thôi, anh đưa Thu về. Đêm nay, trên đường tới trạm di chuyển, anh sẽ đi qua nhà em. Em về nhà nghĩ lại đi. Cố thu xếp xem có được không?”

Thu đáp, tiếng nói bé nhỏ:

“Vâng, em sẽ cố gắng thu xếp. Dù sao, anh cũng đến, anh nhé!”

Hai người chia tay. Và Phượng, đúng 11 giờ đêm, đã xách va ly đến đợi Thu ở đây, bên này đường. Bên kia là Hà Nội.

Đêm Hà Nội càng về khuya càng lạnh buốt. Mặt nhựa loáng ướt. Những ánh đèn lu xanh một màu xanh hoang vắng trong sương. Trước mắt Phượng con đường Trần Nhật Duật chạy dài, một đầu phố nhạt nhoà mất hút về phía chân cầu Long Biên. Vắt qua lòng sông Hồng, những ánh lửa nơi chân cầu đổ về một hướng Gia Lâm. Gia Lâm, Phượng nghĩ đến những vùng cỏ tối bên ấy, nơi phi trường. Lát nữa anh sẽ vượt Hồng Hà, tới phi trường và ở đó, anh sẽ giã từ Hà Nội.

Lòng Phượng lắng đọng lại trong suy tưởng, trong đợi chờ. Những ý nghĩ nhẹ thoáng nhất cũng đều có những sắc thái rất mênh mông. Nhãn giới Phượng bắt gặp những hình khối của Hà Nội đang ngược đường về trong dĩ vãng, và lòng Phượng thì đã thơm rồi, những nhành hoa của xây dựng trên luống đất tương lai. Ngày mai, anh đi khỏi, tập thể xa rồi, Hà Nội sẽ ra sao? Những con người ở lại Hà Nội sẽ ra sao? Trong đêm giã từ, ba mươi sáu phố phường đi dần vào những tầng lớp của ký ức. Nhìn Hà Nội, Phượng bỗng liên tưởng tới những thành phố khác của thế giới, của thời đại. Hán Thành, Bá Linh. Những thủ đô đổ nát vì chiến tranh, bây giờ lại chứa đựng những ấn tượng buồn thảm của chia cách, hờn oán. Bên này, bên kia. Giã từ Hà Nội. Những con người cúi đầu. Một khung cửa đen câm. Những ngả đường ngoại thành hoang vắng. Những hàng mái đau yếu. Thu, Thu của anh.

Đứng một mình trong đêm dài, trước một Hà Nội ngủ thiếp, Phượng nghĩ đến những người bạn đường đã vượt Hồng Hà, đã bỏ Hà Nội, bỏ đất Bắc trước anh, vượt vĩ tuyến về tiếp tục cuộc đấu tranh cho tự do, cho con người, trên phần đất nước còn lại. Anh biết rằng thời đại, trong ngày tới sẽ nối kết con người bằng một ý niệm một hệ thống tự do. Tâm trạng của Phượng đêm nay cũng là tâm trạng của một người thợ máy Đức, một người dân cầy Triều Tiên, đang ngày đêm vượt khỏi những vĩ tuyến tù đày để tìm một hướng đi, một chân trời có không khí và ánh sáng. Năng lực đấu tranh của con người nằm trong những cạnh khía bay múa ấy.

Cái ý nghĩ cuối cùng của Phượng, gửi đến Thu. Anh nhìn sang bên kia đường. Vẫn không thấy gì. Có lẽ Thu đã ở lại. Phượng nhìn đồng hồ: Chiếc kim dạ quang chỉ đúng mười hai giờ đêm. Phượng cúi xuống nhấc va ly, bước đi.

Sau lưng anh, bống có tiếng gọi nhỏ: “Anh!”.

Phượng quay lại. Đôi mắt anh sáng lên trong tối. Từ bên kia bờ đường, từ bên kia Hà Nội, một bóng người bé nhỏ đang vượt lòng đường đi sang anh. Thu. Bóng Thu xiêu xiêu vội vã. Một thoáng, Thu đã đứng bên cạnh anh. Đôi mắt Thu còn ngấn lệ. Phượng đỡ lấy va ly Thu.

Tiếng thu vang lên trong đêm Hà Nội:

“Em được đi rồi. Cả thầy me cũng đi nhưng đi sau.

Và kéo tay Phượng.

“Chúng mình đi đi thôi anh ạ!

Phượng mỉm cười nhìn Thu. Giọt nước mắt của người lên đường nhập vào hàng ngũ của tập thể, của di chuyển, Phượng biết là một giọt nước mắt của tin tưởng. Sự đấu tranh cho tự do khởi thuỷ ngay cả ở chỗ ấy, nơi con người phải đấu tranh quyết liệt với chính mình, chịu đựng những mất mát, lìa bỏ ruộng đất, phố phường, để đến những miền tự do. Sau Thu, rồi còn hàng ngàn người như Thu, cũng chiến thắng được hoàn cảnh, cũng sẽ lên đường. Để bảo vệ một niềm tin. Để bảo vệ con người. Tất cả, họ sẽ trở về.

Phượng đưa Thu đi. Những ánh đèn xanh biếc của Hà Nội nghiêng theo những bước chân bắt đầu dời khỏi Hà Nội.

Bóng Phượng, bóng Thu nhoà dần. Rồi mất hẳn. Họ đã đi vào Tương Lai.

Hà Nội – 100 ngày, sau Hiệp định Genève

Mai Thảo

© Copyright Mai Thảo


Share/Save/Bookmark
Related Posts with Thumbnails